1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Mọi số
liệu sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn. Các số liệu sơ cấp là kết
quả điều tra, đánh giá của tôi và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác. Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm
ơn.
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2011
Tác giả Luận văn
Hoàng Minh Hiền
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2011
Tác giả Luận văn
Hoàng Minh Hiền
ii
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Phần mở đầu
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3
4. Đóng góp mới của Luận văn
4
2.2. Thực trạng đói nghèo của huyện Ba Bể
60
iii
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2.1. Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo giai đoạn 2006 – 2010
60
2.2.2. Thực trạng đói nghèo của nhóm hộ nghiên cứu năm 2010
66
2.2.3. Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tốt tới thu nhập của hộ
bằng hàm sản xuất Cobb - Douglas
83
Chƣơng 3: Giải pháp giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 –
2015 ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
89
3.1. Quan điểm và mục tiêu của Đảng và Nhà nước về xóa đói,
giảm nghèo
89
3.1.1. Quan điểm về xóa đói, giảm nghèo
89
3.1.2. Mục tiêu xóa đói, giảm nghèo
90
3.2. Mục tiêu Chương trình giảm nghèo tỉnh Bắc Kạn giai đoạn
2010 - 2015
92
3.3. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Bể giai đoạn
2010 - 2015
viết tắt
01
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OECD
02
Ủy ban Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc về Châu Á và
Thái Bình Dương
ESCAP
03
Chỉ số phát triển con người
HDI
04
Ngân hàng Thế giới – World bank
WB
05
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
UNDP
06
Cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển
SIDA
07
Đồng Đô la Mỹ
USD
08
Hàm sản xuất Coob – Douglas
CD
09
Tổng cục Thống kê
TCTK
10
12
Bảng 1.2. Chuẩn nghèo quốc gia được cập nhật theo biến động giá
12
Bảng 1.3. Chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế
giới qua các giai đoạn
13
Bảng 1.4. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giai đoạn 2006 –
2008
22
Bảng 1.5. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn của NHTG và TCTK
23
Bảng 1.6 Thu nhập và chi tiêu trung bình hàng tháng của nhóm
nghèo nhất và nhóm giàu nhất năm 2008
25
Bảng 2.7. Nhân khẩu và lao động của huyện Ba Bể năm 2010
51
Bảng 2.8. Tình hình sản xuất lương thực của huyện
55
Bảng 2.9. Tình hình chăn nuôi của huyện
56
Bảng 2.10. Cơ cấu kinh tế của huyện (2008 - 2010)
59
Bảng 2.11. Thực trạng đói nghèo của huyện Ba Bể giai đoạn 2006 -
2010
64
Bảng 2.12. Thông tin chung của chủ hộ năm 2010
66
Bảng 2.13. Tình hình dân tộc của hộ năm 2010
67
Bảng 2.14. Tình hình đất đai của hộ năm 2010
vi
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở
mọi quốc gia. Nó không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới chế độ công xã
nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực
lượng sản xuất kém phát triển, mà ngay cả trong thời đại ngày nay, với sự
phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, với lực lượng
sản xuất phát triển cao chưa từng thấy thì đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển
nhiên dù quốc gia đó là nước phát triển, nước đang phát triển hay nước nghèo.
Do đó, loài người luôn luôn tìm cách nâng cao trình độ sản xuất, chống đỡ
thiên tai, địch họa và các rủi ro bất hạnh để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Ở Việt Nam, xét về trình độ phát triển kinh tế, nước ta vẫn là một nước
nông nghiệp lạc hậu với hơn 70% dân số sống ở nông thôn [41]. Lực lượng
lao động chủ yếu vẫn là nông dân và canh tác nông nghiệp vẫn là hoạt động
trọng, trong đó nhất thiết phải thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, nhất là
đối với khu vực nông thôn miền núi.
Ba Bể là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Kạn, là
một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước. Ba Bể có diện tích tự nhiên 68.412
ha với 16 đơn vị hành chính (15 xã và 1 thị trấn), dân số gần 4,7 vạn người.
Trong những năm qua, với tinh thần quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân các dân tộc trong huyện cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng
và nhà nước, công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện Ba Bể cơ bản đã đạt
được mục tiêu của Chính phủ, Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh và huyện đã đề
ra. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 69,44% năm 2006 xuống còn 27,88% năm
2010 [38]. Hạ tầng cơ sở cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
của người dân. Bộ mặt các xã nghèo, đặc biệt khó khăn đang từng ngày đổi
thay. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của tỉnh và cả nước, tỷ lệ hộ nghèo
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
của huyện còn rất cao (tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn tỉnh năm 2009 là
25,18%). Do đó, trong thời gian tới, công tác xóa đói giảm nghèo vẫn là
nhiệm vụ trọng tâm trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
đòi hỏi Đảng và nhà nước nói chung, cũng như Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân các dân tộc trong huyện nói riêng cần nỗ lực phấn đấu từng bước ổn định
đời sống các hộ nghèo, tạo điều kiện cho các hộ vươn lên thoát nghèo và
không bị tái nghèo.
Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của Đề tài là nghiên cứu, đánh giá thực trạng, nguyên nhân đói
giảm nghèo bền vững.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
- Chƣơng 2: Thực trạng đói nghèo của huyện Ba Bể
- Chƣơng 3: Giải pháp chủ yếu xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 –
2015 ở huyện Ba Bể.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1. Khái niệm về đói nghèo
Nghèo đói là một trạng thái kinh tế, xã hội phức tạp mà các nhà kinh tế
thuộc nhiều trường phái, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức cơ quan quốc tế không
đồng thuận nhau về các tiêu chuẩn và do đó khi chúng ta dùng một con số
thống kê hay một bảng xếp hạng các quốc gia giàu nghèo trên thế giới để có
một so sánh, những ý niệm giàu nghèo thường rất chủ quan hay thiên lệch bởi
phương pháp thống kê, mục tiêu sử dụng, cơ cấu kinh tế và mức sống của
người dân mỗi quốc gia mỗi khác.
Căn cứ để xác định đói hay nghèo chính là nhu cầu cơ bản của con
người. Nhu cầu cơ bản ở đây được hiểu là những nhu cầu thiết yếu, tối thiểu
để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Hiện nay, trên thế giới tồn
tại một số khái niệm về đói nghèo như sau:
* Khái niệm về nghèo:
Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, túng thiếu. Rơi vào
thiểu về lương thực, thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày [25].
Đói được hiểu là một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu, ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự
sống hàng ngày, không đủ sức lao động để sản xuất và tái sản xuất sức lao
động. Đói có hai dạng, đói ngay ngắt kinh niên và đói ngay ngắt cấp tính. Đói
gay ngắt kinh niên là hiện tượng một bộ phận dân cư nghèo thường xuyên rơi
vào tình trạng thiếu ăn thường xuyên. Đói gay gắt cấp tính là hiện tượng một
bộ phận dân cư trong những hoàn cảnh đột xuất như thiên tai, mất mùa, bệnh
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tật, rơi vào khó khăn cùng cực không có gì để sống, không có lương thực,
thực phẩm để ăn, có thể dẫn tới cái chết cần được cứu trợ khẩn cấp.
Thiếu đói ở các hộ gia đình hoặc một bộ phận dân cư phải sống dưới
mức tối thiểu biểu hiện số lượng và chất lượng các bữa ăn. Thất thường về
lượng tức bữa đói, bữa no. Đứt bữa tức ngày chỉ ăn một bữa, hoặc bữa cơm,
bữa cháo, hoặc cả hai bữa đều không đủ lượng tối thiểu chứ chưa nói tới chất
lượng chất dinh dưỡng. Đứt bữa kéo dài tới hằng tháng hoặc nhiều tháng
trong năm, nhất là thời kỳ giáp hạt. Nếu lượng hóa bằng việc sử dụng năng
lượng của cơ thể con người, thiếu đói (thiếu ăn) là tình trạng con người mới
chỉ thỏa mãn mức 1.500 calo/người/ngày, dưới mức này là đói gay gắt. Hiện
nay, lượng calo tối thiểu cho mỗi người mỗi ngày được các nước áp dụng phổ
biến là 2.100 calo/người/ngày [17].
Đối với Việt Nam, là một nước nông nghiệp chậm phát triển, đời sống
của đại bộ phận người dân còn thấp, một bộ phận không nhỏ người dân còn
sống dưới mức nghèo khổ. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta và hiện trạng đời sống của dân cư hiện nay, các nhà nghiên cứu, các
cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra một khái niệm riêng về đói nghèo ở nước
ta.
quan trọng của công tác xóa đói, giảm nghèo và coi đó là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Từ Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta đã đề ra chủ trương
xóa đói, giảm nghèo. Nghị quyết Đại hội Đảng VII đã chỉ rõ: “Cùng với quá
trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác xóa đói, giảm
nghèo” [17]. Và ở các kì đại hội tiếp theo, công tác xóa đói, giảm nghèo tiếp
tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng ta. Dưới ánh sáng đường lối và
nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã cụ thể hóa thành kế hoạch,
chương trình và các giải pháp đồng bộ để thực hiện công tác xóa đói, giảm
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghèo. Chủ trương xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng
dân và nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ hết sức nhiệt tình của người dân, các tổ
chức chính trị, xã hội, cộng đồng doanh nghiệp trong nước và các tổ chức
quốc tế. Nó đã trở thành phong trào sâu rộng ở khắp các địa phương và cơ sở.
Trong những năm qua, nhờ thực hiện các cơ chế, chính sách xóa đói,
giảm nghèo có hiệu quả, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu đáng kể. Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá
là một trong những quốc gia giảm tỷ lệ đói, nghèo tốt nhất.
1.1.1.3. Các tiêu thức và chuẩn mực đánh giá nghèo đói
a. Các tiêu thức đánh giá đói nghèo
Do nghèo đói là một trạng thái kinh tế - xã hội phức tạp, nên hiện nay
chưa có một định nghĩa duy nhất về đói nghèo do vậy cũng không có một
phương pháp chung, thống nhất để đo lường được nó. Tuy nhiên nền kinh tế
quốc gia và quốc tế cần phải có một thước đo căn bản để đo lường đói nghèo,
do đó các cơ quan kinh tế quốc tế và Liên hợp quốc thường định nghĩa đói
nghèo theo hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn tiền tệ và tiêu chuẩn điều kiện sống.
trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong
khoảng từ 12%-17% là có sự bất bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự
tương đối bình đẳng [29].
* Tiêu chuẩn về mức sống: Lương thực là một nhu cầu căn bản để tồn
tại, nhưng khác với sinh vật, con người cần sống và phát triển với những nhu
cầu vật chất và tinh thần khác. Nghèo về lương thực là mức nghèo tận cùng,
nhưng nghèo còn được phát hiện dưới ba dạng khác là nhà ở, tiện nghi sinh
hoạt trong gia đình và đời sống văn hóa. Do đó, nghèo đói còn được tiếp cận
dưới khía cạnh mức sống.
Chương trình phát triển Liên hợp quốc và các quốc gia khối OECD gồm
30 quốc gia Âu Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc thường dùng Chỉ số phát triển
con người HDI (Human development indicator) để đo lường mức sống của
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
người dân. Tuy nhiên, vì mức sống và nhu cầu của người dân ở các quốc gia
giàu, nghèo khác nhau, nên có hai công thức khác nhau, một áp dụng cho các
quốc giàu và một cho các quốc gia nghèo và đang phát triển.
HDI-1 áp dụng cho các nước nghèo và đang phát triển được tính dựa vào
3 yếu tố: tỷ lệ người dân sống dưới 40 tuổi, tỷ lệ người đi học, và tỷ lệ tiện
nghi (nước sạch, điều kiện y tế và tử vong trẻ em dưới 5 tuổi).
HDI-2 áp dụng cho các nước giàu cũng dựa vào 3 yếu tố trên nhưng gia
tăng phẩm lượng (tỷ lệ người sống dưới 60 tuổi, tỷ lệ người đi học, tiện nghi
tính theo tỷ lệ người dân có hơn phân nửa lợi tức đồng niên trung bình) và
thêm một yếu tố thứ tư là tỷ lệ người thất nghiệp dài hạn (không có việc làm ít
nhất 12 tháng).
b. Chuẩn mực đói nghèo của Việt Nam
Tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam được hai cơ quan thuộc Chính phủ
(Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và xã hội) định nghĩa
1997-2000
2001-2005
2006-2010
2011 - 2015 Đói
Mọi vùng
< 13kg gạo
< 13kg gạo
Thành thị
< 13kg gạo Nông thôn
< 8kg gạo
Nguồn [29] ; [30]
Trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia của từng giai đoạn, trong các cuộc
khảo sát về mức sống, tỷ lệ hộ nghèo được tính dựa vào số thu nhập bình
quân đầu người một tháng của hộ được khảo sát. Chuẩn nghèo sau khi cập
nhật giá được sử dụng để tính tỷ lệ hộ nghèo qua các năm.
Bảng 1.2. Chuẩn nghèo quốc gia đƣợc cập nhật theo biến động giá
Khu vực
Thu nhập bình quân/ngƣời/tháng (đồng)
Năm 2004
Năm 2006
Năm 2008
Năm 2010
Thành thị
218.000
260.000
370.000
440.000
Nông thôn
168.000
200.000
290.000
350.000
Nguồn [29]; [30]
Tổng cục Thống kê Việt Nam phối hợp cùng Ngân hàng Thế giới (WB)
xây dựng chuẩn nghèo từ năm 1993, được cập nhật theo sự biến động của giá
13
Các hộ được coi là nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ đảm bảo
yêu cầu trên. Tuy nhiên, tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam còn cách quá xa so
với chuẩn nghèo của WB đưa ra với ngưỡng 2 USD/người/ngày. Do đó, Việt
Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xóa đói giảm nghèo để xây
dựng chuẩn nghèo tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hiện nay ở nước ta, một số địa phương có nền kinh tế - xã hội phát triển
đã áp dụng mức chuẩn nghèo cao hơn chuẩn nghèo chung của cả nước và chủ
động điều chỉnh chuẩn nghèo khi Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao.
- Tỉnh Bình Dương: Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2008,
khu vực thành thị 500.000 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn 400.000
đồng/người/tháng; giai đoạn 2009 – 2010, khu vực thành thị 780.000
đồng/người/tháng, khu vực nông thôn 600.000 đồng/người/tháng.
- Tỉnh Khánh Hòa: Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2009 – 2010,
khu vực miền núi, hải đảo 360.000 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn
430.000 đồng/người/tháng, khu vực thành thị 500.000 đồng/người/tháng.
- Thành phố Hồ Chí Minh: Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2009 –
2015 là 12.000.000 đồng/người/năm (tương đương với 2 USD/người/ngày).
- Thành phố Hà Nội: Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2009 – 2013,
khu vực thành thị 500.000 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn 330.000
đồng/người/tháng.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.2.1. Tình hình đói nghèo trên thế giới
a. Tình hình đói nghèo trên thế giới
Trong những thập niên vừa qua, với sự phát triển kinh tế, khoa học, kĩ
thuật, công nghệ, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và nỗ lực của các quốc
gia, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của thế giới đã đạt được nhiều thành