ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
"ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
MỌT NUÔI NẤM (MỌT AMBROSIA) GÂY HẠI CÁC LOÀI CÂY
THUỘC HỌ DẺ (FAGACEAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
HOÀNG LIÊN - VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Mã số
Người hướng dẫn khoa học :
: 60 62 60
PGS.TS. Phạm Quang Thu
Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
2
diệt và gây ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của loài Sồi
, Dẻ này,
Trong số các loài sâu bệnh hại đƣợc ghi nhận gần đây trên các loài Sồi , Dẻ
thì bệnh Nấm xanh (Blue – Stain) do một vector truyền bệnh là
một loài
mọt gỗ thuộc họ mọt gỗ Scoltydae . Bệnh này đã bƣớc đầu đƣợc ghi nhận
tại các tỉnh tập trung nhiều Dẻ là Lâm Đồng , Kon Tum, Gia Lai. Nhƣ vậy,
phạm vi xuất hiện của loài này trong tự nhiên đã đƣợc khẳng định , trải rộng
trên một vùng rộng của Miền Nam Việt Nam.
Các loài mọt nuôi nấm thƣờng gây chết cây do
Mọt mang theo các
loài nấm để gây cấy trong thân cây chủ để làm thức ăn. Các loài nấm đƣợc
Mọt gây cấy đã phát triển nhanh trên phần gỗ giác, làm biến màu gỗ và gây
tắc nghẽn các mạnh dẫn chất dinh dƣỡng nuôi cây làm cây bị héo và chết.
Bệnh có tốc độ lây lan nhanh do Mọt trƣởng thành vũ hóa từ những cây bị
chết, xâm nhiễm vào cây chủ khác và làm cây chết trong mùa sinh trƣởng
tiếp theo. Khi mật độ quần thể Mọt lớn, sự xâm nhiễn diễn ra với tốc độ
nhanh dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học . Trƣớc nhƣ̃ng đòi hỏi cấp thiết
của việc bảo tồn và gìn giữ tính đa dạng của loài thực vật, đặc biệt là các
loài cây thuộc họ Dẻ nghiên cứu về thành phần loài, xác định loài gây hại
chính và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài gây hại
chính và đề xuất biện pháp quản lý dịch hại là rất cần thiết, trên cơ sở đó
tôi mạnh dạn đề xuất đề tài nghiên cƣ́u thuộc chƣơng trì nh đào tạo
và của Antony Leeuwenhoek .
Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của Ray đã đƣợc Hội
hoàng gia Anh công bố [9]. Ông đƣợc coi là nhà côn trùng học đầu tiên về
hệ thông phân loại côn trùng. Nhƣng cách mô tả và phân loại còn hạn chế,
chƣa chi tiết và khó hiểu.
Carl von Linne tiếp bƣớc Ray xây dựng nền móng cho hệ thống phân
loại hiện đại về côn trùng. Ông đã phân chia chi tiết côn trùng thành các bộ,
giống, loài.
Sau thời kỳ của Linne, số lƣợng các công trình nghiên cứu về côn
trùng đƣợc phát triển bổ sung hoàn thiện nhƣng Côn trùng học vẫn chỉ là
một bộ phận của Động vật học chứ chƣa trở thành một lĩnh vực riêng.
Từ năm 1801 đến 1897 các công trình nghiên cứu về côn trùng trong
Lâm nghiệp và Nông nghiệp đƣợc xây dựng nhƣ của J.T.C. Ratzeburg và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
H.Nordlinge [9]. Cũng trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về
côn trùng phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc phát triển nhƣ: Đức, Mỹ, Canada,
Pháp...sau đó lan rộng sang các nƣớc trên toàn thế giới.
Ngày nay công trình nghiên cứu về côn trùng đã có những bƣớc tiến
vƣợt bậc, có trên 135 tạp trí chuyên khảo về côn trùng với các đội ngũ đông
đảo các nhà khoa học chuyên sâu [4]
1.1.2. Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng và các loài mọt
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn
trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông Lâm nghiệp. Các loài gây hại
không chỉ cho loài cây lá rộng, là kim mà cả các loại cây công nghiệp.
Trong số đó Mọt là những loài cánh cứng gây hại nhiều nhất, theo các nhà
sử dụng sợi nấm này làm thức ăn. Gỗ phát triển mạnh trong thân cây ở
phần gỗ giác làm gỗ bị biến màu và sợi nấm làm tắc các ống mạch dẫn
nƣớc làm cây chủ bị héo và chết. Khi cây chết Mọt cái trƣởng thành vũ hóa
và xâm nhiễm cây chủ khác. Đối với loài Mọt Platypus quercivoru có phổ
cây chủ rất rộng, gây hại các loài thuộc họ Dẻ sau: Castanea crenata,
Castanopsis cuspidata, Castanopsis sieboldii, Quercus acuta, Quercus
myrsinaefolia, Quercus serrata, Quercus mongolica, Quercus acutissima,
Quercus phillyraeoides, Quercus crispuloserrata, Quercus sessilifolia, Quercus
salicina, Lithocarpus glaber, Lithocarpus edulis (Erica E. et al., 2005).
Platypus quercivorus là loài Mọt gây hại rất nguy hiểm đới với rừng
tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Nhật Bản loài Mọt này
mang loài nấm Raffaelea quercivora đã làm chết 100.000 đến 200.000 cây
dẻ mỗi năm bắt đầu từ năm 1980. Loài cây bị tấn công nhiều nhất là 2 loài
Quercus serrata và Q. mongolica var. grosseserrata (Ito et al. 2003a, Ito et
al. 2003b).
Esaki và cộng sự (2005) điều tra lâm phần có các loài dẻ phân bố bị
Mọt Platypus quercivorus gây hại và có nhận định rằng loài Mọt này chỉ
gây hại những cây có đƣờng kính trên 15cm và chỉ gây hại ở độ cao của
thân dƣới 1,5m. Mọt không tấn công những cây có đƣờng kính nhỏ hơn
8cm. Khi đẽo vỏ cây ở xung quanh các lỗ Mọt thấy gỗ bị biến màu do sợi
nấm Mọt cấy làm thức ăn. Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cho thấy các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
loài dẻ mọc ở rừng lá rộng thƣờng xanh thì ít bị hại hơn so với các loài dẻ
mọc ở rừng lá rộng rụng lá.
1.1.3. Những nghiên cứu về chất dẫn dụ côn trùng và bẫy côn trùng
7
ông đã gọi chất thơm này là parahormon. Sau hàng loạt các tên gọi đƣợc
đƣa ra cho loại chất thơm kể trên đƣợc đông đảo các nhà khoa học thống
nhất gọi một cái tên là pheronmone [27]. Pheromone theo định nghĩa của
Peter Karlson và Martin Lüscher công bố vào năm 1959 là một chất đƣợc
tiết ra môi trƣờng bên ngoài từ một cá thể và đƣợc nhận biết ở một cá thể
thứ hai cùng loài. Sau nhiều công trình nghiên cứu các nhà khoa học đã
chứng minh rằng pheromone có thể đƣợc tiết ra từ các tuyến khác nhau của
cơ thể động vật chứ không phải chỉ đƣợc tiết ra ở một tuyến nhất định nhƣ
trƣớc đây ngƣời ta nghĩ vậy. Ở một số loài côn trùng, ngoài các pheromone
đƣợc tiết ra từ các tế bào biểu bì của lớp phôi ngoài còn có các pheromone
đƣợc tiết ra từ các tế bào tuyến biểu bì ở phần nếp gấp gian đốt cơ thể [27].
Theo tính chất tác động, pheromone đƣợc chia làm nhiều loại khác nhau
nhƣ: pheromone tập hợp (aggregation pheromones) chỉ tạo ra bởi một giới
trong cùng một chủng loài và chúng có tác dụng hấp dẫn đến cả hai giới;
pheromone báo động (alarm pheromones) một vài loài khi bị tấn công bởi
động vật ăn thịt, một vài loài tiết ra những hợp chất bay hơi để các thành
viên khác bay đi (nhƣ ở con rệp vừng) hoặc tụ lại (nhƣ ở ong). Ngoài ra
pheromone cũng tồn tại trong cây cỏ. Một số loại cây tỏa ra pheromone khi
chúng bị trầy xƣớc khiến những cây khác tăng hàm lƣợng tannin (có vị
đắng) trong cây khiến cho cây trở nên kém ngon miệng đối với động vật ăn
cỏ; pheromone đánh dấu lãnh địa (territorial pheromones), những loại
pheromone này đƣợc phóng thích vào trong môi trƣờng để đánh dấu biên
giới giữa những vùng lãnh thổ của động vật; pheromone đánh dấu lãnh địa
chỉ dùng cho con cái (epideictic pheromones), côn trùng cái dùng những
loại pheromone này đƣợc nhận dùng để đánh dấu lãnh địa của chúng và
nhận biết đƣợc bởi những con khác. Ông Fabre, nhà côn trùng học ngƣời
Pháp, trong nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã phát hiện ra những
con cái đẻ trứng trên trái cây cùng với những hợp chất huyền bí quanh tổ
dụng pheromone ở tất cả các bộ của côn trùng. Còn theo Wright (1960) cho
biết đã có trên 400 chất có tác dụng hấp dẫn đối với côn trùng tuy nhiên
không phải tất cả cá chất đó đều là Pheromone. Ngoài ra pheromone còn
đƣợc tìm thấy ở nhiều loài động vật khác nhƣ Giáp xác, Nhện, Cá, Rắn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
Sơn Dƣơng, Chuột… Mặc dù động vật có xƣơng sống có sử dụng
pheromone để trao đổi tín hiệu nhƣng côn trùng mới là kẻ sử dụng
pheromone một cách thiện nghệ nhất. Nhƣ pheromone của bọ Nhật bản và
bọ gypsy có thể dùng để điều khiển nhiều hành vi khác nhau nhƣ theo dõi,
kiểm soát số lƣợng qua việc kết đôi và đẻ trứng, tiết ra chất Bombykol để
hấp dẫn bạn tình. Tốc độ và khối lƣợng các công trình nghiên cứu về
pheromone ở côn trùng cũng nhƣ ở các nhóm động vật khác ngày càng
đƣợc quan tâm nhiều hơn chỉ tính riêng nhóm nghiên cứu của giáo sƣ
Kuwahara ở trƣờng Đại học tổng hợp Kyoto Nhật Bản trong vòng 31
năm (1967-1998) đã có 250 công trình liên quan đến Pheromone đƣợc
công bố [27]. Nhƣ vậy có thể nói pheromone đã trở thành chủ đề hấp
dẫn cho các nhà nghiên cứu trên thế giới, nó đã trở thành dòng suy nghĩ
mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Sau những quá trình nghiên cứu về pheromone con ngƣời đã tìm ra
đƣợc bản chất của loại hợp chất này và bắt đầu sản xuất các dạng
pheromone nhân tạo khác nhau để ứng dụng vào công tác phòng trừ sâu hại
của một số tác giả: Burkholder (1979); Levinson (1979); Hodges (1984) và
một tác giả khác. Cũng đã có một số phƣơng pháp phòng trừ các loài sâu
hại nhƣ: sử dụng các loại bẫy đèn, bẫy hố, mồi nhử và cả sử dụng thuốc trừ
sâu đã diễn ra khá phổ biến trƣớc đây, tuy nhiên hiệu quả phòng trừ của
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....