Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững ở xã bản hon tam đường – lai châu - Pdf 30


i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


VÀNG VĂN BUN

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững ở xã Bản Hon-
Tam Đường – Lai Châu

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ Đào Tạo : Chính Quy
Chuyên Nghành : Khuyến nông
Lớp : K43 - KN
Khoa : KT &PTNT
Khóa Học : 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Trần Thị Bích Hồng Thái Nguyên, năm 2015

ii
LỜI CẢM ƠN

Bảng 4.4 Tình hình phát triển một số cây trồng chính của xã Bản Hon 37
Bảng 4.5. Tổng số hộ nghèo tại các thôn của xã Bản Hon năm 2014 42
Bảng 4.6: nhà ở và phương tiện sinh hoạt của các hộ điều tra 43
Bảng 4.7. Nhà ở và phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra 44
Bảng 4.8. Số khẩu trung bình của một hộ điều tra 45
Bảng 4.9. Nguyên nhân đói nghèo của nhóm hộ điều tra. 47 iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT : Bảo hiểm y tế
CSXH : Chính sách xã hội
ĐBKK : Đặc biệt khó khăn
GDP : Thu nhập quốc dân
KHKT : Khoa học kỹ thuật
LĐTB&XH : Lao động thương binh và xã hội
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTDTBT : Phổ thông dân tộc bán trú
PTSX : phương thức sản xuất
THCS : Trung học cơ sở
USD : Đô la mỹ
WB : ngân hàng thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo v
MỤC LỤC


4.2 Điều kiện kinh tế xã hội 31
4.2.1. Lĩnh vực kinh tế 31
4.2.2. Đặc điểm văn hóa – xã hội. 39
4.3 Thực trạng và đời đời sống đói nghèo tại xã bản Hon 41
4.3.1 Thực trạng đói nghèo của người dân 41
4.3.2. Thực trạng về các yếu tố sản xuất 42
4.3.3. Tình hình nhà ở và phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra 43
4.3.4 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra. 44
4.3.5. Thực trạng việc làm tại các thôn điều tra. 45
4.3.6. Trình độ học vấn 45
4.3.7. Tình hình vay vốn sản xuất của các hộ điều tra năm 2014 46
4.3.8. Tình hình thu nhập của các hộ điều tra năm 2014 46
4.4. Nguyên nhân nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 47
4.3.1 Nguyên nhân nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 47
4.4.2. Do thiếu vốn sản xuất 47
4.4.3. Do thiếu đất canh tác, đất nghèo dinh dưỡng 48
4.4.4. Do đông người ăn theo 48
4.4.5. Do thiếu phương tiện sản xuất 48
4.4.6. Do không biết cách làm ăn, không có tay nghề 49
4.5.7. Do ốm đau, bênh tật 49
4.5. Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã 49
4.5.1. Các giải pháp trước mắt. 50
4.5.2. Giải pháp giảm nghèo bền vững chống tái nghèo. 52
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1. Kết luận 55
5.2. Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHA
̉
O
PHỤ LỤC

Phía nam giáp với xã Khun Há huyện tam đường, Phía tây giáp với xã Bản Giang

2
huyện Tam Đường, phía đông giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường. có diện tích
tự nhiên 5.443,06 ha. Toàn xã có 7 bản với 497 hộ, 2.432 khẩu. Có 2 dân tộc chính
là dân tộc lự và dân tộc mông…, trong những năm gần đây được sự quan tâm của
các cấp đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường trạm…, sự nỗ lực
cố gắng của lãnh đạo và nhân dân địa phương nên tình hình kinh tế - xã hội đã có
những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển.[5]
Là xã đặc biệt khó khăn của huyện, địa hình chủ yếu là đồi núi có độ dốc cao,
hệ thống đường giao thông đã được phát triển có đường ô tô đến trung tâm xã
nhưng chủ yếu là đường giao thông nông thôn loại b thường bị chia cắt vào mùa
mưa, giao thông đi lại khó khăn nên ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát
triển kinh tế hộ gia đình.
Trình độ dân trí không đồng đều do vậy nhận thức và ứng dụng KHKT vào
sản xuất còn chậm, còn chông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chú trọng
phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp
chưa quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của xã Bản Hon
như vậy, huyện Tam Đường và Xã Bản Hon đã có những chính sách gì, bằng cách
nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng
bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận
lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo. Đây là vấn đề rất bức
thiết đối với xã Bản Hon cần sớm được nghiên cứu giải quyết, xuất phát từ thực tiễn
đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải
pháp giảm nghèo bền vững ở xã Bản Hon- Tam Đường – Lai Châu ".
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nhằm tìm hiểu đánh giá hiện trạng thực hiện mục tiêu XĐGN trên địa bàn,

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 cơ sở lý luận
2.1.1 những vấn đề cơ bản về đói nghèo và XĐGN
2.1.1.1 Một số khái niệm về đói nghèo
- Khái niệm về đói nghèo được Bộ LĐTB&XH tách riêng đói và nghèo không
khái niệm chung như thế giới.
- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần
các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống
trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện.
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những
bảo đảm ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và sinh hoạt hàng
ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, giao tiếp…
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là những hộ dân hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1-2 tháng, thường vay nợ
của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và
thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong
lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một
vùng.[7]
2.1.1.2 Các quan điểm đánh giá đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
- Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ nghèo là xác định mức thu
nhập có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người, sau đó xác định
xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có mức thu nhập ở mức đó. Tuy

5
nhiên phương pháp lượng hóa nhu cầu tối thiểu ở mỗi nước để biểu hiện đường

đối với khu vực thành thị, 15kg đối với khu vực nông thôn.
 Lần 2 (giai đoạn 1995- 1997)
- Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ 1
tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng.
- Hộ nghèo: Là hộ thu nhập như sau:
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 15kg/người/tháng.
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng.
Vùng thành thị: Dưới 25kg/người/tháng.
 Lần 3 (giai đoạn 1997- 2000) (Công văn số 1751/LĐTBXH)
- Hộ đói: là hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ 1 tháng quy ra gạo
dưới 13kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
- Hộ nghèo: Hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở mức tương ứng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 15kg/người/tháng (tương
đương 55.000 đồng).
+Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương
đương 70.000 đồng).
+ Vùng thành thị: Dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng).
 Lần 4 (giai đoạn 2001- 2005) (Quyết định số 1143/2000/QĐ-
LĐTBXH) về việc điều chỉnh chuẩn nghèo( không áp dụng chuẩn đói)
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.
-Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng.
 Lần 5: Theo tiêu chí mới (giai đoạn 2006- 2010) (Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg)
- Vùng nông thôn: 200.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị: 260.000 đồng/người/tháng.

7
 Lần 6: (2011- 2015) theo quyết định số 09/2011/QĐ- TTg ngày
30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận

thức về sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai cũng như chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ em dẫn tới tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh, thậm trí cả các bà mẹ.
Trong báo cáo phát triển thế giới nêu rõ: “Hơn một tỷ người ngày nay đang
sống trong tình trạng nghèo đói, đa số những người này sẽ sinh ra những gia đình
nghèo, “(World Development Report 1992)[1]. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ
dừng lại ở mức độ “nghèo đói duy trì sự nghèo đói “ mà nó còn làm cho tình
trạng này ngày càng trầm trọng hơn và lan sang những lĩnh vực tưởng như không
liên quan, đó là môi trường và đạo đức xã hội. Lối sống thấp cộng với lối du canh
du cư đã tồn tại từ lâu đời của đồng bào miền núi làm cho rừng bị tàn phá ngày
một nặng nề hơn. Còn ở những nơi không có rừng để tàn phá thì nghèo đói, thiếu
việc làm nên nảy sinh tự phát dòng di dân ra thành phố, khu công nghiệp cửa
khẩu biên giới để kiếm sống. Mức độ di chuyển này ngày càng tăng, là nguồn
gốc mất an ninh trật tự và lây lan các tệ nạn xã hội, kể cả phạm tội.
“Vì vậy trách nhiệm của thế giới là phải làm giảm nạn nghèo khổ.
Điều đó vừa là mệnh lệnh của đạo lý, vừa là cái tất yếu để có được sự
bền vững của môi trường.[1]
2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
 Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đói
 Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trong toàn xã
- Thu nhập của hộ
Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm và các nguồn thu tính được của hộ,
được dùng để chi trả cho đời sống và tích lũy. Để phản ánh chính xác
được mức độ nghèo đói và thực trạng đời sống của hộ, tôi nghiên cứu chỉ tiêu thu
nhập bình quân đầu người theo tháng.
 Hệ thống các chỉ số
Chỉ số phát triển con người Human Development Index (HDI), bao gồm
Tuổi thọ bình quân được phản ánh bằng số năm sống.

9
Trình độ giáo dục được đo bằng cách kết hợp giữa tỷ lệ người biết chữ và tỷ

phát triển của thế giới và nhân loại. Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một
chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống
nhất.Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết giữa các quốc gia lại với nhau, các
quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, sự ổn định và phát
triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và
phát triển của các quốc gia khác. Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài
người bởi. “Nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc
biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính
trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh không chỉ
trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới. Bởi những bất công và nghèo đói
thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế, và
nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng
con đường hòa bình thì tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh.[9]
2.2.1.2. Các giải pháp và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới.
 Giải pháp
Từ thực trạng đói nghèo trên thế giới đã rút ra được bài học kinh
nghiệm chống đói nghèo ở các nước trong khu vực, mà một số nước thực hiện đã
có kết quả. Đó là can thiệp vĩ mô thuộc vai trò quản lý của nhà nước để
chống đói nghèo, XĐGN có hiệu quả. Điểm mẫu chốt của nhà nước là kịp
thời có những chính sách, giải pháp đúng đắn, đồng bộ đảm bảo được những điều
kiện để thực thi.
 Kinh nghiện XĐGN của một số nƣớc
Vấn đề đói nghèo và XĐGN đang trở thành chủ đề quan tâm của toàn
nhân loại. Việc hạn chế và từng bước XĐGN là nhiệm vụ quan trọng và nặng
nề của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia. Trong một vài thập kỷ
gần đây, công tác XĐGN trên thế giới và một số quốc gia đã đạt được một số kết
quả nhất định. Các kết quả này được tổng kết và đút rút thành kinh nghiệm để cho
các nước tham khảo và học tập.

11

12
dân số đã giảm từ 3,2%/năm(1950) xuống còn 1,5%/năm(1985). Hệ thống y
tế , chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư
thích đáng.[10]
* Kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý
đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng
đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng
60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói,
tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân
dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông
thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên
tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội. Để ổn định tình hình chính trị - xã
hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã
hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát
triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển
nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay.
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao.
- Thay giống lúa mới có năng suất cao.
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các
HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và
nâng cấp nhà ở.
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có
việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân các thành phố lớn để kiếm
việc làm. chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ
cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng
hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói
giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn. Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành 1
nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách


14
Tính đến năm 2010, có hơn 77% người nghèo được hưởng lợi từ các
chương trình và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, cho thấy mức độ phổ cập
chính sách rộng khắp trên cả nước.
Đánh giá về những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc xây
dựng những chính sách giảm nghèo, bà Victoria Kwa kwa, Giám đốc Quốc
gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam nhấn mạnh: Thành công của Việt Nam
có được đầu tiên là nhờ vào tầm nhìn và quyết tâm lãnh đạo của Chính phủ, cũng
như tinh thần chịu khó, làm việc chăm chỉ của người dân Việt Nam. Là đối tác
phát triển, WB rất tự hào được đồng hành cùng Việt Nam trong chặng
đường phát triển kinh tế-xã hội, XĐGN thời gian qua, đóng góp cho sự phát triển
chung của Việt Nam. Cơ hội hợp tác này cũng giúp cho WB kiểm nghiệm những ý
tưởng mới với điều chắc chắn rằng, hỗ trợ phát triển là có thể làm được và hiệu quả.
Chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của
Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo là chương
trình lớn và quan trọng, có tác động mạnh đến giảm nghèo và nâng cao
điều kiện sống của người nghèo. Chương trình này đã lồng ghép một loạt
các hạng mục phát triển kinh tế-xã hội như: Phát triển cơ sở hạ tầng công cộng cấp
xã, tín dụng cho người nghèo, bảo hiểm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh
môi trường và các chương trình khuyến nông.
Với chính sách toàn diện thúc đẩy mọi khía cạnh của đời sống, hướng đến
nhóm dân cư dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất ở vùng sâu, vùng xa, các chương
trình này đã đạt được mục tiêu chung là giảm nghèo, tăng thu nhập và cải thiện
điều kiện sống của nhóm người dân những vùng này. Kết quả đánh giá tác động qua
3 năm thực hiện cho thấy tỷ lệ nghèo đã giảm 4-5%/năm và khả năng tiếp cận dịch
vụ xã hội như giáo dục, y tế, điện, nước sạch của các hộ gia đình tăng đáng kể.
Vấn đề đảm bảo nhà ở cho người thu nhập thấp cũng được nhà nước quan
tâm. Nhiều chính sách, chương trình phát triển nhà ở cho các đối tượng có khó khăn
về nhà ở như người lao động tại các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên, người


16
- Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng
bộ về chính sách đầu tư cơ sơ hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách
khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn làm ăn, khuyến nông lâm
ngư, chính sách giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh
tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế.
- Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân hộ
nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn sản xuất, gia đình đông
con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí bừa bãi, lười lao động, mắc tệ nạn xã hội
như: Cờ bạc, rượu chè, nghiện hút. Ngoài ra còn một bộ phận không nhỏ
người nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước
nên chưa chủ động vươn lên tự thoát nghèo.
Để xác định các biện pháp phù hợp trong công cuộc XĐGN, mỗi địa
phương phải xác định rõ đâu là nguyên nhân chính và những thuận lợi, khó
khăn của địa phương mình.
2.2.3.3. Chính sách XĐGN của Việt Nam
Chương trình 134. Chương trình 134 tên gọi khác là chương trình hỗ
trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo, đời sống khó khăn mà Chính phủ Việt Nam áp dụng từ năm 2004 nhằm
mục đích đẩy nhanh tiến độ xóa nghèo cho các hộ dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Các nội dung chính sách của Chương trình 134 gồm:
- Đảm bảo mỗi hộ dân tộc thiểu số có tối thiểu 0,5 ha đất nương, rẫy
hoặc 0,25ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15ha đất ruộng lúa nước hai vụ để
sản xuất nông nghiệp.
- Đảm bảo mỗi hộ dân tộc thiểu số ở nông thôn có tối thiểu tối thiểu
200m đất ở. Riêng hộ dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có chính sách riêng.
- Chính quyền trung ương cùng chính quyền địa phương sẽ trợ cấp cho các hộ
dân tộc thiểu số nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà ở tạm bợ để họ xây nhà.
- Chính quyền trung ương sẽ trợ cấp bằng 0,5 tấn xi măng cho mỗi hộ dân tộc

Các chính sách theo vùng: Đó là các chính sách có trọng tâm hỗ trợ cho một
số vùng nhất định như: Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các xã biên

18
giới Việt Nam - Lào - Căm-pu-chia, vùng Tây Bắc; Giải quyết đất ở, đất
canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ;Giao rừng và bảo vệ rừng
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Thanh Hóa- Nghệ An,
Chính sách giảm nghèo tiếp cận theo ngành: Chính sách này tập trung hỗ trợ
theo từng lĩnh vực cụ thể như giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, nước
sạch, trồng rừng .
Các chính sách tiếp cận đặc trưng cho nhóm nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
như: Chính sách hỗ trợ một số dân tộc đặc biệt khó khăn; những dân tộc đặc biệt ít
người,.
Các nhóm chính sách trên thông qua các dự án, các chương trình
nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào các dân tộc thiểu số, đưa vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo
nàn, lạc hậu, chậm phát triển; tạo điều kiện cho hộ nghèo tiếp cận với các dịch vụ
xã hội và hoạt động nâng cao nhận thức, năng lực giảm nghèo.(Bộ LĐ-
TB&XH)[3].
2.2.3.5. Vấn đề về giảm nghèo bền vững
Một số trao đổi về khái niệm giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới và trong thời gian gần đây được
đưa vào sử dụng trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các chính sách vĩ
mô về công tác xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có một
khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ này. Do vậy, để tìm hiểu khái niệm về giảm
nghèo bền vững chúng ta cần phải tìm hiểu rộng hơn về các vấn đề này, nó bao gồm
các nội dung về giảm nghèo và phát triển bền vững.
Trước khi bàn về giảm nghèo và phát triển bền vững, cần có những trao đổi về
một số thuật ngữ hay sử dụng như nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo, rơi
xuống nghèo và thoát nghèo bền vững, Hiện nay, chưa có các văn bản chính thức

2.2.3.6. Vấn đề đói nghèo của tỉnh Lai Châu
Chương trình XĐGN tỉnh Lai Châu nói chung và huyện Tam Đường nói riêng
là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo, hộ nghèo,

Trích đoạn Tình hình nhà ở và phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Các giải pháp trước mắt Giải pháp giảm nghèo bền vững chống tái nghèo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status