Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang tỉnh tuyên quang - Pdf 13

PHẦN I:
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có
những chuyển biến mạnh mẽ. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã được
nhường chỗ cho nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết
của Nhà nước. Cơ chế mới đã tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam
phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã được nhường
chỗ ho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà
nước. Đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp đã có những bước nhảy vượt
bậc mà nền kinh tế hộ nông dân đóng vai trò quyết định.
Kinh tế hộ nông dân nước ta đã đạt được những thành quả to lớn, góp
phần quan trọng tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước.
Khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp- nông thôn, phát
huy những lợi thế vốn có của đất nước, tạo công ăn việc làm, từng bước
làm tăng thu nhập cho lao động làm nông nghiệp là những mục tiêu mà
kinh tế hộ nông dân nước nhà về cơ bản đã làm dược trong thời gian qua.
Tuy nhiên, cũng từ những kết quả đạt được đó, trên con đường phát triển
kinh tế hộ nông dân nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng
ta làm tốt hơn nữa trong thời gian tới như ruộng đất cho người nông dân,
vốn, tín dụng cho hộ nông dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thị
trường cung ứng đầu tư vào, đầu ra, nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức
cho người lao động trong nông nghiệp nông thôn.
Na Hang là một huyện miền núi nằm ở đầu nguồn sông Gâm phía cuối
Tỉnh Tuyên Quang. Cũng như các huyện miền núi khác, Na Hang là một
huyện thuần nông với hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông
.nghiệp của huyện là kinh tế hộ nông dân. Nông nghiệp là ngành luôn
đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của toàn thể nhân dân và
hộ nông dân cũng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ gia đình có
trong toàn huyện. Tuy nhiên, với dự án “ Xây dựng thủy điện Tuyên
Quang” của chính phủ được xây dựng trên địa bàn huyện được khởi công

rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi
sinh viên.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có thể là cơ sở khắc phục những vấn đề bất cập mà kinh tế
nông hộ đang gặp phải.
- Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp
người dân địa phương phát triển kinh tế. PHẦN II:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1.Một số khái niệm
2.1.1.1. Các khái niệm về hộ:
Trong điều 107 dự thảo ghi: “Hộ gia đình mà các thành viên cùng
đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt
động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trông một số lĩnh vực kinh
doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự
đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho nông hộ cũng là chủ thể trong
quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó”.
Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung
dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.

Viện và Th.S Đặng Văn Tiến thì “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ
chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản
xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của
ăn chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,
ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ
hộ. Được nhà nước thừa nhận và tạp điều kiện để phát triển”.
Theo GS – TS Trần Đình Đằng “ Kinh tế hộ nông dân là một hình
thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn
tại khách quan lâu dài trên cơ sở sức lao động, đất đai và tư liệu dản
xuất khác của gia đình là chính”. Ông cũng đã nghiên cứu về thực trạng
kinh tế hộ gia đình của các nước trên thế giới và Việt Nam, định hướng
và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ, lựa chọn thị trường, tổ
chức các điều kiện để tiêu thụ sản phẩm.
2.1.2. Đặc trƣng hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân gồm có 6 đặc trưng sau:
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý
và sử dụng các yếu tố sản xuất. Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu
chung, có nghĩa là mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu chung
với những tư liệu vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ. Mặt khác do
dựa trên cơ sở kinh tế chung và có cùng chung một ngân quỹ nên mọi
người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp
công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý. Từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng các
nguồn lực trong nông hộ rất cao.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ
trong nông hộ, mọi người thường gắn bó với nhau theo quan hệ huyết
thống, kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình kinh
doanh khác nên việc điều hành quản lý cũng đơn giản hơn. Trong nông
hộ chủ hộ vừa là người điều hành, người quản lý sản xuất vừa là người
trực tiếp tham gia lao động sản xuất, dẫn đến tính thống nhất giữa lao
động trực tiếp và lao động quản lý là rất cao.

2.1.3.2. Phân loại theo mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cung tự cấp không phản ứng với thị trường
bên ngoài, đây là những hộ nông dân tự làm ra của cải vật chất đáp ứng
nhu cầu hàng ngày.
- Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường: Họ có tham gia vào thị
trường nhưng ít.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu: Họ tham gia mạnh mẽ vào
những hoạt động và biến đổi cuat thị trường.
2.1.3.3. Phân loại theo mức thu nhập của hộ
- Hộ khá
- Hộ trung bình
- Hộ nghèo
2.1.4. Những nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển của kinh tế hộ nông
dân.
2.1.4.1. Các yếu tố chủ quan
- Đất đai: Đất đai là tư liệu sẩn xuất chủ yếu và quan trọng không có gì có
thể thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp. Sẽ không có sản xuất
nông ngiệp nếu như không có đất đai, số lượng và chất lượng sẽ quy định
lợi thé so sánh của mỗi vùng,miền trong sản xuất nông nghiệp. Hướng sử
dụng đất đai quy định các hướng sử dụng tư liệu sản xuất khác, chất
lượng đất tốt hay xấu ảnh hưởng rất lớn đến năng xuất cây trồng vật nuôi.
Vì vậy với một diện tích đất canh tác có hạn cần có kế hoạch sử dụng sao
cho phù hợp để có hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Vốn đầu tư sản xuất: Vốn là giá trị của toàn bộ đầu tư đầu vào, bao gồm
những tài sản, vật phẩm trong kinh doanh. Cũng như các ngành sản xuất
khác, trong nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa. Vốn quyết định đến quy mô sản suất từ đó ảnh
hưởng đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh
hưởng đến khả năng khai thác các nguồn vào trong sản xuất. Vốn được
xếp vào các yếu tố chủ quan vì chủ hộ có quyền huy động hoặc quyết

đầu vào trong một giai đoạn tăng bất thường sẽ làm cho chi phí đầu tư
tăng lên dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm xuống.
-Điều kiện tự nhiên: Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống.
trong quá trình sing trưởng và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, môi trương… Nếu gặp điều kiện thuận
lợi phù hợp với giai đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi thì sẽ cho năng
suất cao và ngược lại. Như vậy trong sản xuất nông nghiệp thì điều kiện
tự nhiên là yếu tố quyết định khá lớn đến kết quả sản xuất cây trồng của
nông hộ.
- Chính sách nhà nước: Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực của chính
phủ. Trong quản lý kinh tế mỗi chính sách ban hành đều có tác động rất
lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ. Nếu chính sách
đúng đắn phù hợp với điều kiện sản xuất và ngược lại. Vì vậy chính sách
có ảnh hưởng tương đối lớn đến sản xuất của nông hộ. Trong quá trình
phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nhà nước đã chứng tỏ được
vai trò của mình trong quản lý kinh tế. Nó thể hiện rõ nét nhất ở chính
sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới. Chính sách đã làm thay đổi thu
nhập của toàn bộ cư dân trong nông thôn. Ngoài ra nhà nước còn có
những chính sách bảo vệ lợi ích thiết thực của người nông dân như đặt
giá trần, giá sàn…
- Ngoài các yếu tố trên, kinh tế nông hộ còn chịu ảnh hưởng của các
phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa…

2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân trên thế giới
2.2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong khu
vực và thế giới
- Hà Lan: là một quốc gia nhỏ, lao động nông nghiệp chiếm 5,7% dân số,
hàng năm một lao động nông nghiệp làm ra khối lượng sản phẩm có thể
nuôi 112 người và chỉ đứng sau Đan Mạch (160 người). Năm 1960 Hà

- Các nước châu Á: Nhật Bản, năm 1970 có 5,3 triệu nông trại, với quy
mô canh tác 1.06 ha/hộ. Năm 1885conf 4,2 triệu hộ với quy mô đất canh
tác 1,2 ha/hộ. Đến năm 1993 còn 3,7 triệu nông trại chủ yếu là nông trại
hộ gia đình. Hàn Quốc năm 1953 có 2.249 trang trại nông hộ, những năm
gần đây còn 0,3 triệu nông hộ với quy mô trang trại 0,9 ha/hộ. Thái Lan
với 3,214 triệu nông hộ(1970) tăng 4,5 triệu nông hộ (1990), bình quân
ruộng đất 5,6 ha/hộ. Trung Quốc với số dân khoảng 1,3 tỷ người trong đó
75% số dân sống ở nông thôn, canh tác trên 93,33 triệu ha đất, bình quân
0,13 ha/người. Tổng diện tích gieo trồng 146,46 triệu ha. Nông hộ Trung
Quốc đã và đang sở hữu 70,4% máy kéo lớn và trung bình, 96,18% máy
kéo nhỏ, 74,4% ô tô vận tải dùng trong nông nghiệp, 72,53% máy bơm
nước. Trung Quốc là nước chủ trương thiết lập ở nông thôn cơ chế kinh
doanh hai tầng: Kinh doanh phân tán của kinh tế hộ gia đình nông dân và
kinh doanh thông nhất của kinh tế tập thể. Năm 19978 thu nhập thuần túy
bình quân mỗ nông dân là 134 nhân dân tệ/năm, năm 1990 đã đạt 630 tệ.
Nếu loại trừ yếu tố giá cả thu nhập tăng 2,2 lần, bình quân hàng năm tăng
10,7%. Tuy vậy thu nhập của hộ còn chênh lệch giữa các vùng, dân số
tăng quá nhanh, thể chế kinh tế hai tầng và hệ thống dịch vụ nông thôn
chưa được kiện toàn, tỷ giá sản phẩm công nghiệp dãn ngày một rộng gây
bất lợi cho người nông dân. 2.2.1.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên
thế giới.
Hà Lan:
Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt. Đất ít lại
trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự
khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông
nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, dựa
vào những ý tưởng sau đây:

thì dựa vào nhập khẩu, thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị
trường thế giới với giá trị gia tăng rất lớn.
- Phát triển kết cấu hạ tầng và áp dụng thành tựu cao và mới về khoa học-
công nghệ:
Năm 1995, Chính phủ Hà Lan quyết định xây dựng công trình chỉnh trị
dòng sông, hoàn thành vào năm 2015, vốn đầu tư 500 triệu Eurô. Để
phòng chóng thiên tai khắc nghiệt.
Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu Eurô,
bình quân 4000 Eurô/ha năm. Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến
các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống
kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giới hoá.
Động mạch lớn của nền kinh tế là mạng lưới giao thông hiện đại được
hoàn chỉnh. Hà Lan có 2800 km đường sắt, 110.000 km đường bộ, trong
đó có 2400 km đường cao tốc. Đường hàng không đứng thứ 9 thế giới,
với 80 hãng hàng không có 230 tuyến bay đến khắp các nước.
Quỹ đất ít, "tấc đất, tấc vàng", Hà Lan đã áp dụng công nghệ "dùng vốn
thay đất". Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành hệ
thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới. Nhà kính đã tiết
kiệm đất ( thậm chí có nơi không dùng đất ), lại có thể khống chế hoàn
toàn điều kiện tự nhiên. Trong nhà kính đã lắp đặt các thiết bị hiện đại, tự
động hoá, thông qua máy tính và hệ thống máy móc khác để điều chỉnh
nhiệt độ, độ ẩm, chiếu sáng, nước, thức ăn trong nhà kính, tạo ra một môi
trường ưu việt, loại trừ hoàn toàn các yếu tố bất lợi của điều kiện tự nhiên
(Hà Lan vốn là một nước không sản xuất được phong lan, nhưng nhờ nhà
kính khắc phục được những trở ngại đến sự sinh trưởng phát triển của hoa
lan nhiệt đới, á nhiệt đới, nên những năm gần đây Hà Lan đã sản xuất
được 200 triệu hoa lan, đứng thứ 9 thế giới ).
Tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp Hà Lan được
xếp vào những nước hàng đầu thế giới, đặc biệt là thành tựu tạo giống và
nhà kính, với phương thức đầu tư tập trung vốn và chất xám, theo hướng

thống thủy lợi. Bên cạnh đó Chính phủ còn quan tâm cung ứng phân bón
cho các nông trại phát triển sản xuất.
- Chính sách tín dụng nông nghiệp: Thái Lan là nước khá thành công
trong lĩnh vực cung cấp tín dụng nông nghiệp thông qua các tổ chức tín
dụng như ngân hàng quốc gia, ngân hàng thương mại, ngân hàng nông
nghiệp và các hợp tác xã nông nghiệp. Ngoài ra các tổ chức phi Chính
phủ khác tham gia cung cấp tín dụng cho nông nghiệp với lãi xuất phù
hợp với điều kiện người sản xuất.
- Chính sách giải quyết việc làm: Họ giải quyết việc làm trên cơ sở phát
triển đa dạng hóa kinh tế nông thôn, quan tâm đến phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống.
Trung quốc
Thu nhập và phân phối thu nhập tại các khu vực nông thôn:
Tổng thu nhập: Tổng thu nhập của kinh tế nông thôn trong năm 2005
chiếm tới 17.528,9 tỷ nhân dân tệ, tăng 16% so với năm trước đó ( dựa
trên giá của năm được quy định

2.2.2. Khái quát sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nƣớc ta.
- Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này, tuyệt đại bộ phận nông dân đi
làm thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ
theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ. Trong thời kỳ này
chính phủ đưa ra chính sách giảm tô, giảm tức cho nông dân, động viên
tăng gia sản xuất thực hiện tiết kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy thóc năm
1954 đạt 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946.
- Từ năm 1955- 1959: Sau khi miền bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và
Chính phủ đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích “ người cày có
ruộng”. Năm 1957 cải cách ruộng đất cơ bản đã được hoàn thành. Cải
cách ruộng đất đã chia 81 vạn hecta ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1
triệu hộ nông dân. Kết quả là hộ nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản
xuất đời sống kinh tế có phần cải thiện.

xây dựng mô hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần
thiết.

2.2.3. Một số mô hình phát triển của kinh tế hộ nông dân
2.2.3.1. Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp
Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này
đang phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung
Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du
miền Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Đây là mô hình các hộ
kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến.
Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở gần
các đô thị, doanh nghiệp (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí
nghiệp chế biến giấy). Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn,
khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân
được cải thiện. Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị
trường, ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu.
2.2.3.2. Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chăn nuôi gia
cầm
Phát triển chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL, các tỉnh vùng trũng trồng
một vụ lúa không chắc ăn. Mô hình này thực sự có hiệu quả. Doanh thu
nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu
đồng. Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho
xuất khẩu, tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và
thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô
hình.
2.2.3.3. Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công
nghiệp – thâm canh lúa, màu
Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở ĐBSH… Loại mô hình
này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu

nghiệp, cây đặc sản Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú
rừng… Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế,
chăm sóc, cải tạo rừng… Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên
đất dốc.
Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái,
sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu. Mô hình này còn khó khăn về vốn,
khả năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở…
2.2.3 8. Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp
Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển
thành quy mô nhiều làng, xã. Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát
triển, nhưng đa phần các hộ gia đình đều không quên giữ đất để sản xuất
và chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm. Mô hình này đang có
những tồn tại về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có
quy hoạch lại.
2.2.3.9. Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp
Mô hình này hình thành ở các thị tam, thị tứ hoặc các trung tâm cụm xã
theo đầu mối giao thông. Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng
hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương,
nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi.
Xu hướng phát triển các hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình
hoặc doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời với quy mô và có vốn lớn, các hộ
này còn kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng
hoặc thu gom, chế biến sản phẩm.

- Địa bàn chọn huyện Na Hang làm địa bàn nghiên cứu, chọn 3 xã vùng
ven lòng hồ làm địa bàn điều tra.
- Chọn mẫu điều tra: Chọn 60 hộ trong 3 xã thuộc vùng ven lòng hồ làm
mẫu điều tra, mỗi xã chọn 20 hộ.
3.3.2. Phƣơng pháp xử lý thông tin số liệu
- Số liệu, thông tin thứ cấp: Được phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp
với các mục tiêu của đề tài.
- Số liệu, thông tin sơ cấp: Được xử lý trên bảng tính Excel, phần mềm
SPSS
3.3.3. Phƣơng pháp phân tích số liệu
3.3.3.1. Phương pháp phân tích so sánh
- Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy
được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
3.3.3.2. Phương pháp phân tích thống kê
- Từ các chỉ tiêu đã tính, tiến hành phân tích sự biến động về tình hình
kinh tế- xã hội qua các năm trong phạm vi nghiên cứu.
3.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích của đề tài
3.4.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của
nông hộ
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên/khẩu
- Số nhân khẩu bình quân/hộ
- Số lao động bình quân/hộ
- Trình độ văn hóa của chủ hộ hay của lao động chính
3.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của nông hộ
- Tổng thu nhập của hộ
- Thu nhập tính trên nhân khẩu
3.4.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính
- GO ( giá trị sản xuất): Là toàn bộ giá trị của tài sản vật chất và dịch vụ
lao động nông nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một

4.1.1. Vị trí địa lý:
Vùng ven lòng hồ huyện Na Hang- tỉnh Tuyên Quang bao gồm 10
đơn vị hành chính là các xã miền núi thuộc huyện Na Hang, là một huyện
vùng cao của tỉnh Tuyên Quang. Huyện nằm cách thành phố Tuyên
Quang 110 km về phía Bắc, tiếp giáp với các huyện của 3 tỉnh: Bắc Cạn-
Cao Bằng- Hà Giang, cụ thể:
- Phía Bắc giáp các huyện Bắc Mê- Hà Giang và huyện Bảo Lạc- Cao
Bằng
- Phía nam giáp huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
- Phía đông giáp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn;
- Phía Tây giáp huyện Lâm Bình, huyện Chiêm Hóa của tỉnh Tuyên
Quang.

4.1.2. Địa hình, thổ nhƣỡng
Về địa hình: Có đặc trưng của vùng núi cao chia làm hai dạng chủ
yếu
- Địa hình thung lũng: Đây là các thung lũng nằm kẹp giữa các khe
núi hình thành các ruộng bậc thang, các bãi trồng rau màu và các tụ điểm
dân cư.
- Địa hình núi cao: Chủ yếu là các đồi núi có độ dốc lớn, phân làm
hai loại: Đồi núi đất và đồi núi đá vôi. Đặc điểm của địa hình này là độ
dốc lớn, địa hình chia cắt, đi lại và canh tác khó khăn. Xã có thôn Bản
Bung nằm trong rừng đặc dụng có độ cao trên 370 m so với mựa nước
biển, địa hình bằng phẳng tạo nên một vùng sinh thái đặc trưng.
Quá trình hình thành đất tại vùng chủ yếu là quá trình Ferarit hoá, đất có
thành phần cơ giới tự nhiên nhẹ đến trung bình, tầng dầy nhiều mùn, hơi
chua, độ pH từ 4,5 - 6, độ ẩm tương đối cao, thích hợp với nhiều loại cây
trồng và thuận lợi cho phát triển nghề rừng. Do địa hình của vùng chủ
yếu là đồi núi và sông ngòi chính vì vậy diện tích đất sử dụng trong nông
nghiệp còn hạn chế chưa thực sự đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của người

2009
2010
2011
So sánh ( % )
Diện tích
(ha)

cấu
(%)
Diện tích
(ha)

cấu
(%)
Diện tích
(ha)

cấu
(%)
10/09
11/10
BQ
Tổng
diện
tích đất
tự
nhiên
146481,97
100
86353,73

54,89
99,99
77,44
1.2. Đất
trồng
cây lâu
năm
1884,22
1,4
851,02
1,06
848,92
1,06
45,16
99,75
72,45
1.3. Đất
lâm
nghiệp
125624,09
93,34
75149,72
94,11
75149,03
94,11
59,82
99,99
79,91
1.4. Đất
nuôi

5461,43
6,32
5467,22
6,33
57,09
100,11
78,6
2.1. Đất

827,35
9,12
290,54
5,32
290,33
5,31
35,12
99,93
67,52
2.2. Đất
chuyên
dùng
6949,17
72,65
4115,68
75,36
4127,99
75,51
59,22
100,29
79,75

3. Đất
chưa sử
dụng
2329,06
1.59
1038,33
1,21
1035,62
1,20
44,58
99,74
72,16
3.1. Đất
bằng
chưa sử
dụng
256,66
11,02
103,71
9,99
103,43
9,99
40,40
99,73
70,06
3.2. Đất
đồi núi
chưa sử
dụng
1429,81
( Nguồn: Phòng NN & PTNT huyện Na Hang )

Nhƣ ta đa biết,đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông
nghiệp, nó vừa là tƣ liệu lao động vừa là tƣ liệu sản xuất, vừa là đối
tƣợng lao động. Do đó đất đai là một trong những yếu tố ảnh hƣởng
đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây trồng và từ đó quyết
định đế năng xuất cây trồng. Na Hang là một huyện miền núi do đó đất
đai vẫn chƣa thực sự đáp ứng đƣợc về chất lƣợng và diện tích phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp.
Qua bảng 4.1: Ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm
2009 là 146481,97ha, tuy nhiên do năm 2010 với quyết định cắt một phần
diện tích của huyện Na Hang thành lập huyện mới Lâm Bình vì thế diện
tích huyện năm 2010 giảm xuống còn 86353,73 ha không có biến động so
với năm 2011. Trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất 79850,89,
chiếm 92,47% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện giảm 3,08ha so với
năm 2010 nguyên nhân là do kinh tế huyện ngày càng phát triển, dân số
tăng làm cho diện tích đất bị trưng dụng ngày càng tăng. Trong diện tích
đất nông nghiệp thì diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm 4,78 % chủ
yếu là cây lúa. Đất trồng cây lâu năm chiếm 1,06 %. Chiếm tỷ lệ cao nhất
là đất lâm nghiệp chiếm 94,11%. Ngoài ra còn có đất nuôi trồng thủy sản,
đất nông nghiệp khác chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Nhóm đất phi nông nghiệp năm 2011 có diện tích 5.467,22 ha
chiếm 6,33 diện tích đất tự nhiên tăng 0,1% so với năm 2010. Ngoài ra
còn có nhóm đất chưa sử dụng có diện tích 1035,62 chiếm 1,20 tổng diện
tích đất tự nhiên toàn huyện giảm 2,71ha so với năm 2010.
Như vậy qua bảng 3.1 cho thấy tình hình sử dụng đất của huyện
tương đối ổn định. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất. Trên
địa bàn nuyện chưa có sự chuyển dịch về cơ cấu cây trồng, đất canh tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status