Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại phường Đề Thám – Thành phố Cao Bằng - Tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

đaị học thái nguyên
Trờng đại học nông lâm
.

.

HONG TH CHINH Tên đề tài:
NGHIấN CU THC TRNG V XUT
GII PHP PHT TRIN KINH T NễNG H
TI PHNG THM - THNH PH CAO BNG -
TNH CAO BNG
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá : 2010 2014

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Lớp : K42 - PTNT
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá : 2010 2014
Giảng viên hớng dẫn: ThS. Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên, 2014
LỜI CAM ĐOAN Đề tài tốt nghiệp "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát
triển kinh tế nông hộ tại phường Đề Thám – Thành phố Cao Bằng - Tỉnh
Cao Bằng", chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu
của riêng tôi đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông
tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài
này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên
cứu khoa học nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện
đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2014


Thái Nguyên, 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thị Chinh
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của phường qua 3 năm 2011 - 2013 23

Bảng 4.2: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính trên địa bàn
Phường Đề Thám 26

giai đoạn 2011 – 2013 26

Bảng 4.3: Tình hình chăn nuôi của phường Đề Thám giai đoạn 2011 – 2013 27

Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động của phường Đề Thám giai đoạn
2011 - 2013 28

Bảng 4.5: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 34

Bảng 4.6: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra năm 2013 36

Bảng 4.7: Tình hình lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra 37

Bảng 4.8:Tình hình nguồn vốn của nhóm hộ điều tra năm 2013 38


NQ – CP Nghị quyết – Chính phủ
SWOT Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
TDTT Thể dục thể thao
TLXC Trọng lượng xuất chuồng
TLXCBQ Trọng lượng xuất chuồng bình quân
TP Thành phố
TPCB Thành phố Cao Bằng
UBND Ủy ban nhân dân

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài 2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

1.4. Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1. Ý nghĩa trong học tập cũng như trong nghiên cứu 2

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.1.1. Các khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ 4


3.3.2. Phương pháp xử lý thông tin số liệu 20

3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu 20

3.4. Hệ thống các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu 20

3.4.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 20

3.4.2. Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ 20

3.4.3. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất 20

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội, đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22

4.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 22

4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 25

4.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ trên địa bàn phường Đề Thám 33

4.2.1.Chỉ tiêu phân loại hộ 33

4.2.2. Thực trạng về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ 33

4.2.3. Tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ điều tra 39

4.3. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế nông hộ của
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới, đời sống người dân đang ngày
càng được nâng cao. Trong cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh đầy nghiệt
ngã, mỗi con người đều lựa chọn cho mình một cách làm giàu chính đáng, đối
với bà con nông dân, tài sản quý giá trong tay không có gì hơn ngoài những
tấc đất, mảnh vườn, mẫu ruộng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế còn
đang có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, nông nghiệp - nông dân -
nông thôn tiếp tục được khẳng định là một động lực quan trọng để giữ vững
sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền
kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị - xã
hội. Kinh tế hộ gia đình đã có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất
lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ
phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất manh mún,
nhỏ lẻ, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát
triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Vì vậy, việc nghiên cứu
vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao
năng lực sản xuất của các hộ kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay là
rất cấp thiết.
Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu
to lớn, song chính trong bản thân nó vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn cơ bản
cần giải quyết đó là:
- Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông

- Phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá
trình phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn phường.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ tại phường
Đề Thám.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập cũng như trong nghiên cứu
- Giúp cho sinh viên phần nào thấy được những khó khăn cũng như
tiềm năng, nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu, từ đó có những giải pháp nhằm
phát triển kinh tế nông thôn tại địa phương.

3
- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn
luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có thể là cơ sở khắc phục những vấn đề bất cập mà kinh tế
nông hộ đang gặp phải.
- Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp
người dân địa phương phát triển kinh tế.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho địa phương trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trong thời gian
tới, là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành đưa ra các phương
hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại
nhằm phát triển kinh tế hộ ngày càng hiệu quả và bền vững.

4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


5
Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển
nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit
phân tích (Roemer - 1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp
cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong
thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân. Mối quan hệ
đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển
thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc
luân chuyển. Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải
tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân.
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào
kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". [19].
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu
hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.[18]
Theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông
thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50%
số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây
trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào
nông nghiệp".[14]
2.1.1.3. Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Theo giáo sư Trần Văn Hà thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác
kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà.
Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng
tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào
môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống
vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”.
Theo Lâm Quang Huyên (2004), đã đề cập tới hai khái niệm về nông

- Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trải qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và
vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó trước tiên giúp nâng cao
đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

7
Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công
nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là
nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa,
xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra
sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước
hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn
Huân, 1993)[17].
- Đặc trưng của kinh tế hộ
Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế
hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết
thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm
chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác
và có những đặc trưng sau:
Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau
dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản,
quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích
về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân
công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là
người trực tiếp lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi,

sản xuất hàng hóa, nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư phát triển loại
hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
Trên đây là các nhóm hộ thuần nông. Các hộ có thu nhập chủ yếu từ
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Đặc trưng của hộ này là chịu ảnh hưởng lớn
của điều kiện tự nhiên.
Ngoài loại hộ thuần nông còn có nhóm hộ kiêm ngành nghề, dịch vụ:
Đây là loại hộ ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn biết tận dụng những cái có
sẵn của ông cha để lại như: các ngành nghề truyền thống được kế thừa từ đời
này sang đời khác nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và tận dụng lao động
lúc nông nhàn ở nông thôn. Vì vậy loại hộ này có vốn để đầu tư cho sản xuất
kinh doanh và các kiến thức về thị trường.

9
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân
+ Nhóm các yếu tố chủ quan
Đây là yếu tố do chính bản thân gia đình nông dân quyết định. Mỗi hộ có
hoàn cảnh riêng, có trình độ, có phương tiện và các yếu tố sản xuất khác nhau.
Đó là các yếu tố chủ quan, nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế
hộ. Các yếu tố chủ quan bao gồm:
- Đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không gì có thể
thể thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp. Do tính chất đặc biệt của nó
mà đất đai có thể coi như một dạng của vốn nhưng lại được xem như một
nguồn lực riêng biệt. Sẽ không thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp nếu
không có đất đai, số lượng và chất lượng đất đai sẽ quy định lợi thế so sánh của
mỗi vùng trong sản xuất nông nghiệp. Hướng sử dụng đất quy định hướng sử
dụng các tư liệu sản xuất khác, chất lượng đất cao hay thấp lại ảnh hưởng đến
năng suất cây trồng, vật nuôi. Vì vậy đất đai ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của kinh tế hộ. Chính vì vậy với một diện tích đất canh tác có hạn mỗi hộ
cần có kế hoạch sử dụng sao cho phù hợp để có được hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Vốn đầu tư cho sản xuất: vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào, bao gồm

ngược lại. Như vậy trong sản xuất nông nghiệp thì điều kiện tự nhiên là yếu tố
quyết định khá lớn đến kết quả sản xuất của nông hộ.
- Thị trường: thị trường là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa, thị trường có
tác động rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế thay đổi
giá cả. Giá cả lại phụ thuộc vào quy luật cung cầu trên thị trường. Có hai loại
thị trường là thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
Đối với thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ sản phẩm), nó phản ánh
cung sản phẩm. Trong nông nghiệp cung về sản phẩm thường là cung muộn,
hơn nữa các sản phẩm trong nông nghiệp thường khó bảo quản, vì vậy rủi ro
do thị trường đem lại trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn. Bên cạnh đó thị
trường các sản phẩm trong nông nghiệp là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nên
người nông dân không thể kiểm soát được thị trường, vì vậy sự tác động của
thị trường làm cho thu nhập của nông hộ không ổn định.
Đối với thị trường các yếu tố đầu vào, giá cả đầu vào trên thị trường
ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của nông hộ, vì thế nó tác động rất
lớn đến quy mô sản xuất, đến mức độ đầu tư của nông dân. Nếu giá đầu vào
tăng làm cho chi phí đầu tư tăng dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm xuống.
- Chính sách của Nhà nước: Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực của
Chính Phủ. Trong quản lý kinh tế mỗi chính sách ban hành đều có tác động

11
rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ. Nếu chính sách
đúng đắn sẽ kích thích được sản xuất và ngược lại. Vì vậy chính sách của Nhà
nước có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ hay đến sự phát triển của kinh
tế hộ. Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam, Nhà
nước ta đã chứng tỏ được vai trò của mình trong quản lý kinh tế. Nó thể hiện
rõ nét nhất ở chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới. Chính sách này
đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ dân cư trong nông thôn. Ngoài ra còn có
sự đóng góp hàng loạt các chính sách khác như đặt giá trần, giá sàn nhằm bảo
vệ người sản xuất và người tiêu dùng.

vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ
nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng.[6]
- Đài Loan: ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan
trọng là nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp, nên ngay từ đầu Đài Loan đã
coi trọng và chú ý đầu tư cho nông nghiệp. Trong những năm 1950 đến
1960 chủ trương "Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp
phát triển nông nghiệp". Từ năm 1951 đã có chương trình cải cách ruộng
đất theo 3 bước: giảm tô, giải phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực
hiện người cày có ruộng (1953 - 1954).
Theo đạo luật cải cách ruộng đất của Đài Loan, địa chủ chỉ được
giữ lại 3ha nếu là ruộng thấp và 6 ha nếu là ruộng cao, số còn lại Nhà
nước mua và bán lại cho tá điền với giá thấp và được trả dần, trả góp.
Chính sách phát triển nông nghiệp của Đài Loan trong thời kỳ này đã làm
cho nông dân phấn khởi, lực lượng sản xuất trong nông thôn được giải
phóng, sản xuất đã tăng với tốc độ nhanh.
Tại Đài Loan hiện có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng
cao, song đã có đường đi lên núi là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô
riêng. Từ 1974 họ thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm
quý hiếm như "cao sơn trà", bán các mặt hàng sản phẩm của rừng như cao các
loại, thịt hươu, nai khô , cùng các sản phẩm nông dân sản xuất được trong
vùng. Về chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền có sự phân biệt giữa 2
đối tượng "nông mại nông" thì miễn thuế (nông dân bán đất cho nông dân
khác), "nông mại bất nông" thì phải đóng thuế gấp 3 lần tiền mua (bán đất cho
đối tượng phi nông nghiệp). Nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào
nhưng không di chuyển ra thành thị, mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu "ly nông bất

13
ly hương". Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo
giống mới cho nông dân và họ không phải trả tiền.[6]
- Trung Quốc: trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực

14
Phong trào hộ nông dân thi đua sản xuất giỏi của Trung ương Hội Nông
dân Việt Nam phát động được các cấp hội và nông dân trong tỉnh Bắc Ninh
hưởng ứng. Các cấp Hội Nông dân xác định đây là phong trào trọng tâm,
nòng cốt có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nông thôn mới của hội viên. Thực hiện tốt phong trào này sẽ
góp phần xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn.[6]
Cao Bằng: Cao Bằng có gần 95.000 ha (chiếm 14,12% đất tự nhiên
toàn tỉnh) đất dành cho sản xuất nông nghiệp, trên 534.000 ha (trên 80% diện
tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đất lâm nghiệp có rừng và trên 400 ha đất nuôi
trồng thủy sản (2009).
Trong năm năm trở lại đây, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng
GPD có xu hướng giảm dần, song vẫn có đóng góp tương đối lớn trong GDP
toàn tỉnh. Tính tới năm 2010, ngành đã đóng góp 35,37% trong tổng số GDP
của tỉnh Cao Bằng.
Là một tỉnh miền núi biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện
thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát
triển. Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng qua các năm. Năm 2003, giá trị
sản xuất nông nghiệp của tỉnh chỉ đạt xấp xỉ 689 tỷ đồng, đến năm 2009, con
số này tăng lên 734 tỷ đồng (giá so sánh 1994). Cơ cấu ngành nông nghiệp
chia thành 3 ngành chính là trồng trọt (chiếm trên 65% trong tổng giá trị
ngành nông nghiệp), chăn nuôi (chiếm trên 30%) và dịch vụ (dưới 5%).
Để phát triển và có được những thành tựu đó thì một loại hình kinh tế
được sản xuất phổ biến đó là kinh tế hộ gia đình, do có điều kiện địa hình
không thuận, các nguồn đầu tư còn hạn hẹp nên các trang trại chưa được hình
thành nhiều vì vậy kinh tế hộ nông dân vẫn là loại hình sản xuất chủ yếu của
người dân trên địa bàn tỉnh. Nó đã góp phần vào nâng cao đời sống của người
dân, đóng góp vào GDP của tỉnh và của cả nước.
Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai,
sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả (lê,

chọn phương án tối ưu. Vì thế để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển nhà
nước cần có chính sách hỗ trợ cho người nông dân về giá vật tư nông nghiệp
và thông tin về nhu cầu của thị trường.
Từ thực tế cho thấy để phát triển kinh tế hộ nông dân bền vững và có
hiệu quả cao cần phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông

16
nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh
học, công nghệ thông tin trong lựa chọn và tạo giống.
Cần phá vỡ tính tự phát trong sản xuất nông nghiệp của người nông
dân, để làm được điều này nhà nước cần định hướng, hỗ trợ, tư vấn cho người
nông dân trong phát triển kinh tế nông hộ.
+ Đối với phường Đề Thám
Phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với giải quyết các vấn đề
xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Coi phát triển con
người là động lực để phát triển sản xuất, phát triển xã hội và tiến bộ xã hội
thực hiện mục tiêu cơ bản mà Nhà nước đã đặt ra: "Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng và văn minh".
Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào
tình hình thực tế của phường để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và
kinh tế hộ nông dân.
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân,
Đảng bộ, UBND phường đã chỉ đạo các ban ngành tìm mọi cách góp phần
tăng năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với
từng loại đất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong canh tác.
Phường có chủ trương, giải pháp đúng đắn là khuyến khích nông dân
tích cực sản xuất, khai thác triệt để nguồn đất hiện có, áp dụng chính sách
miễn thuế nông nghiệp ở những vùng mới khai hoang, có chính sách vay vốn
hợp lý để người dân yên tâm đầu tư sản xuất. Tập trung thực hiện, chuyển đổi
cơ cấu sản xuất, thực hiện chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang

kinh tế nông hộ trên địa bàn phường.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ tại phường Đề Thám –
TP Cao Bằng – Tỉnh Cao Bằng
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết,
các bài viết có liên quan đến kinh tế hộ.

Trích đoạn Phương phỏp thu thập thụng tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status