Nghiên cứu thực trạng và đề xuất phát triển du lịch mạo hiểm tại vườn quốc gia ba bể, tỉnh bắc kạn - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

ĐỖ TUYẾT NGÂN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

ĐỖ TUYẾT NGÂN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Hà


VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ ..................................................................................70
3.1. Những căn cứ chủ yếu ....................................................................................70
3.2. Một số giải pháp cụ thể ...................................................................................72
KẾT LUẬN ...............................................................................................................84
KIẾN NGHỊ ..............................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTA

: Adventure Travel Trade Association
Tổ chức Du lịch Thương mại Mạo hiểm

BQL

: Ban Quản lý

Bộ NN&PTNN

: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

CSHT

: Cơ sở hạ tầng

CSVCKT


: Tourism Authority of Thailand
Cơ quan Du lịch Thái Lan

UNWTO

: United National World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới

VQG

: Vƣờn Quốc Gia

2


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng biểu
Bảng 1.1. So sánh giữa du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm .................................27
Bảng 2.1. Số liệu khí hậu khu vực VQG Ba Bể………………………………..…..46
Bảng 2.2. Dân số các xã trong khu vực VQG Ba Bể……………..……….………47
Bảng 2.3. Nơi lƣu trú của khách du lịch tại Ba Bể……………………….….…….56
Bảng 2.4. Trình độ cán bộ TTGDMT&DVMTR VQG Ba Bể………………….....59
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1. Lƣợng khách du lịch tại Ba Bể giai đoạn 2012 - 2014 .........................43
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu khách tham gia du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể ...................54
Biểu đồ 2.3. Các hoạt động du lịch mạo hiểm du khách tham gia ............................58
Biểu đồ 2.4. Các kênh thông tin về du lịch mạo hiểm Ba Bể ...................................63
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1. Bản đồ du lịch VQG Ba Bể…………………………………….…...….41


4


thăm dò, chƣa đƣợc tổ chức hiệu quả. Do đó, cần có những nghiên cứu, đánh giá
sâu về loại hình du lịch đƣợc đánh giá là tiềm năng này ở Việt Nam nhằm có các đề
xuất cho việc khai thác hiệu quả giá trị đó, góp phần vào việc thực hiện chiến lƣợc
du lịch của quốc gia và của địa phƣơng.
Vƣờn quốc gia Ba Bể đƣợc thành lập năm 1992 theo Quyết định số 83/TTg, là
nơi bảo tồn sinh cảnh rừng thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới điển hình với đa dạng
sinh học cao. Ngoài ra, Ba Bể cũng đƣợc công nhận là một trong các khu đất ngập
nƣớc quan trọng của thế giới, và gần đây cũng đƣợc công nhận là một trong các khu
RAMSAR của Việt Nam.
Trung tâm VQG Ba Bể là hồ Ba Bể - hồ kiến tạo tự nhiên lớn nhất ở Việt
Nam, đƣợc UNESCO xếp vào một trong 20 hồ nƣớc ngọt tự nhiên đẹp trên thế giới
cần đƣợc bảo vệ và phát triển. Hồ có diện tích mặt nƣớc khoảng trên 500 ha với
chiều dài khoảng 7km, đƣợc bao bọc bởi vách núi đá và dạng địa hình đá vôi điển
hình. Tại khu vực hồ Ba Bể có nhiều điểm tham quan, thắng cảnh đẹp và hấp dẫn,
tiêu biểu là thác Đầu Đẳng, Ao Tiên, hệ thống các hang động có vẻ đẹp kỳ vĩ là điều
kiện rất thuận lợi cho các hoạt động tham quan, khám phá, mạo hiểm.
Tuy nhiên du lịch mạo hiểm tại Ba Bể phát triển chƣa xứng đáng với tiềm
năng. Các sản phẩm, dịch vụ còn đơn điệu, khai thác chƣa đồng bộ, hấp dẫn và chƣa
giữ chân đƣợc khách du lịch. Chính vì vậy việc tạo ra yếu tố mới, lạ về loại hình sản
phẩm, phƣơng thức tổ chức phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng nhằm phát huy đƣợc
các tiềm năng du lịch ở đây, đặc biệt là loại hình du lịch mạo hiểm.
Từ những thực tế và sự cấp thiết đó, tác giả đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
thực trạng và đề xuất phát triển du lịch mạo hiểm tại vƣờn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn”.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Du lịch mạo hiểm VQG Ba Bể.




hiểm sẽ là tiềm năng của ngành du lịch nhằm tạo ra nét đặc sắc riêng giữa một môi
trƣờng cạnh tranh du lịch đang ngày càng gay gắt hiện nay.
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu khoa học trong nƣớc nhƣ:
Trƣơng Quang Hải (2006): “Nghiên cứu tuyến Du lịch mạo hiểm Phong Nha –
Kẻ Bàng”. Đề tài tập trung vào vấn đề khai thác tiềm năng của một số tuyến du lịch
mạo hiểm, từ đó đƣa ra định hƣớng phát triển du lịch mạo hiểm tại Phong Nha – Kẻ
Bàng.
Phạm Trung Lƣơng (2008): “Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du
lịch thể thao - mạo hiểm ở vùng núi phía Bắc”. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận, tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sản phẩm du lịch mạo
hiểm – thể thao ở khu vực vùng núi Phía Bắc, xây dựng những sản phẩm du lịch
phù hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trịnh Lê Anh (2006): “Du lịch Trekking ở Việt Nam: Loại hình và phƣơng
thức tổ chức (Nghiên cứu trƣờng hợp ở Sa Pa – Lào Cai)”. Đề tài bƣớc đầu khái
quát cơ sở khoa học loại hình du lịch trekking và hiện trạng phƣơng thức tổ chức
trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn (trong phân hệ du lịch thể thao – khám phá, mạo
hiểm). Từ đó khuyến nghị phƣơng thức tổ chức khai thác du lịch trekking phù hợp
tại Sa Pa.
Trƣơng Việt Trƣờng (2010): “Nghiên cứu du lịch sinh thái kết hợp với du lịch
mạo hiểm tại khu mỏ Kẽm - Chì Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Nghiên
cứu trình bày cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm, hiện trạng các
loại hình du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm trên thế giới nói chung và Việt Nam
nói riêng, phân tích hiện trạng khu mỏ Kẽm – Chì, huyện Chợ Đồn, làm rõ các tiềm
năng, khả năng phát triển và đƣa ra một số định hƣớng nhằm phát triển du lịch sinh
thái, du lịch mạo hiểm cho khu mỏ này.
Các công trình trên đều tập trung vào việc phân tích, đánh giá về tiềm năng du
lịch của điểm nghiên cứu và đề xuất khai thác các hoạt động du lịch nên đƣợc khai
7

2. Tuyến du lịch hồ: Hồ Ba Bể - Đảo Bà Goá - Đền An Mã - Ao Tiên.
8


3. Tuyến du lịch rừng: Đƣờng đi bộ trong rừng nguyên sinh VQG, các chòi
quan sát ngắm cảnh hồ, làng bản.
4. Tuyến du lịch làng bản ven hồ: Bản Pác Ngòi (Phía nam hồ) - Bản Bó Lù
(Phía Tây nam hồ) - Bản Cốc Tộc (Phía Tây nam hồ).
5. Các điểm tham quan du lịch lân cận hồ Ba Bể: Động Hua Mạ (Xã Quảng
Khê) - Thác Bạc (Xã Hoàng Trĩ).
Khảo sát ở các tuyến và điểm du lịch chính này nhằm tìm hiểu, đánh giá đƣợc
hiện trạng cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật, phƣơng thức tổ chức, hiệu quả và các
bất cập từ mô hình và cách quản lý vận hành các mô hình này.
Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng phƣơng pháp điều tra xã
hội học để lấy ý kiến chủ quan của các đối tƣợng bằng những câu hỏi về nhu cầu
và mức độ hài lòng của đối tƣợng đƣợc khảo sát về du lịch mạo hiểm tại VQG
Ba Bể. Phƣơng pháp này đƣợc tiến hành với các giai đoạn nhƣ sau:
Giai đoạn 1: Lựa chọn nhóm đối tƣợng điều tra
Đối tƣợng tác giả lựa chọn là các bên liên quan tới hoạt động du lịch mạo
hiểm tại VQG Ba Bể. Tuy nhiên, việc am hiểu về tiềm năng và thực trạng của du
lịch mạo hiểm tại đây có thể khác nhau đối với từng nhóm đối tƣợng. Vì vậy, tác
giả đã phân khúc ra một số nhóm nhƣ sau:
- Những ngƣời làm công tác nghiên cứu, giảng dạy có hiểu biết sâu rộng về
du lịch mạo hiểm.
- Những ngƣời làm công tác tại ban quản lý và hƣớng dẫn viên tại địa
phƣơng tiến hành khảo sát.
- Ngƣời dân địa phƣơng sinh sống quanh khu vực nghiên cứu.
- Khách du lịch đến VQG Ba Bể.
Giai đoạn 2: Thực hiện khảo sát
9



qua các mức độ của từng yếu tố giúp tác giả xác định mức độ giá trị, xếp hạng các
yếu tố và từ đó có thể rút ra nhận xét khách quan, khoa học.
Tham vấn chuyên gia: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, ngoài những
phƣơng pháp kể trên, tác giả cũng đã tiến hành lấy ý kiến của các hãng lữ hành, các
chuyên gia du lịch, các nhà quản lý tại VQG Ba Bể (phụ lục 8) về các vấn đề: Nhận
thức chung về du lịch mạo hiểm, những điều kiện thuận lợi, hiện trạng, tồn tại và
thách thức, các đề xuất, định hƣớng trong việc phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG
Ba Bể.
5.2. Kế hoạch thực hiện luận văn
STT

Thời gian thực

Nội dung

hiện
1

15/8/2014 -

Xác định tên đề tài và lập đề cƣơng chi tiết

15/09/2014
2

15/09/201430/10/2014

Thu thập tài liệu


15/02/2015-

Viết, chỉnh sửa và hoàn thiện luận văn

20/08/2015
11


6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận khoa học thực tiễn
cho việc phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở Việt Nam, đặc biệt là Ba Bể.
Ý nghĩa thực tiễn: Bƣớc đầu tìm hiểu về thực trạng và các kinh nghiệm thực
tế từ mô hình du lịch mạo hiểm ở Ba Bể với các kinh nghiệm, bài học thành công,
thất bại. Từ bài học và kinh nghiệm đó, đề xuất giải pháp nhằm phát triển, khai thác
hiệu quả hơn, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các nhà quản lý, cộng đồng địa
phƣơng và du khách khi tham gia du lịch mạo hiểm tại Ba Bể.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm các phần chính sau:
Mở đầu
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch mạo hiểm
Chƣơng 2. Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể
Chƣơng 3. Một số giải pháp phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

12


13


trải nghiệm sự mạo hiểm ở nhiều mức độ mạo hiểm khác nhau, cảm nhận sự thú vị,
tận hƣởng sự mới lạ và rèn luyện bản thân.
Muller & Cleaver (2000) đã đƣa ra một định nghĩa dƣới góc độ của những
ngƣời cung cấp dịch vụ rằng du lịch mạo hiểm đƣợc đặc trƣng bằng khả năng cung
cấp cho du khách các mức độ cảm nhận hào hứng thƣờng có đƣợc nhờ đƣa các
thành tố thực nghiệm có tính chất thách thức về mặt thể chất vào trải nghiệm của du
khách (thƣờng là ngắn). Trong định nghĩa này, các tác giả nhấn mạnh cảm nhận của
du khách thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động đòi hỏi nỗ lực về mặt
thể chất để vƣợt qua một thách thức.
Theo Trƣơng Quang Hải (2006) thì “Du lịch mạo hiểm là một hoạt động
ngoài trời diễn ra ở nơi chúng ta không thƣờng xuyên tới hay ở một nơi đặc
biệt nào đó. Hoạt động này có thể dẫn đến một số rủi ro, song qua đấy chúng ta
có thể học đƣợc những kinh nghiệm mới để chế ngự chúng và vƣợt qua những
thử thách đối với bản thân” [21, tr.2].
Tác giả Phạm Trung Lƣơng (2008) trong báo cáo Cơ sở khoa học để phát
triển các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm vùng núi phía bắc cho rằng “Du
lịch mạo hiểm là loại hình du lịch tại những khu vực tự nhiên còn tƣơng đối
hoang sơ, nơi du khách sẽ đƣợc thỏa mãn nhu cầu khám phá những điều không
ngờ tới cũng với những cảm xúc bị “đe dọa” bởi những hoạt động “mạo hiểm”
mà trƣớc đó họ chƣa thể hình dung đƣợc song đã tự nguyện chấp nhận tham
gia”[9, tr.18]. Ngoài ra, để làm rõ hơn nội hàm của khái niệm này, tác giả cũng
đồng thời đƣa ra khái niệm về du lịch thể thao – mạo hiểm: “Du lịch thể thao –
mạo hiểm là loại hình du lịch mang tính chất thể thao dựa vào việc khai thác các
giá trị tự nhiên có thể kết hợp với văn hóa địa phƣởng những khu vực còn tƣơng
đối hoang sơ, nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng cƣờng sức khỏe và khám phá những
điều không ngờ tới với những cảm giác mạo hiểm”. Nhƣ vậy, du lịch mạo hiểm
thực chất là một phần nằm trong du lịch thể thao – mạo hiểm và cùng bao gồm

luyện viên cho các trò chơi, trải nghiệm, khám phá thử thách sẽ diễn ra trên tuyến.

15


Cũng nhƣ những loại hình khác, du lịch mạo hiểm cần có các sản phẩm và
dịch vụ đặc biệt dành riêng cho nó. Các sản phẩm dành cho du lịch mạo hiểm là các
trang thiết bị giúp du khách trải nghiệm đƣợc các hoạt động du lịch và công cụ để
đảm bảo an toàn cho du khách. Đối với các hoạt động trên cạn nhƣ đi bộ băng rừng,
leo vách núi cần dây leo, móc khóa, lều bạt, mũ bảo hiểm, các dụng cụ bảo vệ đầu
gối, cổ tay, máy bộ đàm, v.v. Các hoạt động trên không nhƣ nhảy dù, tàu lƣợn cần
mũ bảo hiểm, dù nhảy, các dụng cụ bảo về đầu, đầu gối khửu tay, v.v. Tùy theo các
hoạt động mà các thiết bị giống nhau đƣợc thiết kế khác nhau. Ví dụ, các công cụ để
tham gia các hoạt động khám phá dƣới nƣớc khác với trên cạn, mặc dù chúng có tên
gọi tƣơng tự (nhƣ mũ bảo hiểm các hoạt động leo núi khác với mũ bảo hiểm các
hoạt động dƣới nƣớc). Đối với du lịch mạo hiểm, yếu tố an toàn là yêu cầu quan
trọng nhất, trong đó bao gồm các dụng cụ cơ bản nhƣ hộp y tế và thông tin liên lạc
đơn giản, bên cạnh đó là các thiết bị chuyên dụng để trải nghiệm các hoạt động du
lịch cụ thể tại từng điểm.
Cơ sở nghỉ ngơi, lƣu trú dành cho loại hình du lịch mạo hiểm cũng rất phong
phú, có thể là các khách sạn đạt tiêu chuẩn, nhà dân hoặc chỉ là điểm cắm trại ngoài
trời để phù hợp với nhu cầu và ý thích của du khách. Các dịch vụ đi kèm nhƣ hƣớng
dẫn kỹ thuật, khuân vác, dẫn đƣờng, bán và cho thuê trang thiết bị, cứu hộ, v.v. luôn
là các gói dịch vụ cần có trong bất cứ loại hình nào của du lịch mạo hiểm.
1.3. Phân loại du lịch mạo hiểm
Trên thế giới, du lịch mạo hiểm đƣợc phân loại theo một số nhóm, mục tiêu,
đặc điểm chính nhƣ sau:
Phân loại theo mục đích chuyến đi
Phân loại theo mục đích chuyến đi có 2 loại: Du lịch với mục đích khám phá,
trải nghiệm; Du lịch với mục đích và khám phá, nghiên cứu của các nhà khoa học

Các sản phẩm du lịch mạo hiểm thƣờng đƣợc phát triển ở những khu vực
hoang sơ nên cần phát triển chúng theo nguyên tắc chỉ thỏa mãn nhu cầu của một
nhóm nhỏ du khách tại một thời điểm phù hợp với sức chứa của tài nguyên để giảm
thiểu tác động của hoạt động du lịch đến môi trƣờng. Đây là nguyên tắc quan trọng
17


đối với việc phát triển các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên ở những khu vực
hoang sơ, nhạy cảm trƣớc những tác động của du lịch.
Chính vì thế, nếu đảm bảo những nguyên tắc cơ bản có tính đặc thù này sẽ
giúp xây dựng các sản phẩm du lịch mạo hiểm có tính hấp dẫn và tính cạnh tranh
cao, đáp ứng kỳ vọng của du khách.
1.5. Các điều kiện phát triển của du lịch mạo hiểm
Trong khi các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dƣỡng, đòi hỏi hạ tầng cơ sở,
đặc biệt là hệ thống giao thông và cơ sở vật chất phục vụ du lịch đóng vai trò quan
trọng, thì đối với du lịch mạo hiểm những yếu tố trên ít có ảnh hƣởng. Trong nhiều
trƣờng hợp, sự khó khăn về hạ tầng và yếu kém về cơ sở vật chất lại là những yếu tố
góp phần làm tăng tính mạo hiểm của sản phẩm du lịch mạo hiểm mà du khách sẽ
trải nghiệm. Nhƣ vậy, đứng từ góc độ khái niệm về sản phẩm du lịch, có thể thấy có
những yếu tố cơ bản sau ảnh hƣởng tới sự phát triển của du lịch mạo hiểm.
1.5.1. Hệ thống tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch đƣợc phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các
yếu tố tự nhiên, và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con ngƣời và xã
hội. Tuy nhiên vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn không quyết định mà chỉ là
yếu tố bổ trợ quan trọng (Luật du lịch, 2005).
Cũng theo Luật du lịch (2005) thì tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của
con ngƣời có thể đƣợc sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để
hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
Nhƣ vậy, tài nguyên du lịch đƣợc xem nhƣ tiền đề để phát triển sản phẩm du

Lƣơng (2008) cho rằng giá trị cảnh quan, hệ sinh thái tại các vƣờn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên (KBTTT) là dạng tài nguyên du lịch bổ trợ quan trọng. Thực tế
cho thấy các tuyến du lịch mạo hiểm ở vùng núi thƣờng đƣợc thiết kế đi qua các
khu vực có cảnh quan đẹp, hấp dẫn hay những vƣờn quốc gia (VQG), KBTTT có
các giá trị đa dạng sinh học cao. Nhƣ vậy, những giá trị tài nguyên này sẽ góp phần
không nhỏ tạo nên tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch mạo hiểm.
19


Các giá trị văn hóa bản địa: Tiêu biểu là phong tục tập quán, tín ngƣỡng, sinh
hoạt sản xuất truyền thống, tính quần cƣ, kiến trúc công trình đƣợc xem là dạng tài
nguyên du lịch bổ trợ quan trọng đối với du lịch mạo hiểm ở vùng núi. Một số nƣớc
phát triển du lịch mạo hiểm trên thế giới đã cho thấy rằng mức độ quan trọng của tài
nguyên du lịch chủ yếu trên đối với sự phát triển của loại hình du lịch mạo hiểm có
khác nhau. Cụ thể (theo thứ tự về mức độ quan trọng): Địa hình (độ cao, độ dốc,
hang động ); Hệ thống sông, suối và hồ; Các giá trị cảnh quan, hệ sinh thái; Các giá
trị văn hóa bản địa (Ralf Buckey, 2006).
Ngoài các yếu tố vừa nêu, còn có các điều kiện tự nhiên có ảnh hƣởng đến
hoạt động du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng nhƣ khí hậu, thời tiết, sự
an toàn và bất trắc của môi trƣờng tự nhiên.
Với các nguyên tắc và yêu cầu đó, Ba Bể đáp ứng gần nhƣ đầy đủ các điều
kiện cơ bản mà một điểm du lịch mạo hiểm cần có: Ở Ba Bể có sự hội tụ của sự đa
dạng của địa hình, sự phong phú của các loài, tính đa dạng của hệ thống thủy vực,
suối, hồ, sông với mức độ khó khăn của địa hình, sự phong phú về văn hóa và đời
sống của ngƣời dân địa phƣơng. Sự đa dạng và các tiềm năng đó cho thấy tiềm năng
thực sự và sự phù hợp của Ba Bể nhƣ một điểm lý tƣởng cho những du khách yêu
thích loại hình du lịch mạo hiểm và vấn đề làm thế nào, phát triển ra sao để phát
huy đƣợc các tiềm năng và thế mạnh đó.
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất

giao thông sản xuất chỉ phục vụ riêng cho nhu cầu du lịch (Trần Thị Thúy Lan,
2005). Cũng nhƣ vậy, đối với du lịch mạo hiểm, giao thông là một điều kiện quan
trọng để du khách có thể tiếp cận tới nơi có các loại hình, hoạt động du lịch mạo
hiểm đang đƣợc khai thác.
Nhƣ vậy, cơ sở hạ tầng rất quan trọng trong phát triển du lịch. Tuy nhiên đối
với du lịch mạo hiểm nó không yêu cầu kết cấu hạ tầng du lịch ở những tiêu chuẩn
cao nhƣ đối với những loại hình du lịch khác (du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch thăm
quan, du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen
21


thƣởng v.v.). Đây là điều dễ hiểu bởi sự khó khăn, hạn chế đối với điều kiện trong
giao thông, nƣớc đƣợc xem nhƣ một phần không thể thiếu để kiểm chứng bản lĩnh
của du khách tham gia loại hình du lịch này. Nói một cách khác sự phát triển loại
hình và các sản phẩm du lịch mạo hiểm không nhất thiết phải là những điều kiện về
hạ tầng du lịch hoàn hảo. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là điều kiện hạ tầng du
lịch mạo hiểm không cần phát triển.
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và
khai thác sản phẩm du lịch cũng nhƣ quyết định mức độ hiệu quả khai thác các tiềm
năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch.
Du lịch là một ngành sản xuất nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hóa
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Do vậy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
bao gồm nhiều thành phần khác nhau, nhƣ toàn bộ các phƣơng tiện vật chất tham
gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu
của khách du lịch (các cơ sở lƣu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, dịch vụ bổ sung
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách).
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch mạo hiểm bao gồm hệ thống thống cơ
sở lƣu trú, các biển báo an toàn, sơ đồ chỉ đƣờng, các phƣơng tiện bổ trợ cho các
hoạt động du lịch mạo hiểm, v.v. Tuy nhiên tỷ trọng này trong thành phần các sản

hiện chƣơng trình du lịch mạo hiểm. Đối với hoạt động phát triển du lịch mạo hiểm,
ngƣời hƣớng dẫn viên (trong nhiều trƣờng hợp thực hiện cả vai trò huấn luyện viên)
đƣợc xem là yếu tố quan trọng có ý nghĩa đặc biệt đảm bảo sự thành công của các
hoạt động du lịch đó.
Dịch vụ ứng cứu: Du lịch mạo hiểm luôn chứa đựng những tình huống bất
ngờ, khó đoán trong quá trình thực hiện các hoạt động khám phá và thám hiểm.
Trong nhiều trƣờng hợp, du khách có thể cần sự hỗ trợ ứng cứu kịp thời để đảm bảo
sự an toàn cho bản thân và các thành viên khác trong đoàn. Chính vì thế, dịch vụ
ứng cứu luôn đƣợc xác định là quan trọng cùng với đó là các phƣơng tiện tìm kiếm,
cấp cứu phù hợp.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status