BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 HÀ NỘI, 2014 HÀ NỘI, 2014 Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Minh Tâm
HÀ NỘI, 2014 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Hà Minh Tâm đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đai học sư phạm Hà Nội 2,
phòng sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN , trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn .
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Văn phòng thống kê - Ủy ban nhân dân phường
Xuân Hòa – Thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tận tình trong thời gian tôi
nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia
đình, đồng nghiệp và bạn bè của tôi đã hết lòng chia sẻ, giúp đỡ, động viên, khích lệ
tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 2
Ý nghĩa của đề tài 2
Đóng góp mới của đề tài 2
Bố cục của luận văn 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Trên thế giới 3
1.2. Ở Việt Nam 7
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 14
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
2.2. Thời gian nghiên cứu 14
2.3. Nội dung nghiên cứu 14
2.4. Phương pháp nghiên cứu 14
BẢNG CHÖ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
nnk : Những người khác
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nxb : Nhà xuất bản
KH & KT : Khoa học và kĩ thuật
KHTN & CN : Khoa học tự nhiên và công nghệ
TBNN : Trung bình nhiều năm
Tp : Thành phố
Tr : Trang
đoạn giao với đường Vành đai.
Bảng 4.9. Diện tích tán cây trên Phố Lê Xoay.
Bảng 4.10. Diện tích tán cây trên phố Kim Đồng.
Bảng 4.11. Diện tích tán cây trên đường Phạm Văn Đồng.
Bảng 4.12. Diện tích tán cây trên phố Võ Thị Sáu.
Bảng 4.13. Độ che phủ của cây bóng mát trên các tuyến đường thuộc Phường
Xuân Hòa.
Bảng 4.14. Đề xuất tập đoàn cây theo điều kiện hè phố.
DANH MỤC ẢNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Chất lượng cây bóng mát phường Xuân Hòa.
Ảnh 1. Rễ cây ăn ngang phá hỏng mặt đường.
Ảnh 2. Cây bị tỉa trơ làm mất dáng vẻ của cây.
Ảnh 3. Cây bóng mát ảnh hưởng tới an toàn giao thông.
Ảnh 4. Ảnh hưởng của các hoạt động xây dựng lên sự phát triển của cây.
Ảnh 5. Tán cây phát triển sát vào ban công, thân cây đổ nghiêng ra mặt đường.
Ảnh 6. Cây cao trên 3m bị ảnh hưởng bởi hệ thống cột điện và đường dây điện.
Ảnh 7. Cây bóng mát trên đường Nguyễn Văn Linh.
Ảnh 8. Hàng cây trồng trên đường Vành đai.
Ảnh 9. Cây bóng mát trên đường Phạm Văn Đồng.
Ảnh 10. Cây bóng mát trên phố Võ Thị Sáu.
Ảnh 11. Cây bóng mát ở phố Kim Đồng.
Ảnh 12. Cây bóng mát bị vướng hệ thống dây điện
Vĩnh Phúc được thành lập năm 2004 với diện tích khoảng 4,24 km
2
là nơi tập
trung các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nhiều nhà máy
lớn nhỏ đang hoạt động sản xuất kinh doanh với đủ các ngành nghề khác
nhau. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
quá trình đô thị hoá ở Phường Xuân Hòa cũng diễn ra nhanh chóng, bộ mặt
đô thị được cải thiện, đổi mới từng ngày. Ngày 21/01/2013, Bộ trưởng Bộ
Xây dựng đã ra Quyết định số 93/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Phúc
Yên trong đó có phường Xuân Hòa là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Vĩnh
Phúc. Phường Xuân Hòa với dân số năm 2008 là 21.396 người, mật độ dân số
là 5.046 người/km². Hàng năm có hơn 13000 sinh viên học tập tại các trường 2
Đại học, cao đẳng, trung cấp, trung tâm Giáo dục Quốc phòng thuộc khu vực
phường Xuân Hòa. Tác động của con người đến môi trường đang ngày càng
tăng về quy mô, vấn đề về ô nhiễm môi trường đô thị trở nên cấp thiết hơn
bao giờ hết. Làm sao để môi trường đô thị xanh, sạch, đẹp? Đây là một nhiệm
vụ hết sức quan trọng đối với tất cả các cấp các ngành, các cấp và người dân.
Từ thực tế nêu trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và
đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường Xuân Hòa”.
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng cây bóng mát, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hệ
thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc,
nhằm giữ cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan và phát triển kinh tế địa phương.
Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên ngành
Sinh thái học và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về hệ thống cây xanh
đô thị, tài nguyên thực vật, đa dạng sinh học.
Trước đây, việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí và kiến trúc cảnh
quan. Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các
nhà quí tộc, sự ham mê của những người làm vườn Về phương diện bảo vệ
môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu có thì chỉ mang tính cục bộ đối
với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó.
Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành
công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông làm cho môi
trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Cho nên, bảo vệ môi
trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách.
Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có
vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và 4
giải quyết các vấn đề môi sinh. Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì
sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi
trường. Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa
học quan tâm. Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này
mới được nghiên cứu một cách hệ thống.
Để nghiên cứu cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều
thuật ngữ để mô tả như: phức hợp rừng, lâm nghiệp vành đai xanh, kỹ nghệ
xanh, lâm nghiệp tiện ích, lâm nghiệp đô thị
Trong số các thuật ngữ đó thì lâm nghiệp đô thị là thuật ngữ được nhiều
người chú ý và sử dụng. Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu tại trường
Đại học Torondo (Canađa) vào năm 1965. Tuy nhiên, phải sau đó 5 năm,
Jogensen (1970) mới đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này. Theo ông thì lâm
nghiệp đô thị không chỉ liên hệ đến cây xanh đô thị hay quản lý các cây cá lẻ
mà còn quản lý cây xanh trên toàn bộ diện tích chịu ảnh hưởng và sử dụng
bởi quần thể cư dân đô thị. Sau đó, được các nhà nghiên cứu khác bổ sung
phù hợp với cuộc sống của người dân, nhất là người dân trong các đô thị. Tác
giả đã mô tả các kỹ thuật và đưa ra phương pháp xây dựng các vườn (cảnh
quan) không chỉ trên qui mô là vườn hoa hay công viên phục vụ chung cho
cộng đồng, mà còn đưa ra các mô hình cho các hộ gia đình để tạo nên không
gian xanh cho căn hộ hay khu vườn của gia đình.
Boo Chih Min, Kartini Omar-Hor & Ou-Yang Chow Lin (2006) [37]
đã mô tả hệ thống các vườn thực vật ở Singapore, trong đó có nêu lên vai trò
của các cảnh quan, đặc điểm của các loài cây trong việc thiết kế cảnh quan và
kỹ thuật làm vườn. Trong công trình này, tác giả đã đưa ra các nguyên tắc để
phân loại cây xanh đô thị như sau:
- Theo nguồn gốc: gồm có cây trồng nhân tạo và cây tự nhiên.
- Theo dạng sống thực vật:
+ Theo hình thái lá có: cây lá rộng, cây lá kim.
+ Theo mùa: cây rụng lá, bán rụng lá, cây thường xanh.
+ Theo hình dạng tán lá: cây tán rộng, cây tán hẹp; cây tán dày, cây tán
thưa; tán hình chóp, hình trứng, hình dù 6
+ Theo kích thước: cây gỗ, cây bụi, cây thảo và dây leo. Trong nhóm cây
gỗ lại có thể phân chia thành cây gỗ lớn có H>20m, cây gỗ trung bình có
H=15-20m, cây gỗ nhỡ H=10-15m và cây gỗ nhỏ H=6-10m. Cây bụi có chiều
cao H<6m.
- Theo mục đích sử dụng: gồm có cây che bóng, cây phủ xanh, cây trang trí
- Theo tuổi thọ: cây lâu năm, cây một năm; cây có đời sống dài, cây có
đời sống ngắn; cây dài ngày, cây ngắn ngày
- Kết hợp dạng sống và chức năng sử dụng có thể phân chia thành các
nhóm: cây đại mộc, cây rào che, cây rào chắn, cây dạng bụi, dây leo, cỏ, cây
che phủ nền và hoa ngắn ngày.
- Phân chia theo qui hoạch môi trường đô thị có [30], [37]:
đề cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu trong nước đều khẳng định: hệ thống
cây xanh đô thị có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ
môi trường và kiến trúc cảnh quan. Hệ thống cây xanh đô thị của nước ta
chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan. Tỷ lệ diện tích cây
xanh quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý. Chúng ta vẫn còn thiếu một giải
pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị.
Phần lớn cây xanh trên hè phố, trong các công viên, các vườn của các
dinh thự Hà Nội mới trồng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Theo Đại Nam nhất
thống chí: Hà Nội là kinh đô xưa có 36 phố phường, năm (1875) có 21 phố:
Hà Khẩu, Việt Đông, Hàng Mắm, Hàng Mã, Báo Thiên, Nam Hoa, Hàng Bồ,
Hàng bạc, Hàng Thiếc, Hồng Lam, Đồng Xuân, Thanh Hà sang đầu thế kỷ
20 phố xá ở rộng ra phía đông và phía nam như hiện nay. Như vậy thảm cây
xanh Hà Nội chỉ được trồng sau khi phố xá hình thành khoảng một trăm năm.
Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát mép hồ. Tháng 11 năm
1885 giải toả các hộ dân sống chung quanh hồ và khởi công đổ đất cạp hồ và
cho san lấp những vùng trũng thấp. Đến đầu năm 1893, con đường nhựa chạy
quanh Hồ Gươm được khánh thành. Thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng 8
được trồng từ đấy với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước. Vì
vậy thảm cây xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây khu vực
Bách Thảo. Có thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít
chịu tác động nhất bởi quá trình đô thị hóa.
Các công viên và vườn hoa khác của thành phố như: Chí Linh, Diên
Hồng, Tao Đàn, Pát-xtơ, Thủ Lệ được trồng cùng thời gian với các hàng cây
trên hè phố theo quy hoạch đô thị thời đó. Nhưng cây cối trên các đường phố
thuộc khu vực Hồ Tây, Ba Đình được trồng sớm hơn khu vực phía nam Hồ
Gươm. Nhưng nói chung thảm cây xanh Hà Nội có tuổi trên 100 năm đã tạo
nên màu xanh tô thêm vẻ đẹp tự nhiên cho thành phố.
được coi như là vùng đệm chuyển tiếp từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh
thái nhân tạo. Do tập trung dân cư đông và công nghiệp phát triển dẫn đến ô
nhiễm môi trường ngày càng tăng. Nguồn gây ô nhiễm chính là: các phương
tiện giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất và rác thải sinh
hoạt hàng ngày. Các chất gây ô nhiễm là: bụi, khói, khí độc, các chất thải,
tiếng ồn Đối tượng dễ bị ô nhiễm nhất là không khí và nguồn nước. Để bảo
vệ môi trường, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì cây xanh có
vai trò vô cùng quan trọng vì hệ thống cây xanh có những chức năng sau:
Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có
khả năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước,
giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm
soát gió và lưu thông gió.
Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: cây xanh có thể giảm thiểu các
chất độc hại trong không khí (CO
2
, SO
2
, CO…) và dưới đất (Chì, Sắt, Kẽm…)
giảm nồng độ bụi, hạn chế tiếng ồn, giảm nhiệt, tạo đối lưu không khí, sinh
nguồn gió mát, tăng lượng oxy…Ví dụ cây Hoè hoa vàng rất phù hợp trồng trên
đường phố, mỗi năm 1 cây Hoè có thể giữ được 2156 tấn bụi trên lá và bụi trên
bãi cỏ dưới cây có thể lưu lại 1/6 đến 1/3 so với bình thường. 10
Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan.
Những tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá,
hoa, thân cây, trạng mùa của lá ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị
thẩm mỹ của công trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung.
Ngoài chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có
+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, có khả năng sống sót và sinh
trưởng tốt trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng (khói, bụi, tiếng ồn),
đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa thấp, thoát nước kém.
+ Về mùa: cây lá rộng thường xanh, có rụng lá thì chỉ từng phần.
+ Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có
màu sắc xinh tươi, đẹp.
+ Các tiêu chuẩn khác: Hạn chế cây có mủ độc. Không có cành nhánh
giòn dễ gẫy, ít hay không có gai. Rễ ăn sâu để có khả năng đứng vững khi
gió bão, không có rễ ăn ngang phá hỏng mặt đường và các công trình ngầm.
Lá không quá nhỏ, nhưng dày mập có nhiều lông tơ để giữ các hạt bụi càng
tốt. Hoa lá có khả năng tiết các chất thơm càng tốt. Ít hoặc không sâu bệnh.
Về các nguyên tắc bố trí cây trồng: Ngoài chức năng điều hoà khí hậu,
bảo vệ môi trường thì cây xanh còn là một yếu tố quan trọng trong kiến trúc
cảnh quan. Vì vậy, trong các công trình xây dựng người ta thường sử dụng
cây xanh để trang trí cảnh quan. Những nguyên tắc chính trong bố trí cây
trồng đã được một số tác giả nghiên cứu [8], [20], [23]. Cụ thể với cây xanh
bóng mát đường phố cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
- Đơn giản: trên một đường phố (đoạn phố) nên trồng một loại cây.
- Thay đổi: Nên kết hợp hình dạng màu sắc và kết cấu để tạo nên sự
thay đổi, tăng tính đa dạng sinh học, khắc phục sự đơn giản, tẻ nhạt của việc
trồng thuần loại. Trên một đường phố, nhất là đối với những đường phố dài,
có thể chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn trồng một loại cây. 12
- Cân bằng: Cân bằng là sự cần thiết cho việc đối với một công trình
kiến trúc. Nó được thể hiện ở cách bố trí hàng cây ở hai bên đường sao cho
hình dạng của hàng cây bên này là hình ảnh của hàng cây bên kia và ngược
lại hàng cây bên kia là hình ảnh của hàng cây bên này.
- Liên tục: Cây trồng đường phố phải tạo thành dải liên tục, đều, không
hành nghiên cứu xây dựng danh lục các loài cây được trồng trong khuôn viên
của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và cung cấp tóm tắt các thông tin về
nguồn gốc, sinh thái, giá trị tài nguyên … cho các loài trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài. Ngoài công trình này, cho tới nay chưa có công trình nào
nghiên cứu về cây bóng mát tại phường Xuân Hòa. Vì vậy công trình của
chúng tôi là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về
cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ
trực tiếp cho việc phát triển hệ thống cây bóng mát phường Xuân Hòa - Thị
xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc. 14
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa
- Phạm vi nghiên cứu: Phường Xuân Hòa và phụ cận, gồm các trục đường
chính là đường Nguyễn Văn Linh, đường Trường Chinh, đường Phạm Văn
Đồng, đường Vành đai, phố Võ Thị Sáu, phố Kim Đồng, phố Lê Xoay.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 06/ 2013- 06/2014.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng cây bóng mát tại khu vực nghiên cứu:
Nghiên cứu đặc điểm thành phần loài.
Đánh giá phổ dạng sống, đặc điểm tổ thành loài, giá trị tài nguyên
Đánh giá chất lượng cây trồng
Xác định diện tích xanh (độ che phủ).
- Xây dựng tiêu chuẩn, lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng.
(đối với cây rụng lá). Cây có bạnh vè và rễ nổi nhưng không ảnh hưởng đến
đường giao thông và các công trình khác lân cận.
+ Cây trung bình: có thể bị cắt tỉa một số cành nhưng tán còn tròn đều,
lá có màu sắc tươi tốt, thân không bị sâu bệnh, có u mấu nhưng không ảnh
hưởng đến hình dạng thân cây. Gốc cây có bạnh vè và nổi đã bắt đầu ảnh
hưởng đến các công trình khác: đường giao thông, tường nhà, hàng rào…
+ Cây xấu: cành nhánh bị cắt tỉa nhiều, tán không đều nhưng vẫn còn
tác dụng che bóng, thân cong, sâu bệnh, thân bị biến dạng do có nhiều u mấu.
Bạnh vè và rễ nổi đã ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, làm nứt mặt
đường, hè phố nhưng chưa nghiêm trọng, có thể khắc phục để đảm bảo an
toàn được.
+ Cây rất xấu: cành bị gẫy hay cắt tỉa nhiều, tán lá bị vỡ không tác
dụng che bóng; thân bị biến dạng do sâu bệnh và u mấu phát triển, cây rỗng 16
ruột, thối rễ có nguy cơ bị đổ khi có gió to. Bạnh vè và rễ nổi ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hè đường và các công trình khác, có nguy cơ đe dọa đến an
toàn của công trình, rất khó hoặc không thể khắc phục. Cây thuộc loại này cần
phải loại bỏ để đảm bảo an toàn.
Số liệu được ghi riêng cho từng loài theo mẫu sau:
Bảng2.1 . Mẫu điều tra hiện trạng cây xanh
Tuyến điều tra:………
Người điều tra: …….
Ngày điều tra: ……
STT
Tên cây
Sinh trưởng
Chất lượng
Ghi
Xử lý số liệu:
- Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và
nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1]
và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [24].
- Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt
Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [10]. Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả,