Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển vải thiều tại xã tân hoa huyện lục ngạn tỉnh bắc giang - Pdf 30


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


DƢƠNG VĂN TƢỞNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
VẢI THIỀU TẠI XÃ TÂN HOA – HUYỆN LỤC NGẠN – TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ Đào Tạo : Chính Quy
Chuyên Nghành : Khuyến nông
Lớp : K43 - KN
Khoa : KT &PTNT
Khóa Học : 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Dƣơng Xuân Lâm
Thái Nguyên, năm 2015
i

Từ viết tắt Diễn giải
BVTV : Bảo vệ thực vật
CBHQ : Chế biến hoa quả
CC : Cơ cấu
DV : Dịch vụ
GO : Tổng giá trị sản xuất
GT : Giá trị
KN : Khuyến nông
LĐ : Lao động
LĐNN : Lao động nông nghiệp
NK : Nhân khẩu
NN : Nông nghiệp
PNN : Phi nông nghiệp
PTNT : Phát triển nông thôn.
QL : Quốc lộ
TCN : Tiêu chuẩn ngành
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
iii

MỤC LỤC

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

4.3. Thực trạng sản xuất vải thiều những hộ điều tra 40
4.3.1. Nguồn lực của hộ 40
4.3.2. Tình hình đầu tư thâm canh cây vải thiều 41
4.3.3. Tình hình sản suất vải thiều qua các năm của các hộ điều tra 43
4.3.4. Nguồn cung cấp thông tin và nơi tiêu thụ vải thiều 44
4.4. Đánh giá chung về sự phát triển vải thiều tại xã Tân Hoa từ năm 2012-2014. . 46
4.4.1.Thuận lợi 46
4.4.2. Khó khăn 46
4.5. Giải pháp phát triển vải thiều ở xã Tân Hoa 49
4.5.1. Giải pháp về kinh tế 49
4.5.2. Giải pháp về kỹ thuật 50
4.5.3. Giải pháp về chính sách 52
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ 58

v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất vải quả Việt Nam so với thế giới 17
bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Tân Hoa từ năm 2012-2014 27
Bảng 4.2: Tình hình khí hậu, thời tiết năm 2014 của xã Tân Hoa. 28
Bảng 4.3: Tình hình cơ sở vật chất chủ yếu của xã đến tháng 12/2014 32
Bảng 4.5: Tổng giá trị sản xuất các ngành nghề kinh tề xã Tân Hoa từ năm 2012-
2014 34
Bảng 4.6: Số hộ trồng vải thiều của xã Tân Hoa qua 3 năm từ 2012-2014. 35
Bảng 4.7: Diện tích trồng vải thiều của xã Tân Hoa qua 3 năm 2012-2014 36
Bảng 4.8: Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng vải thiều của xã Tân Hoa trong

Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malayxia, Philippin,
Indonexia và Nhật Bản. Châu Phi có: Mali, Madagaxca và Nam Phi. Châu Mỹ có:
Mỹ, Braxin, Jamaica. Châu Đại Dương có: Úc, Niudilan. Ở Việt Nam, cây vải được
nhà nước cũng như người sản xuất rất quan tâm, cây vải đã và đang được phát triển
mạnh thành vùng tập trung như: Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương), Đồng Hỷ (Thái
Nguyên), Đông Triều, Tiên Yên (Quảng Ninh), Yên Thế, Lục Nam, Sơn Động, Lục
Ngạn (Bắc Giang). [2]
Lục Ngạn là huyện miền núi tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên là:
101.223,72 ha, trong đó đất nông nghiệp xấp xỉ 28.144 ha (chiếm 27.8% tổng diện
tích đất tự nhiên) có kiểu vùng khí hậu, đất đai thích hợp với nhiều loại cây ăn quả
Á nhiệt đới như: vải, nhãn, hồng, xoài, đào, mơ, mận,… trong đó vải thiều chiếm vị
trí quan trọng. Theo điều tra nông nghiệp nông thôn tháng 10/2006 Lục Ngạn có
tổng diện tích cây vải là 19.212 ha, tổng sản lượng 52.500 tấn, giá trị sản xuất
khoảng 367,5 tỷ đồng/năm.
Trong những năm qua sản lượng vải không ổn định có phần giảm xuống,
nhưng vị trí kinh tế của cây vải luôn giữ vai trò quan trọng đối với người dân huyện
Lục Ngạn. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ đã có hàng loạt

2

câu hỏi đặt ra như hiệu quả kinh tế của sản xuất vải hiện nay ở Lục Ngạn như thế
nào? Những thuận lợi, khó khăn,đối với việc phát triển sản xuất vải ở Lục Ngạn ra
sao? Những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây vải thiều trên địa bàn
huyện Lục Ngạn? Từ những yêu cầu thực tiễn ở xã Tân Hoa - huyện Lục Ngạn -
tỉnh Bắc Giang, để có những cơ sở đánh giá đúng thực trạng và thấy rõ được tồn tại
trong việc phát triển cây vải thiều từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất, tiêu
thụ vải thiều ở xã Tân Hoa nhằm tạo ra bước phát triển nhanh vững chắc cho cây
vải thiều trong thời kỳ tới là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết. Xuất phát từ
những vấn đề nêu trên tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề
xuất giải pháp phát triển vải thiều tại xã Tân Hoa - huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất vải thiều
Vải thiều là cây ăn quả dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một loại cây
trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và
văn hoá con người, sản xuất vải thiều tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu khẩu
vị, là món tráng miệng hấp dẫn của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.
Vải thiều có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể , giải khát, có tác dụng giảm
thiê
̉
u mô
̣
t số bê
̣
nh thươ
̀
ng gă
̣
p về ma
́
u. Phần áo hạt vải thường gọi là múi vải, thành
phần chủ yếu là đường, ngoài ra có vitamin A, B, C. Vitamin A và vitamin B chỉ có
trong múi vải tươi. Múi vải cũng là một vị thuốc trong Đông y, vị ngọt chua, tính
bình, có tác dụng dưỡng huyết, giảm cơn khát, chữa những bệnh mụn nhọt. [11]
Đối với nước ta, vải thiều không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước, mà còn là
một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nước ta có

Đặc điểm nổi bật nhất của cây vải thiều là cây ăn quả dài ngày, có chu kỳ kinh
tế tương đối dài khoảng 50 - 60 năm. Sản phẩm chính của cây vải là quả, trong quá
trình chăm sóc tạo ra sản phẩm, cần phải có những biện pháp kỹ thuật trồng trọt phù
hợp để cho quả vải được đạt năng suất và chất lượng cao nhất. [10]
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc phát triển vải thiều
2.1.3.1. Điều kiện tự nhiên
* Thời tiết khí hậu
Nhiệt độ là nhân tố chủ yếu tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh
trưởng sinh thực của cây vải. Cây vải sinh trưởng tốt ở những vùng có nhiệt độ bình
quân năm từ 21 - 25°C. Giống chín muộn ở 0°C và giống chín sớm ở 40°C thì
ngừng sinh trưởng dinh dưỡng. Khi nhiệt độ từ 8 - 10°C thì khôi phục sinh trưởng,
10 - 12°C sinh trưởng chậm, 21°C trở lên sinh trưởng tốt, 23 - 26°C sinh trưởng
mạnh nhất. [10]
Thể nguyên thuỷ của hoa vải là mầm hỗn hợp, có hoa, có lá. Nhiệt độ cao ức
chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sự

6

phát triển của lá. Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hoá cành hoa nhỏ và cơ
quan hoa, ức chế sự phát dục thể nguyên thuỷ của lá, thiên hướng về sinh thực.
Quá trình phân hoá mầm hoa vải liên quan chặt chẽ tới nhiệt độ, nhiệt độ từ 0
- 10°C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hoá mầm hoa. Ở 11 - 14°C
cành hoa và lá đều có thể phát triển thành các chùm hoa có giá trị kinh tế, ở 18 -
19°C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhỏ, nhiều lá nhưng không có
giá trị về kinh tế. [10]
Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải. Quan hệ giữa nhiệt độ
bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm có mối tương
quan nghịch, R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao.
Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả. Nhiệt
độ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược

* Ảnh hưởng của giống vải thiều
- Giống vải ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng, đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Mỗi một điều kiện sinh thái, mỗi vùng lại thích hợp cho một giống
chè hay một số giống nhất định.
- Cây giống trồng theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN - 2001, cụ thể: Cây giống
nhân bằng phương pháp ghép được trồng trong túi bầu polietylen có kích thước tối
thiểu: đường kính x chiều cao là 10 x 22cm. Cây giống phải có sức tiếp hợp tốt,
cành ghép và gốc ghép phát triển đều nhau, phần vết ghép đã được tháo bỏ hoàn
toàn dây ghép, có bộ rễ phát triển tốt, sinh trưởng khoẻ, không mang theo những
loại sâu bệnh nguy hiểm, có đường kính gốc ghép cách mặt đất 2 cm là 0,8 - 1 cm,
đường kính cành ghép từ 0,5 - 0,7cm, chiều dài cành ghép từ 30 - 40 cm và có từ 2
- 3 cành cấp 1 trở lên.
* Ảnh huởng thời vụ trồng
-Thời vụ trồng ảnh huớng rất lớn đến việc sinh truởng và phát triển của cây
vải.
- Cây vải thiều có thể trồng được quanh năm, nhưng có 2 thời điểm trồng
thích hợp nhất là vụ xuân tháng 2 - 4 và vụ thu tháng 8 - 10 dương lịch.

8

* Ảnh huởng của các biện pháp kỹ thuật trồng: Cách đào hố, kỹ thật trồng và mật
độ hợp lý sẽ giúp cho cây vải tạo tán và pháy triển một cách nhanh nhất.
* Đào hố và bón phân lót
- Đào hố trồng vải phải dựa trên nguyên tắc: đất xấu đào to, đất tốt đào nhỏ.
Thông thường kích thước hố: Dài x rộng x sâu là: 0,8cm x 0,80m x 0,6cm, vùng
đồi đất xấu cần đào hố to hơn, kích thước tương ứng là: 1m x 1m x 0,8m.
- Bón lót: Cho 1 hố: 30 - 50 kg phân chuồng; 0,7 - 1,0 kg supe lân, 0,5
kg vôi bột.
- Khi đào: Để lớp đất mặt một bên, lớp đất dưới một bên. Lớp đất mặt trộn
với toàn bộ lượng phân bón lót và lấp lên đến miệng hố, lớp đất dưới đáy xếp thành

+ Vôi bột: 0,3 - 0,5 kg/cây
- Phương pháp bón phân:
+ Hoà phân vô cơ với nước phân chuồng ủ kỹ để tưới cho cây cách gốc 15 -
20 cm.
+ Cuốc 3 - 4 hố sâu 5 - 7 cm xung quanh tán, bón phân rồi lấp đất.
+ Rắc xung quanh hình chiếu tán cách gốc 15 - 20cm khi trời có mưa rào
hoặc tưới nước.
* Giai đoạn kinh doanh: Từ năm thứ 3 trở đi
- Tưới nước, làm cỏ
+ Ở thời kỳ cây đang cho quả cần cung cấp đủ nước tưới vào các thời kỳ
chính là thời kỳ cây chuẩn bị ra hoa, thời kỳ quả phát triển.
+ Thường xuyên làm sạch cỏ xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây để
hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng.
- Bón phân
+ Liều lượng và tỷ lệ phân bón:
Tuỳ theo hiện trạng sinh trưởng của cây, sản lượng quả thu hoạch của năm
trước để xác định liều lượng bón cho cây cho thích hợp. Với những cây nhiều năm
tuổi (cho năng suất bình quân từ 100 kg quả tươi/năm/cây trở lên) thì có thể bón với
lượng như sau: 3 kg Đạm Ure + 2 ml Neb-26 (= 2 lọ 100 ml) + 15 kg NPK (16-16-
8+13S) Phú Mỹ + 10 kg Kaliclorua/sào = 360 m2
+ Lượng phân bón cho ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây

10

- Thời kỳ và liều lượng bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón.
+ Lần 1: Bón giai đoạn đậu quả (phân quả xong, quả bằng hạt mây): 20%
đạm urê + 35% Neb-26 + 100% NPK(16-16-8+13S) + 40% kaliclorua.
+ Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả (quả tạo
cùi được 1/3 hạt): 13% đạm urê + 35% Neb-26 + 60% kaliclorua.
+ Lần 3: Bón sau khi thu hoạch quả xong 15 ngày, thúc ra lộc thu (thu hoạch

nhau để cây quang hợp được tốt.
* Cắt tỉa hàng năm cho vườn vải thiều kinh doanh:
- Cắt tỉa vụ xuân: được tiến hành vào giữa tháng 2 đến giữa tháng 3, cắt bỏ
những cành xuân chất lượng kém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn xộn
trong tán, những chùm hoa nhỏ, thưa, mọc sâu trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh. Với
cây khoẻ mạnh, chăm sóc tốt thì có thể tỉa bỏ 20 – 30% số chùm hoa, những cây
yếu cần tỉa bỏ nhiều hơn.
- Cắt tỉa vụ hè: Được tiến hành giữa tháng 5 đến đầu tháng 6, cắt bỏ những
cành hè mọc nhỏ, yếu, mọc quá xít nhau, chỉ để lại 1 - 2 cành khoẻ trên cành mẹ.
Đồng thời với việc tỉa cành là cắt bỏ những chùm chùm quả nhỏ, sâu bệnh.
- Cắt tỉa vụ thu: Được tiến hành sau khi thu quả vào cuối tháng 6 đến đầu
tháng 7, tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh và các cành hè mọc quá dài. Khi lộc thu
hình thành mọc dài khoảng 10 cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và
chọn để lại 1 - 2 cành thu trên mỗi cành mẹ.
- Ảnh hưởng việc phòng trừ sâu, bệnh hại và cỏ cho cây vải: Việc phòng
trừ sa, bệnh hại và cỏ dại cho vải thiều giups cho cây phát triển tốt không bị sâu
bệnh hại, phòng trừ cỏ dại tránh cho cây bị tanh chấp dinh dưỡng với những loại cỏ
dại có ảnh huởng đến quá trình hấp thu dinh dưỡng của cây. [10]
* Phòng trừ sâu hại vải thiều
 Bọ xít nâu (Tessaratoma papillosa Drury)
- Đặc điểm gây hại: Trưởng thành qua đông vào tháng 12, 1 sau đó đẻ trứng
vào tháng 2, 3, 4, trứng nở, bọ xít non gây hại các đợt lộc, hoa và quả non.
- Phòng trừ:

12

+ Vụ đông, rung cây vào buổi sáng sớm khi lá còn ướt sương cho bọ xít rơi
xuống, tập trung lại và đốt.
+ Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ.
+ Phun thuốc diệt bọ xít non bằng Dipterex 0,3%; Sherpa 0,2%.

khuẩn xâm nhập làm thối quả.
- Phòng trừ: + Xông khói xua đuổi.
+ Bẫy ngài bằng lồng lưới.
+ Bẫy bằng bả hoá học: Naled 5% + Metyl Eugenol 95% +
dịch nước cam, dứa, chuối, mía, mít (100m2/1 bả).
 Nhện lông nhung hại vải (Eriophyes litchii Keifer)
- Đặc điểm gây hại: Nhện lông nhung phát sinh quanh năm, gây hại chủ yếu
trên các đợt lộc, nặng nhất vào vụ xuân. Sâu non nở ra chích hút biểu bì mô mặt
dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá làm cho lá dị dạng có mầu nâu đỏ như nhung,
mặt trên lá xoăn, phồng rộp phát triển không bình thường, làm cho lá quang hợp
kém, dễ rụng.
- Phòng trừ:
+ Thu gom các lá rụng và cắt bỏ các cành bị hại nặng đem đốt. Sau thu quả
và vụ đông cắt tỉa cho cây thông thoáng, làm vệ sinh vườn để giảm bớt điều kiện
hoạt động của nhện.
+ Sử dụng thuốc: Regent 0,1%; Pegasus 0,1%; Ortus 0,1% có tác dụng diệt
nhện trưởng thành tốt. Phun cho mỗi đợt lộc 2 lần: lần 1 nhú lộc, lần 2 lộc ra rộ.
 Câu cấu hại vải (Xanthochellus sp)
- Đặc điểm gây hại: Sâu non và trưởng thành cắn cành non, ăn khuyết lá khi
cây xuất hiện những đợt lộc làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây non.
- Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc Sherpa 0,1%, Sumicidin 0,1%, supraside
0,15% phun vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm.
* Phòng trừ bệnh hại vải thiều
 Bệnh mốc sương (Pseudoreronospora sp)
- Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại trên chùm hoa, lá đặc biệt là quả sắp chín
và chín làm chùm hoa biến mầu đen, quả thối và rụng.

14

- Phòng trừ: Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, tiêu hủy để hạn chế

khâu tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là xây dựng các nhà máy, các cơ sở hiện đại chế
biến vải thiều.
Các vấn đề nhân công lao động, các chính sách đầu tư khuyến khích phát
triển, các chính sách vĩ mô của Nhà nước cho vải thiều đều có tác động đến sự phát
triển của cây vải thiều. Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống sản xuất còn ảnh
hưởng rất lớn tới chất lượng vải thiều. Nếu các vấn đề trên được giải quyết triệt để
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất vải thiều phát triển.
* Thị trường
- Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của cơ
sở sản xuất kinh doanh vải thiều của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị
trường. Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải
trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản
xuất cho ai. Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng.
Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị trường, tức là xác định
nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất
ra. Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
- Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức
tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là tối đa.
Còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ được thị
trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ.
- Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường. vải thiều có ưu
thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó trong mấy năm gần đây đã được
người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến, khả năng cạnh tranh của nó với các
loại cây ăn quả khác là rất cao. Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và tương đối ổn
định. Chính nhờ những ưu điểm trên dễ tạo ra thị trường khá ổn định và khá vững
chắc, là điều kiện, là nền tảng để kích thích, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngưởi
dân trồng vải nói riêng và của cả nước nói chung.
* Giá cả

16


17

với Trung Quốc tại website của Sở nhằm đưa thông tin cho người dân trồng vải
thiều và các thương nhân, giúp điều chỉnh kịp thời, tháo gỡ khó khăn trong quá trình
tiêu thụ. [14]
Chỉ đạo Chi cục Quản lý thị trường tỉnh đấu tranh chống gian lận thương
mại, tạo sự minh bạch, tránh để thiệt thòi cho người dân. Phối hợp với các ngành
chức năng tập trung vào các hoạt động kiểm soát đơn vị đo lường (cân hàng), lưu
hành tiền giả, chống tranh mua, tranh bán, ép cấp, ép giá…Chỉ đạo ngành điện cung
cấp điện đầy đủ cho các huyện có sản lượng tiêu thụ vải lớn.
Hội sản xuất và tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn đã gặp gỡ một số thương nhân
chuyên thu mua vải thiều, đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu vải thiều Lục
Ngạn, tìm kiếm khách hàng và kết nối tiêu thụ.
Công an tỉnh và Sở Giao thông Vận tải đã phối hợp với UBND các huyện và
cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo an ninh,
trật tự, giải quyết các tệ nạn, an toàn giao thông tại các điểm nóng, hạn chế ùn tắc
giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, tiêu thụ vải thiều.
Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học & Công nghệ đã hướng dẫn nông
dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để kéo dài thời vụ và bảo quản vải thiều
sau thu hoạch đảm bảo chất lượng.
Các ngành chức năng và UBND các huyện đã tập trung cao trong công tác chỉ
đạo sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, các thương nhân đến địa phương
thu mua, chế biến vải thiều. Đồng thời, tăng cường công tác thông tin, xúc tiến
thương mại, quảng bá thương hiệu và tìm kiếm thị trường.
Các Ngân hàng thương mại đã chủ động bố trí nguồn vốn và tạo điều kiện
thuận lợi cho các thương nhân vay vốn tiêu thụ vải thiều. Các thủ tục giao dịch qua
hệ thống ngân hàng thông suốt và nhanh gọn. [14]
2.2.2. Kết quả sản xuất vải thiều trên thế giới
Năm 2014, sản lượng vải quả của thế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn, trong đó

0,54
Băng la đét
13.000
0,50
Reunion
12.000
0,46
Nam Phi
8.600
0,33
Mauritius
4.500
0,17
Mexico
4.000
0,15
Pakistan
3.000
0,12
Úc
2.500
0,10
Israel
1.200
0,05
Mỹ
600
0,02
Khác
51.600


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status