Nghiên cứu thực trạng phát triển một số loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị sử dụng làm thực phẩm tại khu vực vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ LINH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI
LÂM SẢN NGOÀI GỖ CÓ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG LÀM THỰC PHẨM
TẠI KHU VỰC VÙNG ĐỆM VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ -
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62. 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. Lý Văn Trọng
THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CẢM ƠN

Bảng 3.1.
Dân số và lao động khu vực nghiên cứu
29
Bảng 3.2.
Thống kê tỷ lệ hộ nghèo khu vực nghiên cứu
30
Bảng 3.3.
Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 3 xã
32
Bảng 3.4.
Mạng lưới nhân viên y tế
33
Bảng 3.5.
Hiện trạng giáo dục
34
Bảng 4.1
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
37
Bảng 4.2.
Các loài cây LSNG giá trị kinh tế được thường sử dụng làm
thực phẩm có phân bố tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
39
Bảng 4.3.
Các loài cây LSNG giá trị kinh tế thường sử dụng làm thực
phẩm đang được gây trồng tại khu vực nghiên cứu
40
Bảng 4.4.
Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG dùng làm thực
phẩm ở xã Khang Ninh
42

3.2. Tình hình sản xuất kinh doanh 29
3.2.1. Sản xuất nông nghiệp 29
3.2.2. Sản xuất lâm nghiệp 30
3.2.3. Chăn nuôi 30
3.2.4. Cơ sở hạ tầng 31
3.3. Đánh giá chung về điều kiện cơ bản 33
3.3.1. Những thuận lợi 33
3.3.2. Khó khăn 34
Chƣơng 4: 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1. Điều tra, đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển các loài cây LSNG ở
khu vực nghiên cứu 35
4.1.1. Thực trạng gây trồng các loài cây LSNG tại khu vực nghiên cứu 35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
4.1.2. Xác định cơ cấu cây trồng LSNG có giá trị và tiềm năng phát triển của các
xã nghiên cứu 40
4.1.3. Tình hình khai thác, sử dụng và thị trường tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ ở một
số thôn trên địa bàn nghiên cứu 44
4.2. Kết quả điều tra kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng và gây trồng các loài
LSNG có giá trị tại khu vực nghiên cứu 49
4.2.1. Kinh nghiệm khai thác và sử dụng các loài LSNG có giá trị 49
4.2.2. Tình hình về gây trồng các loài cây LSNG có giá trị 53
4.2.3. Kiến thức về phân bố sinh thái 56
4.2.4. Đánh giá chung về kiến thức bản địa 57
4.3. Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây LSNG có giá trị kinh tế cao có
tiềm năng 58
4.3.1.Giải pháp về chính sách 58
4.3.2. Giải pháp về kỹ thuật 60

lịch trong và ngoài nước đến thăm ngày càng tăng. Đó là một phức hệ gồm hồ, sông,
núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnh quan đa
dạng và phong phú. Nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng Ba Bể bốn mùa
đầy nước. Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, gồm 3 hồ lớn
thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba Bể. Hồ nhận nước từ
hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng. Hồ còn có chức năng điều tiết, phân
nước cho sông Năng vào mùa cạn và như một bế chứa cho sông vào mùa mưa lũ. Chính
vì có sự lưu thông với các dòng sông mà nước hồ Ba Bể luôn vận động khiến cho nước
hồ sạch và trong xanh.
Cộng đồng dân cư tại những khu phục hồi sinh thái, khu vực vùng đệm của
Vườn quốc gia, các khu bảo đã sống ở đây từ rất lâu đời và cuộc sống của họ chủ yếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
dựa vào rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh hồ. Phần lớn các hộ gia đình
đều thuộc diện đói nghèo (xã Nam Mẫu thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong
Chương trình 135 giai đoạn II). Trong những năm qua, những hành vi xâm phạm của
cộng đồng vào tài nguyên rừng như đốt nương làm rẫy, săn bắn động vật hoang dã, khai
thác gỗ trái phép thường xuyên xảy ra đe dọa tới công tác bảo tồn của VQG. Với nhiều
chương trình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phát triển sản xuất từ chính quyền cũng
như các tổ chức địa phương các cộng đồng đã ý thức được việc làm của mình là vi
phạm pháp luật và làm tổn hại tới tài nguyên rừng, nhưng vì cuộc sống khó khăn và
những đòi hỏi thực tế vẫn còn là những bất cập khiến họ không có nhiều lựa chọn.
Đặc biệt trong thời gian hiện nay khi cơ cở hạ tầng đã được cải thiện đáng kể và
các dự án có quan tâm hỗ trợ cho phát triển du lịch Bắc Kạn nói chung và du lịch sinh
thái khu vực hồ Ba Bể nói riêng như dự án 3PAD, dự án có nguồn vốn GIZ, dự án có
nguồn vốn từ ADB… khách du lịch tăng rõ rệt, nhu cầu về thực phẩm sạch, tại chỗ,
nhất là đặc sản địa phương ngày càng tăng, đòi hỏi có những thay đổi về khả năng cung
cấp gắn với cải thiện đời sống cho các cộng đồng địa phương.
Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể là

1989).
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông
dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp
quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products -
NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn
gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”.
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được
khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người, bao
gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp,
nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh,
nguyên liệu giấy, sợi,
1.2. Nghiên cứu trên thế giớ i
LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn
năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học, các
nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và
phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng. Đây cũng là mốc đánh dấu sự
chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi
là nguồn tạo thu nhập quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là
nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương
thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và
phát triển tài nguyên rừng. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề
khác nhau.
1.2.1. Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một trong
những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [3]. Trong công tác
này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới.

nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng
trái vụ ở Trung Quốc.
Theo J. Dransfield và N.Manokaran, 1998 việc trồng Mây nếp đã phát triển trên
quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng
xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm.
Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7
cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7].
Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học,
kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số loài LSNG có giá trị
ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,…. (Peter Zuidema, 2001;…
Marinus J.A. Werger, 2000; FAO, 2000;…)
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng,
tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế
giới đã có nhiều kết quả. Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng
hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân
miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn
trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng.
2.1.3. Nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa trong việc phát triển LSNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Các chuyên gia như Facolner nghiên cứu kiến thức bản địa ở Ghana.1997; Roost
nghiên cứu kiến thức bản địa ở Lào, 1997, các tác giả đã khẳng định: Kiến thức bản địa
là những kiến thức quý báu có giá trị trong quá trình sử dụng LSNG đòi hỏi cần có sự
kết hợp giữa kết quả nghiên cứu khoa học thực sự với kiến thức bản địa.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa ở hầu khắp thế giới
và kiến thức bản địa ngày càng có vai trò quan trọng trong các dự án phát triển nông
thôn.
Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và sử dụng kiến thức bản địa đã được thành

Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung
cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, đến tạo
việc làm, phát triển ngành nghề thủ công nghiệp,… Tầm quan trọng của LSNG đối với
các nước nhiệt đới đã được thừa nhận, như ở Thái Lan, trong năm 1987 đã xuất khẩu
LSNG đạt giá trị 23 triệu USD và ở Indonesia cũng trong năm đó đạt tổng giá trị xuất
khẩu LSNG lên tới 238 triệu USD (Tenne, 1987).
Các tổ chức quốc tế như FAO (1997) [26], IUCN (1999) [15] đã đưa ra bảng giá
trị của LSNG so với các giá trị khác của rừng được thể hiện ở bảng 01.
Bảng 1.1. Giá trị của rừng và LSNG ở một số quốc gia trên thế giới
Quốc gia
Giá trị sinh
thái (%)
Giá trị lâm sản (%)
Toàn bộ
Lâm sản gỗ
LSNG
Nhật bản
96,0
4,0
2,0
2,0
CHLB Đức
93,0
7,0
4,1
2,9
LB Nga
70,0
30,0
20,1

điều này:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
- Nghiên cứu của Mayer (1980) cho thấy, 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu
thụ bởi người dân địa phương và không bao giờ được tính ra tiền mặt.
- Ở Ấn Độ (1982) LSNG chiếm gần 40% giá trị lâm sản và 60% giá trị lâm sản
xuất khẩu. Ở Indonesia (1989) thu được 436 triệu USD từ LSNG.
- Padoch (1988), Bele (1989) qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới có
vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân địa phương một phần là ở khả năng
cung cấp LSNG. Mayer (1988) đã tính toán rằng, một khu rừng nhiệt đới có diện tích
50.000 ha nếu được quản lý tốt sẽ cung cấp đều đặn 200 USD/ha/năm. Peter và cộng sự
(1989) đã tính toán thu nhập từ gỗ và LSNG trên một ha rừng nhiệt đới vùng Amazon
đạt 6.820 USD/ha/năm [25].
1.2.6. Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một hệ sinh thái hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ
động vật và thực vật phong phú và đa dạng nhất hành tinh (Van Steenis, 1956). Vì vậy,
việc tận dụng triệt để mọi tiềm năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện, lợi
dụng tổng hợp, trong đó có kinh doanh và lợi dụng LSNG là hết sức cần thiết.
Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng trong đó chứa đựng gần
90% tổng số loài thực vật của trái đất (Mc Nell et al, 1990).
Năm 1987, Wilson đã tìm thấy quanh một gốc cây họ đậu ở Peru có tới 43 loài
kiến, thuộc 26 giống, bằng toàn bộ khu hệ kiến có mặt ở nước Anh.
Tại Đông Nam Á, rừng nhiệt đới và đặc biệt là rừng mưa có mức độ đa dạng
sinh học rất cao. Tại Malaysia có ít nhất 40.000 loài thực vật, Indonesia có khoảng
20.000 loài, Thái Lan có 12.000 loài, số loài thực vật ở Đông Dương (Việt Nam, Lào,
Campuchia) là 15.000 loài.
Nhằm nâng cao vai trò của LSNG một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt
động nghiên cứu LSNG như: Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Trung tâm nghiên
cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Trung tâm Nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF),… đã

Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có
giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam.
Đỗ Tất Lợi (1991) [17] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản
lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều
bài thuốc hay từ những loài LSNG này.
Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [7], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại
LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG,
những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,….
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [18] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái
phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và
Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc.
Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG
trong giai đoạn 2006 – 2020” [1]. Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế
hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [2].
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [11], đã mô tả hình thái, phân bố,
công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG.
Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài
khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc
(76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài);
Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng
mát thân gỗ).
1.3.2. Nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa trong việc khai thác, sử
dụng và phát triển LSNG
Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh
Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000) [13]. Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài
thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và xác định rõ đặc điểm nơi sống,
cách thu hái, chế biến, thành phần dinh dưỡng

Cám, Nặm Cắm thuộc VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn, Th.s La Quang Độ, 2001 [9]. Tác
giả đã xác định được số loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc
trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này.
Tìm hiểu một số kiến thức bản địa và sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại
VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn. Th.s La Quang Độ, Th.s Nguyễn Thị Minh Châu, 2003
[10]. Hai tác giả đã xác định được các loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm
khai thác, sử dụng chúng của dân tộc Dao, H’Mông.
Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các lâm sản ngoài
gốc làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa - Võ Nhai, Ths Nguyễn Thị Thoa, Ths.
Nguyễn Văn Mạn (Nguồn PGS.TS Đặng Kim Vui và Cs)[22]. Tác giả đã xác định được
kinh nghiệm của người dân trong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia vị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ do viện khoa học Lâm Nghiệp (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
IUCN thực hiện đã được triển khai nhằm tìm lại giá trị của lâm sản ngoài gỗ, giúp
người dân có cách khai thác và phát triển hợp lý (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Điều tra nghiên cứu kiến thức bản địa về quản lý, phát triển tài nguyên rừng ở
một số cộng đồng thôn bản thuộc miền núi phía bắc Việt Nam, Đỗ ĐÌnh Sâm, Đặng
Kim Khánh, An Văn Bảy. Các tác giả đã nghiên cứu về kinh nghiệm trồng tre lấy măng
của đồng bào Thái Sơn La, phát triển rừng quế của đồng bào người Dao ở Quảng Ninh
[20]
1.3.3. Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA
(1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 – 69%; Phương pháp ghép
nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5
tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46%. Tỷ lệ sống của cây
ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép mà phục thuộc rất rõ rệt
vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép. (Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng – 2003).

theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố đã cho sinh trưởng
về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh).
Cũng với phương pháp xử lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại
Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm,
68,1% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh).
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [4] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để
lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp
giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá. Đề tài đã đưa ra được
một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều
chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật
khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng.
Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [4] cũng đã thống kê
được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm
trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông. Đề tài đã thống kê được diện tích trồng Điềm
trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha. Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về
đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của
nhân dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh
hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật độ từ 300 cây/ha đến
5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi.
Ngoài một số công trình điển hình ở trên, còn rất nhiều công trình của các nhà
khoa học khác thuộc các ngành Y tế, môi trường,… đã tham gia nghiên cứu và có kết
quả đáng chú ý như công trình của Viện Dược liệu (2005), Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật (2001); Trần Công Khánh (2000); Nguyễn Ngọc Lân (1999); Nguyễn Văn Tập
(2001), Trần Văn Ơn (2002), các công trình của các địa phương;… Đặc biệt là các công
trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng Giổi xanh của Nguyễn Bá Chất (1984), kỹ thuật
trồng Hồi của Nguyễn Thị Bích (1998), Kỹ thuật trồng Trám trắng của Phạm Đình Tam

mà bán trực tiếp cây LSNG thô làm giảm nhiều giá trị thu được của người dân. Sự trải
qua quá nhiều khâu trung gian dẫn tới giá cả LSNG người dân bán thường bị ép giá với
giá bán ngoài thị trường. Do vậy, cần đẩy mạnh các khâu chế biến và đưa trực tiếp sản
phẩm tới tay nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả cao [16].
1.3.5. Các nghiên cứu về vai trò của LSNG
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở
tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là
nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu
nhập kinh tế của hộ/năm. Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG
như ở Nguyên Bình – Cao Bằng thu nhập chủ yếu từ cây trúc sào.
Christian Rake và cộng sự (1993) khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình,
Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người
dân ở 3 tỉnh này. Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu và song mây là những loài có tiềm
năng phát triển. Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn
tài nguyên này ngày càng cạn kiệt.
Gilman, Nguyễn Văn Sản (1999) trong công trình nghiên cứu của mình cho thấy,
gần 200 tấn dược liệu được khai thác ở VQG Ba Vì vào năm 1997 - 1998, ước tính gần
60% người dân tộc Dao ở Ba Vì khai thác nguồn tài nguyên này và nguồn thu nhập đứng
thứ 3 sau lúa và sắn.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lân (1999) cho thấy, 100% số hộ ở khu bảo tồn Pù
Mát sống dựa vào việc khai thác gỗ và LSNG, 22% số hộ thường xuyên khai thác cây
Met, Nứa, Song, Mây,…; 11,75% số hộ thường xuyên khai thác mọc nhĩ. Thu nhập bình
quân khoảng 20.000 đồng/ngày và 8,3% số hộ thường xuyên khai thác củi bán lấy tiền
mua lương thực và trong những ngày giáp hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn vào rừng
đào củ Mài, củ Chuối, củ Nâu và hái rau rừng để ăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
1.3.6. Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Theo kết quả nghiên cứu của Viện dược liệu thì đã phát hiện được 1863 loài cây


17
khu bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho sử dụng tại chỗ và sử dụng làm hàng hóa buôn
bán gây tác động nghiêm trọng tới công tác bảo tồn và phát triển rừng đặc biệt là hiện
nay, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với nhiều loại LSNG quý, hiếm
như Linh chi, Hà thủ ô, là rất lớn. Như vậy, để có thể giảm áp lực vào tài nguyên rừng
tự nhiên của nước ta, đồng thời tạo sinh kế, phát triển kinh tế địa phương thì việc tìm
kiếm loài cây, biện pháp kỹ thuật để xây dựng các mô hình LSNG có giá trị là hết sức
cần thiết đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệm của các vườn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Nhằm giải quyết sinh kế cho cộng đồng 3 xã vùng đệm là Khang Ninh, Cao
Thượ ng và Quả ng Khê thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể - tỉnh Bắ c
Kạn từ đó giảm áp lực cuả người dân vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền
vữ ng, trong đó nghiên cứ u phá t triể n cá c loà i LSNG có giá trị kinh tế cao sử dụ ng là m
thự c phẩ m đang là hướ ng đi đú ng đắ n và rấ t có triể n vọ ng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18

Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn.
2.4. Nộ i dung nghiên cƣ́ u
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra những nội dung nghiên cứu những nội
dung sau:
- Điều tra thực trạng phát triển các loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm ở
vùng đệm VQG Ba Bể.
- Tìm hiểu kiến thức bản địa về kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG sử
dụng làm thực phẩm có giá trị kinh tế cao.
- Đề xuất những giải pháp để phát triển loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm
có giá trị kinh tế cao có tiềm năng.
2.5. Phƣơng phá p nghiên cƣ́ u
2.5.1. Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
2.5.1.1. Quan điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu phát triển LSNG trong vùng Vườn quốc gia Ba Bể cần được đặt
trong mối quan hệ chặt chẽ với đời sống thường ngày của người dân địa phương như
các hoạt động khai thác, sử dụng, gây trồng và phát triển,
- Chú trọng nghiên cứu, tổng kết các biện pháp kỹ thuật đã có, các giống mới,
chuyển giao công nghệ, kết hợp với nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng tiếp nhận
của người dân (chú trọng cả yếu tố kinh tế và kỹ thuật).
- LSNG cần được coi là một giải pháp quan trọng và có hiệu quả cao trong việc
cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới công tác quản l‎ý rừng bền vững của
VQG Ba Bể.
- Phát triển kỹ thuật có sự tham gia (PTD): Lấy người dân làm trung tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
2.5.1.2. Cách tiếp cận của đề tài
- Nghiên cứu phát triển LSNG sử dụng làm thực phẩm nhằm góp phần cải thiện
đời sống của người dân sống trong và ngoài VQG Ba Bể cần có cách tiếp cận tổng hợp.
- Cách tiếp cận có sự tham gia của các đối tượng khác nhau: người dân, cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status