điều tra thành phần loài và đặc điểm sinh học mọt nuôi nấm (mọt ambrosia) gây hại cho các loài cây họ dẻ (fagaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên hoàng liên, tỉnh lào cai - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ĐÌNH THẮNG

"ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
MỌT NUÔI NẤM (MỌT AMBROSIA) GÂY HẠI CÁC LOÀI CÂY
THUỘC HỌ DẺ (FAGACEAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
HOÀNG LIÊN - VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Mã số : 60 62 60

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Phạm Quang Thu


tự nhiên của nhiều loài họ Dẻ (Fagaceae), trong đó có loài có tên trong sách
đỏ của thế giới nhƣ loài Dẻ lá rụng. Các loài Sồi, Dẻ này chủ yếu thuộc chi
Castanopsis họ Dẻ (Fagaceae), mọc thành quần thụ, có nơi mọc tập trung
với mật độ cao và trở thành ƣu hợp Sồi, Dẻ. Tuy nhiên cùng với sự phát
triển của loài và tính đa dạng sinh học của nó thì đi theo nó là sự tồn tại và
phát triển của rất nhiều các loài sâu bệnh hại nguy hiể m, có nguy cơ tiêu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
diệt và gây ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của loài Sồi , Dẻ này,
Trong số cá c loà i sâu bệ nh hạ i đƣợ c ghi nhậ n gầ n đây trên cá c loà i Sồi , Dẻ
thì bệnh Nấm xanh (Blue – Stain) do mộ t vector truyề n bệ nh là mộ t loà i
mọt g thuộc họ mọt g Scoltydae . Bệ nh nà y đã bƣớ c đầ u đƣợ c ghi nhậ n
tại các tnh tập trung nhiều Dẻ là Lâm Đồng , Kon Tum, Gia Lai. Nhƣ vậ y,
phạm vi xuất hiện của loài này trong tự nhiên đã đƣợc khẳng định , trải rộng
trên mộ t vù ng rộ ng củ a Miề n Nam Việ t Nam.
Các loài mọt nuôi nấm thƣờng gây chết cây do Mọt mang theo các
loài nấm để gây cấy trong thân cây chủ để làm thức ăn. Các loài nấm đƣợc
Mọt gây cấy đã phát triển nhanh trên phần g giác, làm biến màu g và gây
tắc nghẽn các mạnh dẫn chất dinh dƣỡng nuôi cây làm cây bị héo và chết.
Bệnh có tốc độ lây lan nhanh do Mọt trƣởng thành vũ hóa từ những cây bị
chết, xâm nhiễm vào cây chủ khác và làm cây chết trong mùa sinh trƣởng
tiếp theo. Khi mật độ quần thể Mọt lớn, sự xâm nhiễn diễn ra với tốc độ
nhanh dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học . Trƣớ c nhƣ̃ ng đò i hỏ i cấ p thiế t
của việc bảo tồn và gìn giữ tính đa dạng của loài thực vật, đặc biệt là các
loài cây thuộc họ Dẻ nghiên cứu về thành phần loài, xác định loài gây hại
chính và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài gây hại
chính và đề xuất biện pháp quản lý dịch hại là rất cần thiết, trên cơ sở đó
tôi mạ nh dạ n đề xuấ t đề tà i nghiên cƣ́ u thuộ c chƣơng trì nh đà o tạ o Thạc sỹ
của mình là : "Điều tra thành phần loài và đặc điểm sinh họ c mọ t nuôi

Sau thời kỳ của Linne, số lƣợng các công trình nghiên cứu về côn
trùng đƣợc phát triển bổ sung hoàn thiện nhƣng Côn trùng học vẫn ch là
một bộ phận của Động vật học chứ chƣa trở thành một lĩnh vực riêng.
Từ năm 1801 đến 1897 các công trình nghiên cứu về côn trùng trong
Lâm nghiệp và Nông nghiệp đƣợc xây dựng nhƣ của J.T.C. Ratzeburg và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
H.Nordlinge [9]. Cũng trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về
côn trùng phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc phát triển nhƣ: Đức, Mỹ, Canada,
Pháp sau đó lan rộng sang các nƣớc trên toàn thế giới.
Ngày nay công trình nghiên cứu về côn trùng đã có những bƣớc tiến
vƣợt bậc, có trên 135 tạp trí chuyên khảo về côn trùng với các đội ngũ đông
đảo các nhà khoa học chuyên sâu [4]
1.1.2. Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng và các loài mọ t
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn
trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông Lâm nghiệp. Các loài gây hại
không ch cho loài cây lá rộng, là kim mà cả các loại cây công nghiệp.
Trong số đó Mọt là những loài cánh cứng gây hại nhiều nhất, theo các nhà
Khoa học trên thế giới đã xác định rất nhiều loài Mọt hại vỏ cây sống làm
ảnh hƣởng đến sự phát triển của cây, thậm trí còn làm trên cây và gây ra
thành dịch trong đó có 06 loài chủ yếu nhƣ: Ips calligraphus Germar, Ips
grandicollis Eichhoff, Ips avulsus Eichhoff, Dendroctonus frontalis
Zimmerman, Dendroctonus terebrans Olivier và Dendroctonus pondesae
Hopkins (Albert E.M, 2005; Clyde S.G, 1999; Hiratsuka Y và cộng sự,
2004; Jame R.M và cộng sự, 2000; Jeffrey M.E và Albert E.M, 2006;
Micheal D.C và Robert C.W, 1983). Từ năm 1973 đến 1979 có 03 loài Mọt
thuộc chi Ips gây hại hơn 3 triệ u m
3
g Thông ở miền Nam nƣớc Mỹ. Sự

dẻ mi năm bắt đầu từ năm 1980. Loài cây bị tấn công nhiều nhất là 2 loài
Quercus serrata và Q. mongolica var. grosseserrata (Ito et al. 2003a, Ito et
al. 2003b).
Esaki và cộng sự (2005) điều tra lâm phần có các loài dẻ phân bố bị
Mọt Platypus quercivorus gây hại và có nhận định rằng loài Mọt này ch
gây hại những cây có đƣờng kính trên 15cm và ch gây hại ở độ cao của
thân dƣới 1,5m. Mọt không tấn công những cây có đƣờng kính nhỏ hơn
8cm. Khi đẽo vỏ cây ở xung quanh các l Mọt thấy g bị biến màu do sợi
nấm Mọt cấy làm thức ăn. Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cho thấy các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
loài dẻ mọc ở rừng lá rộng thƣờng xanh thì ít bị hại hơn so với các loài dẻ
mọc ở rừng lá rộng rụng lá.
1.1.3. Những nghiên cứu về chất dẫn dụ côn trùng và bẫy côn trùng
bằng chất dẫn dụ
Đầu thế kỷ XX, các nhà côn trùng học đã tiến hành các thí nghiệm
nghiên cứu trên một số đối tƣợng côn trùng nhằm đƣa ra cơ sở khoa học để
giải thích cho hiện tƣợng vận động của côn trùng dƣới ảnh hƣởng của các
yếu tố hoá học. Barrows (1907) đã mô tả tập tích của ruồi Dropsophila
melanogaster Mg dƣới tác động của chất hấp dẫn [27]. Những nghiên cứu
của Kellog (1907) về phản ứng của ngài đực Bombyx mori L đối với mùi
thơm hấp dẫn của con cái [27]. Đến năm 1909 Freiling đã tiến hành nghiên
cứu phản ứng trên hai con đực ở hai giống Danais và Euploea
(Lepidoptera) với mùi thơm hấp dẫn từ con cái. Một thời gian sau đó việc
nghiên cứu này lại bị gián đoạn cho mãi đến năm 1932 khi Bethe tìm hiểu
về đặc tính sinh hoá học của các chất thơm gây ra hiện tƣợng hấp dẫn và
xua đuổi ở một số côn trùng cánh cứng và đã gọi các chất này với tên
ektohormon [27], tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu của Kaltofen
(1951), Hass (1952), Kalmus (1955), Kohler (1955) tiến hành trên ong mật

pheromone cũng tồn tại trong cây cỏ. Một số loại cây tỏa ra pheromone khi
chúng bị trầy xƣớc khiến những cây khác tăng hàm lƣợng tannin (có vị
đắng) trong cây khiến cho cây trở nên kém ngon miệng đối với động vật ăn
cỏ; pheromone đánh dấu lãnh địa (territorial pheromones), những loại
pheromone này đƣợc phóng thích vào trong môi trƣờng để đánh dấu biên
giới giữa những vùng lãnh thổ của động vật; pheromone đánh dấu lãnh địa
ch dùng cho con cái (epideictic pheromones), côn trùng cái dùng những
loại pheromone này đƣợc nhận dùng để đánh dấu lãnh địa của chúng và
nhận biết đƣợc bởi những con khác. Ông Fabre, nhà côn trùng học ngƣời
Pháp, trong nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã phát hiện ra những
con cái đẻ trứng trên trái cây cùng với những hợp chất huyền bí quanh tổ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
của chúng để gửi tín hiệu đến những con cái khác cùng loài để chúng khác
phải làm tổ ở nơi nào đó khác; pheromones dẫn dụ (releaser pheromones)
đây là những hợp chất hấp dẫn cực mạnh mà một vài loài dùng để hấp dẫn
bạn tình trong khoảng cách hai dặm hoặc xa hơn. Loại pheromone này
đƣợc đáp trả nhanh chóng nhƣng rất mau suy giảm. Trái lại những
pheromone theo mùa (primer pheromone) có tác dụng chậm hơn nhƣng lại
lâu hơn rất nhiều; pheromone báo hiệu mùa (primer pheromones) đây là
loại pheromone gây ra sự thay đổi của những giai đoạn phát triển của động
vật; pheromone dẫn đƣờng (trail pheromones) loại này rất phổ biến trong
hoạt động xã hội của côn trùng; pheromne sinh dục (sex pheromones) ở
động vật, pheromone sinh dục thể hiện con cái đã đến lúc sẵn sàng cho việc
sinh sản. Những con đực cũng tiết ra pheromones để truyền tải thông tin về
chủng loài và loại gien. Nhiều loại côn trùng có thể tiết ra pheromone sinh
dục có sức hấp dẫn bạn tình. Các loài thuộc bộ Lepidoptera có thể phát hiện
ra con cái ở cách xa đến 10 km. Ở loài lƣỡng tính, pheromone đƣợc dùng
để dẫn dụ con khác giới đến để thụ tinh. Các loại pheromone khác chƣa

pheromone nhân tạo khác nhau để ứng dụng vào công tác phòng trừ sâu hại
của một số tác giả: Burkholder (1979); Levinson (1979); Hodges (1984) và
một tác giả khác. Cũng đã có một số phƣơng pháp phòng trừ các loài sâu
hại nhƣ: sử dụng các loại bẫy đèn, bẫy hố, mồi nhử và cả sử dụng thuốc trừ
sâu đã diễn ra khá phổ biến trƣớc đây, tuy nhiên hiệu quả phòng trừ của
chúng chƣa cao mà còn ảnh hƣởng đến các sinh vật khác và môi trƣờng
xung quanh. Trong những năm gần đây con ngƣời đã nghiên cứu chi tiết
hơn về pheromone của một số loài sâu hại thì việc phát triển ứng dụng các
loại bẫy đơn giản với mồi nhử pheromone nhân tạo để hấp dẫn các loài này
đã giúp chúng ta xây dựng đƣợc nhiều loại chất dẫn liệu sinh học quan
trọng trong việc phòng trừ có hiệu quả, hạn chế tối thiểu việc sử dụng thuốc
trừ sâu, ngăn ngừa kịp thời sự xâm nhiễm và nguy cơ gây hại của các loài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
sâu hại. Burkholder (1974) đã rất lạc quan phát biểu rằng pheromon là một
phƣơng tiện đầy quyền lực góp phần rất hiệu quả trong việc chế ngự côn
trùng gây hại đồng thời cũng dự báo là pheromon sẽ sớm đƣợc áp dụng
rộng rãi ở các nƣớc nghèo với giá thành hạ và sẽ mở ra một tƣơng lai sáng
lạn cho việc phát hiện và giám sát những loài côn trùng gây hại quan trọng
[14]. Đến năm 1984 thì Hodges đã đƣa ra quan điểm cần sử dụng
pheromone và các chất hấp dẫn để tập trung khi xử lý phƣơng pháp gây
bệnh hoặc xử lý thuốc trừ sâu. Điều này đã đƣợc chứng minh tính hiệu quả
trong việc sử dụng bẫy pheromone gồm cả mồi pheromone với diclofos
trong kho bột mì ở Châu Âu. Trên thế giới nhiều nƣớc đã sử dụng bẫy
pheromone trong việc giám sát quần thể sâu hại, các pheromone nhân tạo
đã đƣợc sản xuất ở nhiều nƣớc nhƣ Rumani, Bulgarie, Đức, Mĩ….[27] Tại
một số nƣớc công nghiệp phát triển ngƣời ta đã xem các loại bẫy
pheromone côn trùng nhƣ một loại hàng hóa bình thƣờng khác. Trong gần
50 năm trở lại đây với tốc độ phát triển nhanh chóng của các ngành khoa

(2006) đã xác định đƣợc nguyên nhân cây Đƣớc chết là do sâu đục thân
thuộc họ Cossidae bộ cánh vẩy Lepidoptera gây ra; Lê Văn Bình, Đặng
Thanh Tân và Phạm Quang Thu (2006) đã xác định đƣợc 02 hai bọ xít là
Bọ xít đùi gai to (Notobitus meleagris) và Bọ xít đùi gai nhỏ (Notobitus sp.)
hại măng Luồng ở Thanh Hoá. Và còn rất nhiều các công trình khác đã
đƣợc công bố trên tạp trí trong lĩnh vực nghiên cứu Lâm nghiệp và của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thông.
Gần đây, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh - Trần Văn Mão (2001)
[6] đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh trong lâm
nghiệp”. Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại
rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau. Điều tra là cơ sở của dự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết
quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy. Dự tính, dự báo là cơ sở của việc
phòng trừ sâu bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và
vi sinh vật có ích.
Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh đã xuất bản cuốn “Sử
dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập I” [8]. Đây là tài liệu đƣợc nghiên
cứu và biên soạn công phu giúp cho những ngƣời làm công tác quản lý tài
nguyên rừng có cơ sở khoa học để đƣa ra các giải pháp thích hợp trong việc
phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo nguyên lý của quản lý sâu bệnh hại tổng
hợp IPM, lợi dụng đƣợc sự khống chế tự nhiên của các loài côn trùng là
thiên địch của sâu hại rừng, giữ gìn sự cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn
cho môi trƣờng.
1.2.2. Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng và các loài Mọt
Ở Việt Nam đã đƣợc nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 cho đế n trƣớ c
năm 1945. Lesne phá t hiệ n nhiề u loà i trong họ mọ t có ở Việ t Nam . Trong
thờ i gian 1985 – 1938 tác giả đã ghi nhận ở Việt Nam có 15 giố ng và 34

(2008) cũng đã mô tả đƣợc hình thái loài Xén tóc đục thân Bạch đàn ở Gia
Lai; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc
điểm sinh học tập tính của loài Xén tóc Trirachys bilobulartus và cách nhận
biết cây Đƣớc bị loài này gây hại; Phạm Quang Thu và Lê Văn Bình
(2010), đã mô tả đƣợc đặc điểm của Xén tóc đen vân ánh bạc đục thân
Xoan ta (Melia azedazach) là loài (Aeolesthes holosericea) thuộc giống
Aeolesthes; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), bằng việc sử dụng
phƣơng pháp bẫy pheromone thu đƣợc và mô tả 12 loài côn trùng thuộc 7
họ khác nhau trong bộ cánh cứng ở khu vực Đại Lải –Vĩnh Phúc [13]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về côn trùng nói chung và
côn trùng thuộc Bộ cánh cứng nói riêng cho đến nay còn ít ch mang tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
chất điều tra cơ bản, nhỏ lẻ, tập trung nhiều về cây nông nghiệp, cây
công nghiệp, còn nghiên cứu côn trùng trên công Lâm nghiệp vẫn chƣa
đƣợc quan tâm nhiều và các nhà nghiên cứu của Việt Nam về lĩnh vực
còn hạn chế.
Riêng đố i vớ i cá c nghiên cƣ́ u về loà i mọ t Ambrosia rấ t hạ n chế . Năm
1993 Lê Văn Nông đã ti ến hành nghiên cứu thành phần và các loại mọt g
chân dà i Platypocidae ở miề n Bắ c Việ t Nam [8]. Các kết quả nghiên cứu
cho thấ y thà nh phầ n mọ t gỗ chân dà i ở miề n Bắ c Việ t Nam gồ m có 5
giố ng, 25 loài, trong đó tì m ra đƣợ c 13 loài mới cho Bắc Việt Nam và 4
loài mới cho thế giới . Đặc biệt là đã phát hiện ra hiện tƣợng sâu non của
mọt không trực tiếp tiêu hóa g mà sử dụng thức ăn là nấm ambrosia do
mọt trƣởng thành cấy vào hang mới khi xâm nhậ p cây mớ i, vì thế còn đƣợc
gọi là Mọt Ambrosia.
Trong công trì nh nghiên cƣ́ u về Côn trù ng hạ i gỗ và biệ n phá p phò ng
trƣ̀ năm 1999 [9], Lê Văn Nông đã có nghiên cƣ́ u sâu hơn về cá c họ mọ t gỗ
khác. Ông khẳ ng đị nh họ Platypoci dae và họ Scolytidae đƣợ c xế p và o

1.2.3. Nghiên cứu về chất dẫn dụ và bẫy côn trùng bằng chất dẫn dụ
Ở nƣớc ta việc nghiên cứu pheromone bắt đầu từ những năm đầu
thập niên 70 của thế kỷ trƣớc trên đối tƣợng là Mọt (Trogoderma
granarium Everts) và bọ cánh cứng (Blaps mucronata Latr) [1]. Cũng trong
khoảng thời gian này cũng có một số cán bộ của viện Hóa công nghiệp đã
nghiên cứu thử nghiệm chất Methyleugenol làm chất hấp dẫn Ruồi hại cam
(Dacus dosalis) tuy nhiên chất này không phải là một Pheromone. Nƣớc ta

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
có rất ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, kết quả nghiên cứu của một
số tác giả mới ch dừng lại ở việc chứng minh sự tồn tại và sự tác động của
pheromone trong đời sống động vật chứ chƣa có nhiều nghiên cứu về mặt
lý luận khoa học và thực tiễn. Từ năm 1980 trở lại đây việc nghiên cứu
pheromone ở nƣớc ta có nhiều chuyển biến hơn, cũng có một phần nhỏ nói
về pheromone côn trùng. Với điều kiện Khoa học kỹ thuật hiện nay của
nƣớc ta thì việc nghiên cứu đầy đủ quy luật tác động cũng nhƣ vai trò của
pheromone đối với đời sống động vật nói chung, trong đời sống côn trùng
không còn là vấn đề quá khó khăn nữa nên chúng ta có thể tin trong tƣơng
lai không xa những nghiên cứu về pheromone của các nhà khoa học nƣớc
ta sẽ mang lai nhiều thành công mở ra nhiều triển vọng mới cho ngành côn
trùng học ứng dụng.
Từ những năm 1980 trở lại đây Cục Bảo vệ Thực vật và Viện Bảo vệ
Thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tiến hành sử
dụng một số loại bẫy chất pheromone nhập khẩu từ nƣớc ngoài đối với côn
trùng gây hại ngoài đồng ruộng và trong kho. Có khoảng hơn 20 loại bẫy
chất pheromone đƣợc nƣớc ta nhập khẩu về phòng trừ côn trùng gây hại
trong kho. Nhƣ các loại thƣơng phẩm: TDA; HAD; Stegobinon; Truncall 1;
Truncall 2;…[3].Từ năm 2001 đến nay Viện Bảo Vệ Thực Vật đang hợp
tác với các chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu áp dụng pheromone vào


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU- NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định đƣợc thành phần loài , đặc điểm hình thái và một số đặ c
điể m sinh họ c , sinh thá i họ c củ a các loài Mọt hại các loài cây thuộc họ Dẻ
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn - Lào Cai.
- Đề xuấ t đƣợ c giả i phá p tổ ng hợ p quản lý dịch hại có hiệ u quả và
góp phần đảm bảo phát triển bền vững rừng tự nhiên Khu bảo tồn thiên
nhiên Hoàng Liên - Văn bàn - Lào Cai.
2.2. ĐI TƢỢ NG VÀ PHẠ M VI NGHIÊN CƢ́ U
2.2.1. Đi tƣợng nghiên cứu
Loài Mọt Ambrosia (Platypus quercivorius Murayama) mang nấm
xanh (Blue stain) gây hại các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae).
Đề xuấ t mộ t số giả i phá p tổ ng hợ p quả n lý dị ch hạ i có hiệ u quả và
góp phầ n đả m bả o phá t triể n bề n vƣ̃ ng rƣ̀ ng tƣ̣ nhiên khu bả o tồ n thiên
nhiên Hoà ng Liên – Văn Bà n.
2.2.2. Phm vi nghiên cứu
Nghiên cƣ́ u t hành phần loài Mọt (Platypus quercivorius Murayama)
mang nấm xanh (Blue stain) gây hại các loài cây thuộc họ Dẻ tại Khu bảo
tồn Hoàng Liên - Văn Bàn.
Nghiên cƣ́ u một số đặc điểm sinh học và đặc điểm gây hại của loài
Mọt Platypus quercivorius Murayama.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
*/ Đị a điể m nghiên cứ u.

Hnh 2.1: Cách xác định tên các loài cây họ Dẻ
Kết quả điều tra đƣợc tổng hợp từ 36 OTC, tại khu vực 4 xã Liêm
Phú, Nậm Xây, Nậm Xé và xã vùng đệm Minh Lƣơng của khu Bảo tồn
Thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, điề u tra đƣợ c 729 cây thuộ c họ Dẻ , qua
đặ c điể m hình thá i cá ch nhậ n biế t đã xá c đị nh đƣợc 32 loài cây họ Dẻ , xây
dƣ̣ ng thà nh danh m ục các loài cây chủ bị gây hại đƣợc thể hiện ở bảng 2.1.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Bảng 2.1: Danh mục các loài cây nghiên cƣ́ u
TT
Loài cây gây hi
Tên khoa học
Ghi
ch
1
Sồi lá mác

Lithocarpus balansae
(
Drake) A. Camus.

2
Dẻ gai Ấn độ
Castanopsis indica (Roxb.) A. DC.

3
Dẻ gai đỏ
Castanopsis hystrix.


Lithocarpus hemisphaericus (Drake)

12
Dẻ trắng
Lithocarpus pachicarpus Camus

13
Dẻ cau
Quercus acutissima Carruth.

14
Sồi lông bạc
Quercus aff. blakei Skan

15
Dẻ đấu kín
Quercus sp. nov.

16
Sồi quả dt
Quercus helferiana A. DC.

17
Dẻ sờn thô
C. pachyrrachis Hickel et A. Camus

18
Dẻ fan-si-pan
C. phansipanensis A. Camus


L. longipetiolata (Hickel et A. Camus) A.

27
Dẻ xanh, sồi lông
L. pseudosundaicus (Hickel et A. Camus)

28
Dẻ cụt
L. truncata Hickel et A. Camus

29
Sồi vòng
Quercus annulata Wall.

30
Sồi lá tre
Q. bambusifolia Hance

31
Sồi xanh trắng
Q. glauca Thunb.

32
Sồi răng nhọn
Q. oxyodon Miq. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
Chỉ s bệnh: đƣợc tính cho các loài cây đƣợc nghiên cứu. Việc xác

(3). Kéo để cắt mẫu.
(4). Kp gắp mẫu.
(5). Dung dịch cồn 70-90
0
.
(6). Túi ni lông, lọ nhựa có nắp (lƣu giữ mẫu).
(7). Bút lông đánh số mẫu.
(8). Biểu theo dõi mẫu.
(9). Sổ ghi chép.
Trong các OTC quá trình điều tra đã cho thấy các cây đƣợc chọn để
điều tra đã có dấu hiệu bị sâm hại và đang bị xâm hại nghiêm trọng trên
các loài cây khác nhau, ở nhiều khu vực đang điều tra (Hình 2.2).

Hình 2.2: Các cây bị xâm hi trong khu vực điều tra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
Các cây đƣợc điều tra phát hiện dấu hiệu bị xâm hại do Mọt gây nên
sẽ đƣợc chọn lựa, cắt hạ xuống đánh số thứ tự, địa điểm, ngày, tháng tiến
hành cắt hạ, rồi đƣợc mang về tiến hành điều tra thành phần loài đang xâm
hại trong đó (Hình 2.3).

Hình 2.3: Cắt h các cây bị xâm hi để nghiên cứu
Sau khi mẫ u đƣợ c thu về , chúng ta tiến hành cắt ngắn các khúc g bị
sâm hạ i thà nh tƣ̀ ng đoạ n tƣ̀ 05 – 15cm tù y theo sƣ̣ sâm hạ i suấ t hiệ n trên
các khúc g để thuận tiện cho việc thu mẫ u, g đƣợc cắt ngắn sẽ đƣợc đánh
số thứ tự theo loài cây thu đƣợc (Hình 2.4).

Trích đoạn Văn hóa giáo dục Mọt Platypus quercivorius Murayama Đặc điểm sinh học của loài Mọt Platypus quercivorius Murayama Đặc điểm gây hại theo khu vực điều tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status