Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, của tỉnh
Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Tường đã có những bước chuyển mình đáng kể trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, huyện Vĩnh Tường đã chú trọng đến việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ. Đưa các giống cây, con mới vào sản
xuất làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi.
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể song sản xuất nông nghiệp
huyện Vĩnh Tường còn có khó khăn, tồn tại. Diện tích đất nông nghiệp đang bị
thu hẹp dần, giá trị sản xuất trên một số đơn vị diện tích đất chưa cao, việc tổ
chức sản xuất, áp dụng quy trình, kỹ thuật sản xuất các sản phẩm an toàn, trong
đó có rau an toàn (RAT) chưa được quan tâm đúng mức.
Đối với RAT huyện Vĩnh Tường sẽ mở rộng diện tích lên 50 ha, đồng thời
ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất RAT.
Dựa trên nguồn lợi tự nhiên: đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế, xã hội và
mục tiêu nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của huyện Vĩnh Tường, để góp phần
chủ động khai thác nguồn lợi tài nguyên, vốn, lao động, thị trường để góp phần
phát triển nông nghiệp bền vững, quy hoạch và hình thành vùng chuyên canh sản
xuất RAT cung cấp sản phẩm RAT nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống tăng
thu nhập cho người dân. Nên chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu thực trạng
và đề xuất giảí pháp phát triển hệ thống sản xuất rau an toàn trên địa bàn
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”

1


an toàn và chế biến rau xuất khẩu, 2009) thì sản phẩm rau xanh được xem là sạch
hay an toàn khi chúng đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
 Sạch, hấp dẫn về hình thức: Tươi, sạch bụi bẩn,tạp chất, thu đúng độ chín,
khi đạt chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì đẹp,
hấp dẫn.
 Sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau có dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật (BVTV), hàm lượng nitrat, hàm lượng kim loại nặng, số lượng vi
sinh vật gây hại không vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn vệ sinh, y tế.
Môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt chính là những yếu tố quyết
định đến sản phẩm rau sạch, RAT hay rau bị ô nhiễm…
- Rau an toàn: Theo quy định của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, RAT
là sản phẩm rau tươi (rau ăn thân, lá, hoa và quả) có chất lượng đúng như đặc
tính giống vốn có của nó, hàm lượng độc và mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây
hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi
truờng thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

3


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

* Yêu cầu chất lượng của RAT:
- Tiêu chuẩn về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu
cầu của từng loại rau (đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm), không dập, không
nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp.
2.1.2. Một số nguyên nhân gây mất an toàn trong trồng rau
2.1.2.1. Mất an toàn do hoá chất BVTV
Theo Nguyễn Ngọc Sinh và cộng tác viên năm 1999 thì lượng thuốc

phẩm)

Lượng

Giá

thuốc

(USD)

trị

(kg)
1990 9,0

15 000

9,0

100

0,5

1

1991 9,4

20 300

22,5


1994 10,4

20 380

58,9

654,4

0,68

5,6

1995 10,5

25 666

100,4

1111,1

0,85

9,5

1996 10,5

32 751

124,3


1999 10,5

33 715

158,7

1763,3

1,05

15,11

(Theo nguồn của cục BVTV)
Theo Viện BVTV, từ năm 1998 đến nay, nước ta đã và đang sử dụng 270
loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc
diệt chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng gia
tăng.
Thực hiện thời gian cách ly thuốc BVTV: Đây là vấn đề tồn tại lớn nhất
trong giai đoạn hiện nay. Ở nước ta về vệ sinh an toàn thực phẩm trên rau, chè,
cũng như một số cây thực phẩm khác đó là không đảm bảo thời gian cách ly sau
sử dụng thuốc BVTV.

5


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN


Lớp K33D Sinh - KTNN

ẩn trong đất trồng còn được thẩm thấu từ nguồn nước thải thành phố và khu công
nghiệp chuyển trực tiếp qua nước tưới được rau xanh hấp thụ.
Ngoài ra việc bón 1 tấn lân suppe có thể chứa 50-170g Cadimi (Cd) cũng
làm tăng lượng Cadimi trong đất và trong sản phẩm rau.
2.1.2.4. Mất an toàn do sử dụng phân tươi làm tồn dư các vi sinh vật hại trong
rau
Việc sử dụng nước phân để tưới cho rau đã trở thành tập quán canh tác ở
một số vùng, nhất là vùng trồng rau chuyên canh. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân làm rau mất an toàn. Sử dụng rau gia vị nhất là rau thơm, rau ăn
sống chính là hình thức truyền tải trứng giun và các nguyên nhân gây bệnh
đường ruột vào cơ thể con người. Hậu quả sử dụng rau tươi có vi sinh vật gây
hại như E.coli, Samonella, trứng giun… Tuy chưa có thống kê song tác trực tiếp
vào cơ thể con người chắc chắn còn cao hơn.
2.2. Tình hình nghiên cứu về hệ thống sản xuất rau
2.2.1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Hiện nay 120 chủng loại rau được sản xuất ở khắp các lục địa nhưng chỉ
có 12 chủng loại rau chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế giới.
Loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua - 3,17 triệu ha, thứ hai là hành 2,29 triệu ha, thứ ba là bắp cải - 2,07 triệu ha (năm 1997). Ở châu Á rau được
trồng nhiều nhất là cà chua, hành, bắp cải, dưa chuột, cà tím, ít nhất là đậu Hà
Lan.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người ngoài việc mở rộng diện
tích, năng suất và sản lượng cũng không ngừng tăng. Theo số liệu thống kê năm
2001 của FAO được thể hiện qua bảng sau:

7


Nguyễn Thị Tuyết Mai


Châu Á

25,003

26,745

28,087

28,883

29,539

( triệu ha)

Tỷ lệ %

66,21

67,30

67,59

68,05

68,66

Thế giới

161,06


100,11

101,35

101,65

Thế giới

608,124 631,037

667,633

691,894 698,127

Sản lượng

Châu Á

408,716 427,518

451,687

477,210 487,251

(triệu tấn)

Tỷ lệ %

67,21

Sản lượng rau của toàn thế giới và châu Á đạt 608,124 triệu tấn và
408,716 triệu tấn vào năm 1997. Đạt 667,633 triệu tấn và 451,687 triệu tấn vào
năm 1999. Đạt 698,127 triệu tấn và 487,251 triệu tấn vào năm 2001.
Như vậy châu Á luôn là châu lục chiếm tỷ lệ cao cả về diện tích, năng suất
và sản lượng rau của thế giới.
Cũng theo FAO (2001) sản lượng rau tiêu thụ bình quân toàn thế giới là
78kg/năm. Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng 487,215 triệu tấn.
Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất đạt 70 triệu tấn/năm.
Thứ hai là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm. Nhìn chung mức tăng
trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng 3% năm tương đương 5
triệu tấn/năm.
Cùng với số lượng vấn đề chất lượng rau quả cũng đang được người tiêu
dùng trên thế giới rất quan tâm. Tháng 9/2003 tổ chức bán lẻ châu Âu (EUREP)
đã đề xuất tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP) nhằm giải quyết mối
quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuất sản phẩm nông nghiệp và
khách hàng của họ. Sản xuất RAT theo hướng GAP có thể được hiểu là sản
phẩm khi đưa ra thị trường phải đảm bảo ba yêu cầu: “An toàn cho môi trường,
an toàn cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng”.
2.2.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ xa xưa, trước cả nghề trồng lúa nước.
Diện tích trồng rau của Việt Nam là 910000 ha, sản lượng cả năm là 10969300
tấn rau. Hàng năm Việt Nam đã xuất khẩu 300 triệu USD rau quả cho trên 30 thị
trường Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ. (Theo số liệu thống kê của cục trồng trọt
bộ NN & PTNN)

9


Nguyễn Thị Tuyết Mai


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

Sản lượng rau cao nhất vào năm 2000 đạt 6,007 triệu tấn so với năm 1990
là 2,3 triệu tấn tăng 81%. Mức tăng sản lượng trung bình hàng năm 10 năm qua
là xấp xỉ 260 nghìn tấn.
2.2.3 Một số kết quả sản xuất rau an toàn trong thời gian vừa qua
Thời gian vừa qua một số địa phương đã bước đầu triển khai sản xuất
RAT và thu được một số thành tựu đáng kể. Một số mô hình sản xuất RAT tại
các địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, TP HCM…đã được hình thành.
Theo kết quả điều tra của chi cục BVTV Hà Nội năm 2009 điều tra tại 6
tỉnh, thành phố như sau:
Trong 6 tỉnh, thành phố vởi tổng số 62 quận huyện với diện tích canh tác
rau là 31375,6 ha có sản xuất rau. Diện tích sản xuất RAT còn chiếm tỉ lệ thấp
mới có 8281 ha gieo trồng. Chủng loại rau các tỉnh đều phong phú.
Mặc dù trong những năm gần đây thì tình hình sản xuất RAT đã có nhiều
biến đổi nhưng do người dân vẫn giữ thói quen sử dụng rau sản xuất bình thường
nên theo Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội thì việc tiêu thụ RAT vẫn chưa ổn
định, gặp nhiều khó khăn. Lượng rau tiêu thụ được thấp không đảm bảo chi phí
sản xuất do người tiêu dùng chưa “mặn mà” với RAT, giá thành thuê những của
hàng để giới thiệu sản phẩm ở những địa điểm thuận lợi thì giá thành quá cao…
(baotintuc.vn Cập nhật lúc 16:14, Thứ Ba, 12/4/2011)
Kết quả được thể hiện cụ thể thông qua bảng sau:

11


Nguyễn Thị Tuyết Mai



(ha)

(%)

1

TP Hà Nội

21

10067,9

30203,8

6196,8

71,6

2

Vĩnh Phúc

9

2179,3

6538

1045


5

Bắc Ninh

8

2060,7

6182,2

107,2

1,73

6

Hải Dương

7

9753,7

29261

800

2,73

Tổng cộng

xuất cũng là quá trình áp dụng các tiến bộ kỹ thuật sản xuất RAT. Có nhiều
nhóm yếu tố quan tâm khi nghiên cứu sản xuất rau an toàn như: Đất đai, khí hậu,
phân bón, thuốc BVTV… mặt khác các vùng, các địa phương có những thuận lợi
khó khăn của các nhóm yếu tố khác nhau. Ở nước ta việc nhận thức tác động vào
các yếu tố trên do hai nhóm chủ thể tiến hành là Nhà Nước và người sản xuất (hộ
nông dân). Nhà nước không ngừng hoàn thiện các thể chế chính sách, tạo môi
trường và tác động, hỗ trợ điều tiết quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng, ban hành
các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất RAT, chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp.
Huyện Vĩnh Tường với diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, cần
có định hướng phát triển cơ cấu cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế và phù hợp
của nhóm cây trồng hàng năm. Đặc biệt là cây công nghiệp ngắn ngày cà cây
rau. Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất cây rau màu có giá trị kinh tế và sản xuất
RAT như thế nào là hợp lý, xác định sự tồn tại của hệ thống sản xuất rau để đưa
ra định hướng cải tiến và cuối cùng đưa ra một hệ thống sản xuất RAT hợp lý thì
cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện.
Vì vậy khi nghiên cứu thực trạng và đề xuất phát triển hệ thống sản xuất
RAT của huyện, phải nghiên cứu đánh giá một cách tương đối toàn diện ( nông
học, kinh tế, môi trường…) tất cả các hệ thống sản xuất rau để phân tích những
tồn tại, ưu nhược điểm của hệ thống cũ, khẳng định ưu việt của hệ thống mới,

13


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

đưa ra quyết định đúng để loại bỏ hay sử dụng hệ thống. Bởi cơ cấu cây rau, các
biện pháp kỹ thuật sản xuất RAT là yếu tố quyết định đến thu nhập của nông hộ,

- Tình hình sử dụng đất đai: Thu thập số liệu thống kê của UBND huyện Vĩnh
Tường.
- Cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi.

15


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

- Điều kiện kinh tế - xã hội: Thu thập số liệu thống kê của UBND huyện Vĩnh
Tường.
- Tình hình chung của sản xuất rau trên địa bàn huyện: Số liệu của phòng nông
nghiệp huyện Vĩnh Tường và hiện trạng sản xuất một số loại rau chính, hiệu quả
kinh tế.
3.3.2. Điều tra phỏng vấn sản xuất rau của các hộ để mô tả các yếu tố kỹ thuật
thực trạng sản xuất rau bao gồm:
- Cơ cấu mùa vụ, giống rau.
- Diện tích, năng suất các loại rau.
- Các chi phí biến động cho sản xuất rau gồm: Giống, phân bón, thuốc BVTV,
nước tưới, công lao động…
- Các kỹ thuật sản xuất rau như mật độ, phân bón, thuốc trừ sâu….
3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Xử lý số liệu trên chương trình Excel.
- Hạch toán kinh tế sản xuất rau:
+ Thu nhập = Tổng thu – Chi phí biến động vật chất
+ Tổng thu = Khối lượng sản phẩm x Giá sản phẩm
+ Tổng chi phí biến động vật chất gồm: công lao động, phân bón, giống…
+ Thu nhập thuần = Tổng thu – Tổng chi phí biến động

đặc trưng của vùng trung du Bắc Bộ: Nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng
9. Trong thời kỳ đầu (từ tháng 5 đến tháng 7) trời nắng nóng, mưa thất thường

17


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

hay có giông và mưa bão, đôi khi xuất hiện gió Lào, thời kỳ từ tháng 7 đến tháng
9 mưa nhiều gây ngập úng những vùng trũng.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 25,60C nhiệt độ cao nhất là 390C, thấp
nhất là 100C. Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào các tháng
11, 12, 01.
Lượng mưa trung bình năm là: 1522,2 mm. Cao nhất là: 2106 mm, thấp
nhất là 1069 mm.
Độ ẩm không khí bình quân năm là: 82%
Hướng gió chính vào mùa Đông là gió Đông Bắc, về mùa Hè là gió Đông
Nam.
4.1.1.2.2. Thuỷ văn
Trên địa bàn huyện Vĩnh Tường có 3 con sông chảy qua.
- Sông Hồng: Sông Hồng nằm ở phía Tây Nam của huyện, đoạn chảy qua huyện
Vĩnh Tường dài 18km. Là nguồn cung cấp nước tưới tiêu chính cho các xã ngoài
bãi và cả huyện.
- Sông Phó Đáy: Là một nhánh của sông Lô nằm ở phía Bắc và Tây Bắc của
huyện. Đoạn chảy qua dài 18 km, ngoài khả năng cung cấp nước tưới cho sản
xuất nông nghiệp.
- Sông Phan: chảy qua địa phận huyện Vĩnh Tường với chiều dài 37 km. Sông
Phan có tác dụng chủ yếu như một kênh mương tưới tiêu nhỏ

khăn, chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế, sản xuất vụ Đông thì bị thiệt
hại do thiên tai, ngập úng. Sang năm 2010 sản xuất kinh doanh thoát khỏi ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế và tăng trưởng mạnh. Trong sản xuất nông nghiệp
thì bà con nông dân các xã trong huyện đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn,
tích cực thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nên đạt kết quả

19


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

khá. Sản xuất công nghiệp thì quy mô sản xuất đã được mở rộng, các Doanh
nghiệp đã được đã thoát khỏi khủng hoảng và đi vào sản xuất. (Niên giám thống
kê Vĩnh Phúc 2010)
4.1.2.2. Thực trạng phát triển xã hội
- Văn hoá, xã hội:
Công tác xã hội hoá giáo dục thu được nhiều kết quả, chất lượng giáo dục
được nâng lên đứng trong tốp đầu của tỉnh. Toàn huyện có 32 trường mầm non,
30 trường tiểu học, 29 trường THCS, 5 trường THPT. Số trường đạt chuẩn quốc
gia chiếm 30%. (Nguồn phòng thống kê huyện Vĩnh Tường)
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống, văn hoá đạt kết quả tốt,
số gia đình văn hoá, thôn, khu phố, cơ quan văn hoá hàng năm đều gia tăng.
(Theo Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ của huyện Vĩnh Tường lần thứ XVIII).
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cả nhân dân đã được quan tâm đầu tư.
Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 23,6% năm 2005 còn 17,5% năm
2009. Phát triển dân số hàng năm giảm. (Theo Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ
của huyện Vĩnh Tường lần thứ XVIII).
- Chợ và giao lưu hàng hoá:

Thời tiết khí hậu có sự chuyển biến theo mùa rõ rệt: Mùa đông thì lạnh
giá, khô hanh; Mùa mưa thì mưa nhiều gây úng lụt. Đặc biệt lãnh đạo trên một
số mặt chưa mạnh như: Khai thác tiềm năng đất chưa cao, lao động còn yếu, phát
huy nội lực chưa cao, đặc biệt là vấn đề huy động nhân dân góp vốn để xây dựng
các cơ sở hạ tầng chưa mạnh…Việc bố trí quản lý cán bộ cơ sở chưa được tốt.

21


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

4.2. Kết quả nghiên cứu, điều tra thực trạng sản xuất rau ở Vĩnh Tường
Người nông dân huyện Vĩnh Tường trồng rau quanh năm, mùa nào rau ấy
nhưng rau được trồng nhiều nhất ở vụ đông và vụ xuân. Các giống rau được
trồng phổ biến như bắp cải, su hào, súp lơ, hành, tỏi, cà chua, rau cải các
loại…Năng suất trung bình đạt 154 tạ/ha. Hiện nay có nhiều giống mới ra đời có
thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt như cà chua VL 2000,
cà chua bi HT 144, bắp cải KK – cross, NS – cross, su hào winer, rau cải ngọt,
củ cải và các loại rau xuân hè như rau muống, bầu, bí đỏ, hành tây…
Tuy nhiên trong những năm qua việc đầu tư, ứng dụng các tiến bộ khoa
học – kỹ thuật để trồng rau an toàn, rau cao cấp, đảm bảo các yêu cầu, tiêu chuẩn
về an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu rau sạch của huyện và nhân dân
trong huyện chưa được đầu tư thoả đáng.
Kết quả về điều tra diện tích trồng rau một số xã ở huyện Vĩnh Tường
được thể hiện ở bảng sau:

22



3

Thị trấn Thổ Tang

101,14

20,43

4

Xã Vân Xuân

5,04

1,02

5

Xã Vĩnh Sơn

15,11

3,05

6

Xã Lý Nhân

25,4

Toàn huyện có 27/29 xã, thị trấn trồng rau. Trong đó có 9 xã, thị trấn có
diện tích trồng từ 5 ha trở lên.
Rau được trồng nhiều ở 2 xã Đại Đồng và Bình Dương và thị trấn Thổ
Tang, chiếm hơn 65% diện tích trồng rau của cả huyện
 Xã Đại Đồng có diện tích trồng rau lớn nhất huyện 131,02
chiếm 26,47%
 Xã Bình Dương có 95,85 ha, chiếm 19,36%
 Thị trấn Thổ Tang có 101,14 ha, chiếm 20,43%

23

ha,


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

Tuy nhiên, diện tích trồng rau của huyện được trồng rải rác ở các xã và thị
trấn trong huyện. Huyện chưa quy hoạch được vùng trồng rau đủ điều kiện sản
xuất rau an toàn. Do vậy việc quản lý, chỉ đạo để sản xuất rau an toàn gặp nhiều
khó khăn.
4.2.2. Kết quả điều tra về chủng loại rau được trồng phổ biến trên địa bàn
huyện Vĩnh Tường
Bảng 4.2 Một số loại rau được trồng phổ biến ở huyện Vĩnh Tường

Loại rau

Diện tích (ha)



4,85

3

Bắp cải

22,7

4,59

4

Su hào

13,7

2,76

5

Súp lơ

8,2

1,66

6

Rau cải các loại

24


Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lớp K33D Sinh - KTNN

trồng trên 39 ha chiếm một phần năng suất trong sản xuất rau. Rau của huyện
còn lại là rau muống, su hào, cà chua, súp lơ
4.2.3. Kết quả điều tra tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế của một số loại
rau chính của huyện Vĩnh Tường
Tổng hợp số liệu điều tra về hiệu quả kinh tế các loại rau trồng phổ biến ở
huyện Vĩnh Tường được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.3 Hiệu quả kinh tế của một số loại rau trồng trên địa bàn
huyện Vĩnh Tường năm 2010
STT Loại rau

Tổng thu

Tổng chi phí

Thu nhập

Thu

nhập

thuần
1


44700000

31300000

4

Cà chua

114000000

93500000

59300000

20500000

Qua bảng 4.3 cho thấy: Trồng cây súp lơ cho thu nhập thuần cao nhất la
31300000 đ/ha. Cây cà chua bi cho thu nhập cao nhất là 59300000 đ/ha. Tuy
nhiên trồng ca chua bi đòi hỏi chi phí rất cao là 93500000, tốn nhiều công lao
động. Do vậy ít người dân đủ điều kiện vật chất để trồng, diện tích không mở
rộng được.
4.2.4. Kết quả điều tra về các biện pháp kỹ thuật trồng một số loại rau trên địa
bàn huyện Vĩnh Tường
Để đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp kỹ thuậy trồng rau trên địa
bàn huyện. Chúng tôi đã tiến hành điều tra, phỏng vấn 150 hộ nông dân trực tiếp
sản xuất rau ở 2 xã Đại Đồng, Bình Dương và 1 thị trấn là thị trấn Thổ Tang kết
quả điều tra như sau:

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status