ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN BÁ GIANG
“NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI LÂM SẢN NGOÀI GỖ
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ -
SƠN ĐỘNG BẮC GIANG”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2014
Người viết cam đoan
Nguyễn Bá Giang
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 20, giai đoạn 2013 - 2015.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại Học
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như các đồng chí cán bộ đang làm
việc, người dân sống tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử Bắc Giang. Nhân
dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Đàm Văn
Vinh và Th.s Lê Văn Phúc - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn
tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức qúy báu và dành những tình cảm tốt
đẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian
thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và
người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học
tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2014
i dung nghiên c u 31
2.4. Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 32
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 32
2.4.3. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 34
iv
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Tính đa dạng và hiện trạng phân bố nguồn LSNG trong khu vực nghiên
cứu 36
3.1.1. Xác định tính đa dạng nguồn LSNG tại khu vực nghiên cứu 36
3.1.1.1. Đa dạng về loài/ dưới loài 36
3.1.2. Hiện trạng phân bố một số loài LSNG trong tự nhiên 46
3.2. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn LSNG 47
3.3. Thực trạng gây trồng và kiến thức bản địa của người dân trong gây trồng
một số loại LSNG 52
3.3.1 Thực trạng gây trồng một số loại LSNG trong khu vực nghiên cứu . 52
3.3.2. Nh ng kiến thức, kinh nghiệm gây trồng một số loại LSNG 56
3.4. Các nhân tố ảnh hưởng của người dân đến nguồn LSNG tại khu vực
nghiên cứu 58
3.4.1. Độ tuổi lao động có tác động đến tài nguyên LSNG của Khu bảo tồn
58
3.4.2. Hoạt động khai thác củi đun 59
3.4.3. Tình hình khai thác và sử dụng rau ăn 60
3.4.4. Thu hái cây làm thuốc 61
3.5. Các giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn Lâm sản ngoài gỗ 62
3.5.1. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 63
3.5.2. Giải pháp về kỹ thuật khai thác và sử dụng LSNG 63
3.5.3. Giải pháp về kỹ thuật gây trồng 64
KẾT LUẬN VÀ TỒN TẠI 65
Bảng 1.1. Thống kê dân số và thành phần dân tộc các xã có Khu bảo tồn 26
Bảng 1.2. Thống kê lao động theo khối trong 5 xã có KBTTN 27
Bảng 3.1: Số lượng loài, chi, họ thực vật LSNG tại khu vực điều tra 36
Bảng 3.2. Những họ thực vật có số loài LSNG nhiều nhất trong khu vực 37
Bảng 3.3: Bảng phân nhóm thực vật LSNG trong khu vực theo dạng sống 38
Bảng 3.4: Bảng phân nhóm thực vật LSNG theo mục đích sử dụng 41
Bảng 3.5: Những thực vật LSNG có giá trị kinh tế trong khu vực 49
Bảng 3.6. Các loài cây LSNG chủ yếu được gây trồng trong khu vực 53
Bảng 3.7. Một số LSNG đại diện được gây trồng, chăm sóc,bảo quản 54 vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1. Nhóm thực vật LSNG theo dạng sống 39
Biểu đồ 3.2. Công dụng được gây trồng tại vùng đệm BTTN Tây Yên Tử 55
Biểu đồ 3.3. Hoạt động khai thác sử dụng LSNG theo nhóm tuổi 59
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử được thành lập theo Quyết định số
82/2002/QĐ-UBND, ngày 24/5/2002 của UBND tỉnh Bắc Giang; nằm trên địa
bàn 04 xã, 01 thị trấn: Thị trấn Thanh Sơn, Thanh Luận, Tuấn Mậu, An Lạc
thuộc huyện Sơn Động, xã Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam; giáp gianh với 02
tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh. Hiện Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử quản
cũng như các tổ chức địa phương các cộng đồng đã ý thức được việc làm của
mình là vi phạm pháp luật và làm tổn hại tới tài nguyên rừng, nhưng vì cuộc
sống khó khăn và những đòi hỏi thực tế vẫn còn là những bất cập khiến họ
không có nhiều lựa chọn.
Trong thực tế, rất nhiều nguồn tài nguyên LSNG đã cạn kiệt, không có giá
trị khai thác nữa mặc dù trước đây có rất nhiều. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng
này là do người dân chỉ biết khai thác kiệt sản phẩm của các loài cây cho LSNG
mà chưa chú ý tới việc gây trồng, chăm sóc, quản lý và khai thác một cách hợp
lý. Hậu quả là nguồn tài nguyên dần bị suy thoái, ảnh hưởng xấu đến cân bằng
sinh thái và đa dạng sinh học của rừng. Vì thế, việc trang bị kiến thức về bảo tồn
và phát triển nguồn tài nguyên LSNG là một việc làm cấp thiết.
Để có cơ sở đầy đủ cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển bền
vững LSNG cho sinh kế của cộng đồng địa phương. Vì vậy tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tính đa dạng và thực trạng phát triển một số loài lâm sản ngoài
gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử - Sơn Động - Bắc Giang”
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tính đa dạng và thực trạng khai thác – sử dụng – gây trồng một
số loài LSNG tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử từ đó đề xuất các giải
pháp quản lý sử dụng hợp lý nguồn LSNG, góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh
học đồng thời ổn định nâng cao đời sống người dân thông qua việc quản lý sử dụng
bền vững LSNG
3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tính đa dạng và thực trạng khai thác và sử dụng, gây trồng
nguồn lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử,
- Xác định được thực trạng phát triển một số loài cây LSNG có giá trị
tại khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu một số kinh nghiệm truyền thống của người dân địa phương
W.W.F. Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu
sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con
người. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song
mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non - timber Forest
products in Southeast asia - W.W.F - 1989).
Theo Hội đồng Lâm nghiệp (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài
gỗ (Non - timber forest products - NTFP, hoặc Non wood forest products -
NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai
thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” [33].
Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự
nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loại thực
vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa
dính, nhựa mủ, cao su, tanin, mầu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy,
sợi …” [12].
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả lâm sản khác gỗ được khai thác
từ rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người, bao gồm
các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa
sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre
nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,
Hiện nay, người dân sống gần rừng vẫn chủ yếu sống dựa vào những loài
cung cấp thực phẩm, cây thuốc quý được lưu truyền qua các thế hệ. Những sản
phẩm giá trị đó được lấy từ rừng đó chính là nguồn Lâm sản ngoài gỗ (LSNG).
5
LSNG được chia theo 6 nhóm giá trị sử dụng như sau [12].
+ Nhóm 1: Tre, nứa, song, mây các loại thân lá có sợi được dùng trong
việc tạo ra sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, làm giấy… và củ (măng) được
dùng làm thực phẩm.
+ Nhóm 2:
được 225 loài thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái [2].
Việt Nam hiện có khoảng 30/64 tỉnh có hoạt động gây trồng và thu hái
LSNG từ rừng, trong đó diện tích thu hái LSNG từ rừng tự nhiên là gần 1,2 triệu
ha và diện tích LSNG được gây trồng là gần 500.000 ha. Các loài cây chủ yếu
được gây trồng hoặc thu hái là Tre trúc, song mây, Thông lấy nhựa, Quế, Hồi,
Thảo quả, Bời lời đỏ… Thực trạng khai thác còn mang tính tự phát, phân tán,
chưa có quy hoạch, kỹ thuật giống và lâm sinh còn lạc hậu.
Các loài cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu là tre, nứa, trúc 769.411 ha (chiếm
47%); song, mây 381.936 ha (22,4%), thông nhựa 255.718 ha (15,6%), quế 80.991
ha (4,9%); các cây lâm sản nggoài gỗ khác chiếm tỉ lệ không đáng kể [11].
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình
thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến
đổi do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có
vốn có về tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng. Cũng vì thế
mà các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những
nơi hiểm trở. Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài
có nguy cơ bị tiêu diệt.
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài
gỗ ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó là sự mâu thuẫn
giữa cung và cầu. Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của nhân dân
thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho số dân tăng thêm một
cách nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm
không ngừng.
Nhiều loại LSNG được sử dụng cho sản xuất và đời sống của người dân, có
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta. Nó đặc biệt quan trọng
7
đối với cộng đồng địa phương miền núi và người dân tộc thiểu số có đời sống
phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên rừng. LSNG còn là mặt hàng xuất khẩu có giá
trị, Bộ NN và PTNT ước tính giá trị xuất khẩu LSNG năm 2008 là khoảng 300-
và ổn định, thị trường Mỹ mới có từ năm 2001 nhưng có mức tăng trưởng
nhanh, có triển vọng là thị trường tiềm năng.
1.2.2. Vai trò của lâm sản ngoài gỗ
- LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy
trì và phát triển hệ sinh thái rừng. Phần lớn cây LSNG nằm dưới tán rừng, có tác
dụng giảm tác động của nước mưa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt,
chống xói mòn cho đất rừng. Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và
nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng.
- Phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một phương thức làm tăng giá trị kinh tế
của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo, động
viên người dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và
đa dạng sinh học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử
dụng khác. Lâm sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư
và các hộ dân (nhất là dân tộc thiểu số) miền núi trong việc đảm bảo an toàn
lương thực, chăm sóc sức khoẻ, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
- Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ và vai
trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng. Tuy nhiên, muốn có LSNG
để khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng. Vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ
thuật cũng là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng.
- Trong những năm gần đây, LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ và an toàn
lương thực vào nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.
- Các loài lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa trong các lĩnh vực đa dạng sinh
học, duy trì tính phong phú của hệ sinh thái rừng.
Lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường của
đất nước ta:
9
- Giá trị về mặt kinh tế: Giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ được thể hiện
thông qua giá trị sử dụng của chúng. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác sử dụng,
Trải qua nhiều thế kỷ, sản phẩm rừng đã và đang cung cấp cho các nước
một nguồn thu nhập lớn lao. Sản phẩm rừng có thể được chia thành 2 nhóm: Gỗ
và ngoài gỗ. Giá trị sử dụng rộng lớn của gỗ trong các ngành công nghiệp xây
dựng và nội thất dường như đã làm cho con người nhiều khi quên mất giá trị của
những lâm sản ngoài gỗ. Thực tế về buôn bán, trao đổi lâm sản ngoài gỗ trên thị
trường đã cung cấp cho người dân sống ở vùng rừng và các doanh nghiệp địa
phương một nguồn thu nhập đáng kể
1.3.1.1. Các nghiên cứu về đánh giá thực trạng nguồn LSNG
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối
chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc
có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia [3].
S. Dransfield and E.A. Widjaja (1995) đã tiến hành mô tả đặc điểm hình
thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có
giá trị ở vùng Đông Nam Á [35].
Năm 1992, J.H. de Beer – một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức
Nông lương thế giới – khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài
gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người
dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xóa đói giảm
nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội vùng núi và
bảo tồn phát triển tài nguyên rừng. Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn,
chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và
Thái Lan. Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con
người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm
năng phát triển của thảo quả [31].
Theo FAO (1999): “LSNG là các lâm sản có nguồn gốc sinh vật,loại trừ gỗ
lớn có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng.” [33]. Các nhà khoa học
11
Mỹ, D. A. Scott, J. A. Burger và Barbara Crane (2006) đã thực hiện nghiên cứu
nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đảm bảo chức năng của các khu rừng lâm sản
định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc
biệt là việc khai thác chúng gần nhue không tổn hại đến rừng đã thúc đẩy nhiều
nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ. Phần lớn các
nghiên cứu đều tập trung ở các nước nhiệt đới, nơi mà tiềm năng về lâm sản
ngoài gỗ phong phú nhất, còn việc khai thác gỗ lại thường gây tổn hại nhiều
nhất đối với hệ sinh thái rừng.
1.3.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới bảo tồn và phát triển một số loài LSNG
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế đặt tại Indonesia (CIFOR) đã
chú trọng nghiên cứu LSNG. Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với các
lâm sản thương mại trên thế giới. Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp
(ICRAF) đã và đang thục hiện các nghiên cứu làm thế nào sản xuất, nâng cao
sản lượng của các cây rừng có nhiều tiềm năng. Tổ chức nông lương thế giới
(FAO) và Trung tâm đào tạo vùng về lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng
có nhiều nghiên cứu về LSNG, trong đó có cách tiếp cận phương pháp luận về
“Từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ sản xuất của rừng là cần thiết
cho cung cấp bền vững phân phối thu thập, đảm bảo thị trường và các vấn đề
chính sách định chế. FAO đã thành lập ra mạng lưới nghiên cứu LSNG trên thế
giới liên kết giữa 1.600 cá nhân và cơ quan đã xuất bản tạp chí “Tin tức lâm sản
ngoài gỗ”, tổ chức một số hộ thảo quốc tế về LSNG (thí dụ ở Thái Lan năm
1994, Indonesia năm 1995…). Các tổ chức phi chính phủ ở Đức hỗ trợ cho
nhiều nghiên cứu LSNG tại Châu Phi. Nhiều trường đại học ở Pháp, Anh, Mỹ ,
Đức, Hà Lan nghiên cứu ảnh hưởng của LSNG đến ảnh hưởng của cộng đồng
dân cư gần rừng. Chính phủ Hà Lan cũng đã hỗ trợ cho nhiều dự án về LSNG
khắp trên thế giới hướng tới sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này (dẫn theo
Phan Văn Thắng, 2002)[20].
Lâm sản ngoài gỗ có phù hợp với mục tiêu phát triển và bảo tồn rừng nhiệt
đới hay không? Đó là nội dung nghiên cứu của J. E. Michael Arnold và M. Ruiz
13
Pérez (2001). Những giá trị mà lâm sản ngoài gỗ mang lại cho người dân địa
- Nghiên cứu về canh tác LSNG;
- Nghiên cứu về kinh tế, xã hội bao gồm cả nghiên cứu về thị trường LSNG.
Việc quan tâm tới công nghệ sau thu hoạch thường ít ỏi, vì vậy gây lãng
phí cả về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ
sản phẩm LSNG (FAO, 1995) [32]. Một số vấn đề nổi cộm trong sản xuất, chế
biến LSNG ở các nước đang phát triển là hạn chế kỹ thuật khai thác và xử lý sau
thu hoạch; thiếu các nghiên cứu về phát triển giống các loài cây cao sản; kỹ
thuật chế biến kém hiệu quả; thiếu các giải pháp điều chỉnh chất lượng; khó
khăn về thị trường và thiếu cán bộ được đào tạo,…
Năm 1992 Chương trình Rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các
bản hướng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thôn tin thị trường LSNG ở mức địa
phương. Phương pháp này đã được kiểm nghiệm ở Bangladesh và Uganda năm
1993 và cho thấy tính hiệu quả thiết thực của nó trong việc nắm bắt thông tin về
thị trường cây LSNG ở mức địa phương từ đó có kế hoạch lựa chọn, điều chỉnh
loài cây LSNG gây trồng, khai thác và sử dụng cho phù hợp [26].
Thị trường tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ có vai trò rất quan trọng, vì vậy D. W.
Velde và cộng sự (2006) đã tìm hiểu vai trò của các thương gia trong mắt xích
thị trường. Tác giả cho biết việc đánh giá đúng vai trò của các thương gia là rất
quan trọng. Việc đề ra chính sách để thương mại hoá các sản phẩm ngoài gỗ cần
phải tính đến mỗi mắt xích trong mạng lưới thị trường [31].
1.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến LSNG hiện
nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử
dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu, điển hình là một
số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
1.3.2.1. Các nghiên cứu về đánh giá hiện trạng LSNG
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [14], đã mô tả hình thái, phân
bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài
LSNG. Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài
16
Vũ Văn Dũng, Hoàng Hữu Nguyên, Trịnh Vĩ (2001) đã đề xuất cách phân
loại mới. Theo các tác giả, lâm sản ngoài gôc được chia làm 6 nhóm: Sản phẩm
để làm thực phẩm, làm lá gói bánh [11].
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lân (1999) cho thấy, 100% số hộ ở khu bảo
tồn Pù Mát sống dựa vào việc khai thác gỗ và LSNG, 22% số hộ thường xuyên
khai thác cây Met, Nứa, Song, Mây,…; 11,75% số hộ thường xuyên khai thác
mọc nhĩ. Thu nhập bình quân khoảng 20.000 đồng/ngày và 8,3% số hộ thường
xuyên khai thác củi bán lấy tiền mua lương thực và trong những ngày giáp hạt
trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn vào rừng đào củ Mài, củ Chuối, củ Nâu và hái rau
rừng để ăn.
Nghiên cứu của Christian Rate và cộng sự năm 1993 đã đề cập tới tiềm
năng của LSNG tại Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu. Các tác giả đã thống kê diện
tích rừng Tre nứa ở 3 tỉnh là 26.000 ha. Bình quân một năm khai thác khoảng 13
tỷ cây, trong đó 90% được bán cho nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng bằng sông
Hồng và xuất khẩu [28].
Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị
Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000) [15]. Các nhà nghiên cứu đã thống kê
được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và xác định rõ
đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến, thành phần dinh dưỡng.
1.3.2.2. Các nghiên cứu về đánh giá khả năng gây trồng về LSNG
Khi nghiên cứu về trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán
rừng, Nguyễn Ngọc Bình và cộng sự đã tìm được kỹ thuật gây trồng các loại cây
dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán,
bảo vệ, khoanh nuôi rừng. Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh
thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân,
Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,…(Nguyễn Ngọc Bình, 2000) [4].
Thuần hóa lâm sản ngoài gỗ thành công rõ rệt nhất là với những loài cây dược
liệu. Trong vòng 50 năm trở lại đây, ở Việt Nam có hơn 30 loài cây thuốc vốn mọc tự