Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trường Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát tỉnh Lào Cai - Pdf 51

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT XÁT,
TỈNH LÀO CAI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN HƯNG THỊNH

HÀ NỘI, NĂM 2018


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT XÁT,
TỈNH LÀO CAI

NGUYỄN HƯNG THỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 8440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. ĐỖ THỊ XUYẾN
2. PGS.TS. HOÀNG NGỌC KHẮC

HÀ NỘI, NĂM 2018

CỨU .............................................................................................................................. 20
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 20
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................. 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 20
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................... 29
3.1. Danh lục các loài thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai ...........
...................................................................................................................................... .29
3.2. Đa dạng hệ thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai ................. 31
3.2.1. Đa dạng về mức độ ngành .................................................................................. 31
3.2.2. Đa dạng ở mức độ họ ......................................................................................... 38
3.2.3. Đa dạng ở mức độ chi ........................................................................................ 39
3.2.4. Đa dạng về dạng sống của thực vật ................................................................... 41
3.2.5. Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật ................................................................ 46
3.2.6. Đa dạng về giá trị sử dụng ................................................................................. 50
3.2.7. Đa dạng về nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm ....................................................... 55


3.3. Nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên
thực vật tại Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai ............................................................. 60
3.3.1. Nguyên nhân gây suy giảm nguồn tài nguyên thực vật ...................................... 60
3.3.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực
nghiên cứu ..................................................................................................................... 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 70
PHẦN PHỤ LỤC


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày

tháng 10 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Hưng Thịnh


DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Bảng 2.1. Danh lục các loài thực vật ở Khu BTTN Bát Xát (Mẫu)
Bảng 3.1. Sự phân bố của các taxon trong các ngành của HTV Khu
BTTN Bát Xát
Bảng 3.2. So sánh tỷ lệ % số loài của HTV Khu BTTN Bát Xát với HTV
Việt Nam
Bảng 3.3. So sánh cấu trúc tỷ lệ % số loài của HTV Khu BTTN Bát Xát
với các HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc Phương, Khu
BTTN Văn Bàn
Bảng 3.4. So sánh số loài trên cùng một đơn vị diện tích giữa HTV Khu
BTTN Bát Xát với hệ thực vật của VQG Hoàng Liên, VQG
Cúc Phương và Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
Bảng 3.5. Sự phân bố của các taxon trong ngành Ngọc lan
Bảng 3.6. Các chỉ số đa dạng của từng ngành và cả hệ thực vật
Bảng 3.7. So sánh các chỉ số của HTV Khu BTTN Bát Xát với các chỉ số
của HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc Phương, Khu BTTN
Hoàng Liên – Văn Bàn
Bảng 3.8. Thống kê 10 họ đa dạng nhất trong hệ thực vật Khu BTTN Bát
Xát
Bảng 3.9. Thống kê các chi đa dạng nhất trong HTV Khu BTTN Bát Xát

38
40
42
43
45

47
50
54

55
57


DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình

Trang

Hình 1.1. Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN Bát Xát

14

Hình 3.1. Tỷ lệ số họ, chi, loài của từng ngành thực vật so với tổng số

30

Hình 3.2. Biểu đồ phổ so sánh cấu trúc tỷ lệ % số loài trong từng ngành

34

Cúc Phương, Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
Hình 3.9. Biểu đồ phổ các yếu tố địa lý cơ bản của các loài trong khu

48

HTV Khu BTTN Bát Xát
Hình 3.10. Biểu đồ các nhóm công dụng chính của khu hệ thực vật Khu

51

BTTN Bát Xát
Hình 3.11. Cây bị chặt phá để lấy gỗ tại xã Dền Sáng

62

Hình 3.12. Khai thác chuối hạt tại xã Y Tý

62

Hình 3.13. Cây thảo quả được người dân trồng xen kẽ dưới tán rừng tại

62

xã Dền Sáng
Hình 3.14. Cây thảo quả được người dân trồng xen kẽ dưới tán rừng tại
xã Dền sáng

62




Quản lí bảo vệ rừng

UBND

Uỷ ban nhân dân

VQG

Vườn quốc gia


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng vô cùng
phong phú và đa dạng. Do sự tác động của tự nhiên cũng như của con người đã làm
cho các hệ sinh thái này luôn luôn có sự biến đổi. Tài nguyên rừng không những cung
cấp cho con người nguồn thức ăn, nước uống, dược liệu,… mà còn có một vai trò đặc
biệt quan trọng hơn cả - đó là cung cấp nguồn Oxy vô tận cho con người và các loài
sinh vật có thể tồn tại đến ngày nay. Cùng với chức năng cung cấp lâm sản phục vụ
nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh sống và là nơi
lưu giữ các nguồn gen động, thực vật. Rừng có được những chức năng đó là nhờ có
tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái. Một hệ sinh thái bền vững phải đảm bảo tính ổn
định ở cấu trúc, trong đó yếu tố thực vật là rất quan trọng có vai trò quyết định đến sự
tồn vong của hệ sinh thái. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bị suy giảm, nguyên nhân chủ yếu là do
con người sử dụng nguồn tài nguyên rừng không hợp lý. Mất rừng đồng nghĩa với sự
thay đổi môi trường sinh thái và làm không ít các loài sinh vật đã và đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng.
Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng

Đa dạng về giá trị sử dụng, nguồn gen đặc hữu và quý hiếm.
3.3. Nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn nguồn tài
nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu.

2


Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
1.1. Quan điểm nhận thức về đa dạng sinh học
Ngày nay, yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), tài nguyên thiên nhiên và
môi trường là một vấn đề hàng đầu. ĐDSH không những có giá trị về mặt môi trường
sinh thái mà còn có giá trị về Văn hóa, Giáo dục, Thẩm mỹ... Chính vì vậy mà công
ước về bảo tồn ĐDSH đã được thông qua tại Đại hội thượng đỉnh Rio de Janeiro
(Braxin, 1992), đây là mốc đánh giá sự cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về
bảo tồn ĐDSH, đảm bảo việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật. Do mới
được quan tâm nên ĐDSH vẫn còn là một khái niệm rất mới và nghĩa khá rộng nên
được nhiều tập thể tác giả đề cập đến.
Cho đến nay thì có khá nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học. Tuy
nhiên, trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học
(1992) được coi là "toàn diện và đầy đủ nhất" xét về mặt khái niệm. Trong thực tế
thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 và sau khi Công ước
đa dạng sinh học được ký kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn. Theo
Công ước này, khái niệm đa dạng sinh học (biodiversity, biological diversity) là sự
phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trên trái đất, bao gồm sự đa dạng trong cùng
loài, giữa các loài và hệ sinh thái. Thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài
(đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh
thái) [1, 2].
Theo Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, 1990) đề xuất khái niệm ĐDSH
như sau: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật,
động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái

hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua hàm lượng
trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazo A+T/G+X. Trật tự các nucleotit trong các
gen có liên quan đến việc qui định các tính trạng và các đặc tính của cơ thể. Trong quá
trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trong các tế bào cũng
được tăng lên. Đó là một sự biểu hiện của đa dạng gen.
+ Đa dạng ở mức độ loài: Phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng các loài
hoặc số lượng các phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc
gia hay một sinh cảnh nhất định. Loài là một nhóm cá thể khác biệt với các nhóm cá
thể khác về mặt sinh học và sinh thái. Các cá thể trong loài có vật chất di truyền tương
tự nhau và có khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và
cho ra các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp tục). Như vậy, các cá thể
trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài. Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn
bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính
ĐDSH.

4


+ Đa dạng ở mức độ hệ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu quần
xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật trong một
sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong loài và giữa các
loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật lý tạo thành một hệ
sinh thái. Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng của sinh quyển bao gồm các quần
xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu. Các
thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu
trình sinh địa hóa). Cao hơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là
đa dạng các loại hình văn hóa dân tộc. Đây là một quan điểm mới được đề cập đến
mang tính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ nguyên nhân đạo đức, đó chính là
câu trả lời cho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH.[4]
Như vậy có thể nói: ĐDSH là cơ sở đảm bảo khép kín chu trình sinh-địa-hóa, tạo

sắp xếp thực vật vào các họ và đã mô tả gần 100 họ.
Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những
nghiên cứu về thực vật nói chung đạt được những thành tựu đáng kể. Theo hướng
nghiên cứu về phân loại thực vật phải kể tới các tác giả như: Bessey (1845-1915);
Hutchinson (1884-1972); Takhtajan (1910-2009); Engler (1844-1930), R. K. Brummitt
(1992), chuyên gia của Bảo tàng thực vật hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant
families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào
13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành là Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta,
Polypodiophyta, Gymnospermae và Angiospermae. Trong đó Angiospermae có
13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là Dicotyledoneae bao gồm 10.715 chi, 357
họ và Monocotyledoneae bao gồm 2.762 chi, 97 họ. V. H. Heywood (1996 và 2007)
đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250.000 loài.
Một số công trình tiêu biểu của một số nước lân cận với Việt Nam như Thực vật
chí Malaysia (1948-1972), Thực vật chí Thái Lan (1984-2011), Thực vật chí Ấn Độ
(1873-1890), Thực vật chí Hải Nam (1972-1977), Thực vật chí Vân Nam (1979-1997),
Thực vật chí Trung Quốc (1994-2009), Thực vật chí Hồng Kông (1993), Thực vật chí
Đài Loan (1989-1999),…
Nghiên cứu về phân loại dạng sống ở trên thế giới cũng có nhiều kiểu khác nhau.
Điển hình là cách phân loại, lập phổ dạng sống của Raunkiaer, 1934 (ghi theo Thái
Văn Trừng, 1999). Theo Raunkiaer dấu hiệu biểu thị để phân loại được chọn là vị trí
của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm. Hệ thống phân loại đó có thể
được trình bày tóm tắt như sau:
- Cây có chồi trên đất Ph (Phanérophytes)
+ Cây gỗ lớn chồi trên đất Meg (Mégaphanérophytes)
+ Cây gỗ vừa có chồi trên đất Mes (Mésophanérophytes)

6


+ Cây nhỏ có chồi trên đất Mi (Microphanérophytes)

1.3. Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở Việt Nam

7


Ngay từ thế kỷ 18, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật như
các công trình của Loureiro (1790), sang thế kỷ 19 có công trình của Pierre (1879 1907) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là
nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ Thực vật chí đại
cương Đông Dương do Lecomte (1907 - 1952) chủ biên. Trong công trình này, các tác
giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên
toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra 7004 loài thực vật bậc
cao có mạch. Tiếp theo phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do
Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 2001) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay
đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có
[5]. Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loài thực có ở 3 nước Đông Dương. Trên
cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000) đã
thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ. Trong đó, ngành Hạt
kín có 3366 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%). Ngành Dương xỉ và họ
hàng Dương xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ (14,5%). Ngành Hạt trần
39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%) [6].
Gần đây, đáng chú ý nhất phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ
(1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 2000) [7], hay bộ sách Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (2001 - 2005). Đây là
những bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa
học thực vật ở Việt Nam [8, 9, 10].
Bên cạnh đó một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan (Orchidaceae)
Đông Dương của Seidenfaden (1992), họ Lan (Orchidaceae) Việt Nam của Leonid V.
Averyanov (1994), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn
(1999), họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Bạc hà
(Lamiaceae) của Vũ Xuân Phương (2000), họ Đơn nem (Myrsinaceae) của Trần Thị
Kim Liên (2002), họ Cói (Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002), họ Trúc đào

1.5.1. Đặc điểm tự nhiên [11]
a. Vị trí, địa hình tự nhiên
Khu BTTN Bát Xát có diện tích 18.637 ha, nằm về phía Tây Bắc của huyện Bát
Xát, tỉnh Lào Cai, thuộc phần đầu của dãy núi Hoàng Liên Sơn, trên địa giới hành
chính của 5 xã: Y Tý, Dền Sáng, Sàng Mao Sáo, Trung Lèng Hồ và Nậm Pung thuộc
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Diện tích rừng là 15.285,05 ha, diện tích đất trống là
3.352 ha; bao gồm 20 tiểu khu: 65, 66, 69, 73, 81, 80, 88, 94, 100, 104, 106, 108, 113,
115, 117, 120, 121, 107, 118. Trong đó:
+ Diện tích đất rừng của xã Y Tý: 2.631 ha.
+ Diện tích đất rừng của xã Dền Sáng: 1.120,26 ha.
+ Diện tích đất rừng của xã Sàng Ma Sáo: 3.201 ha.
+ Diện tích đất rừng của xã Trung Lèng Hồ: 11.138,74 ha.
+ Diện tích đất rừng của xã Nậm Pung: 546 ha.
- Có tọa độ địa lý:
+ Từ 22 o 23' đến 22 o 37' vĩ độ Bắc
+ Từ 103 o 31' đến 103 o 43' kinh độ Đông.
- Phía Đông giáp phần đất còn lại của xã Trung Lèng Hồ, Sàng Ma Sáo, Dền
Sáng, Nậm Pung và xã Mường Hum (thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai).
- Phía Tây giáp xã Sín Súi Hồ (huyện Phong Thổ, Lai Châu), xã Hầu Thầu, Tả
Lèng (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) và Trung Quốc.

11


- Phía Nam giáp xã Bình Lư (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu).
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại của xã Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)

Hình 1.1. Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai

12

thấp từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, trên các đỉnh núi cao nhiều khi nhiệt độ xuống
dưới 00C và có tuyết rơi. Tổng tích ôn trong năm từ 7.500÷7.8000C.

13


- Chế độ mưa, ẩm: Lượng mưa bình quân năm là 2.819mm, cao nhất 3.838 mm
và phân bố không đều qua các tháng; số ngày mưa trung bình năm 199,4 ngày và diễn
biến không đều giữa các mùa. Mùa hè mưa nhiều chiếm tới 80÷85% tổng lượng mưa
cả năm, mùa đông lạnh có mưa nhỏ. Độ ẩm không khí tương đối bình quân hàng năm
từ 82÷87%, tháng thấp nhất 74%, cao nhất trong năm 95%.
- Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm 1.344 giờ, năm cao nhất lên đến
1.600 giờ. Số ngày nắng không đều giữa các tháng, mùa hè số giờ nắng nhiều, tháng 4
hàng năm nắng nhất khoảng từ 180÷200 giờ, tháng 10 là tháng nắng ít nhất khoảng từ
30÷40 giờ. Lượng bốc hơi nước trung bình năm là 865,5mm.
- Chế độ gió: Khu vực nghiên cứu có hai hướng gió chính và được phân bố theo
mùa, mùa hè có gió Tây và Tây Bắc, mùa đông có gió Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió
trung bình khoảng 1,1m/s.
- Sương mù, sương muối: Sương mù thường xuất hiện phổ biến trong năm, đặc
biệt vào mùa đông một số nơi có mức độ rất dày. Bình quân trong năm có khoảng 160
ngày có sương mù; trong năm bình quân có khoảng 6 ngày có sương muối, nhưng đôi
khi có đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, cao nhất tới 11 ngày.
- Tuyết, mưa đá: Tần suất xuất hiện mưa tuyết từ 2÷4 lần/năm, những ngày rét
đậm trong mùa đông, nhiệt độ xuống thấp trên các đỉnh cao > 2.500m thường có tuyết
phủ, đôi khi tuyết phủ xuống tới độ cao 1500m. Vào tháng 4, 5 thường có mưa đá,
bình quân trong năm từ 2÷4 lần/năm có mưa đá, đường kính hạt đá trung bình 1,0 cm
và gây nhiều thiệt hại cho rau, màu, hoa cảnh.
Các suối chính trong khu vực như: Lũng Pô, Sim San bắt nguồn từ phía Nam dãy
núi Nhìu Cồ San; suối Sín Chải bắt nguồn từ dãy núi Phan Cán Sử, Mò Phú Chải; suối
Lủng Pặc là nhánh nhỏ của suối Lũng Pô bắt nguồn từ dãy núi Ma Cheo Va; suối Tùng

có ít diện tích đồi và núi đá thì mật độ dân số rất cao (xã Y Tý 54,62 người/km2) và
ngược lại các xã có nhiều đồi núi thì mật độ dân số giảm nhiều (xã Trung Lèng Hồ
15,14 người/km2). Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm 2012 trong khu vực 05 xã là
1,82%, bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học.
- Lao động và cơ cấu lao động
Theo thống kê số người trong độ tuổi lao động trong 05 xã là 8.112 người, chiếm
tỷ lệ 55,1% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 50,82%, lao động nam chiếm
49,18%. Đây là tỉ lệ tương đối cao so với một số vùng khác, nguyên nhân do cơ cấu
dân số lứa tuổi trẻ chiếm tỉ lệ cao (trên 69% dân số là lứa tuổi dưới 35).
Về cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: Phần lớn lao động trong ngành nông
- lâm nghiệp chiếm 97,71%, còn lại lao động tham gia vào các ngành kinh tế khác
chiếm 2,29% so với tổng số lao động xã hội; số người trong độ tuổi đang lao động

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status