BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ZY VŨ QUANG DŨNG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÒNG CHỐNG CẬN THỊ Ở HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ KHU VỰC TRUNG DU
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC THÁI NGUYÊN, 2013
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án Vũ Quang Dũng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BXD Bộ Xây dựng
BYT Bộ Y tế
CSHQ Chỉ số hiệu quả
CSHQ
CT
Chỉ số hiệu quả của nhóm can thiệp
CSHQ
ĐC
Chỉ số hiệu quả của nhóm đối chứng
CT Can thiệp
D Diop
ĐC Đối chứng
ĐNT Đếm ngón tay
HQCT Hiệu quả can thiệp
HS Học sinh
ICEE Tổ chức Giáo dục chăm sóc mắt Quốc tế
(International Centre for Eyecare Education)
OR Tỷ xuất chênh
QCXDVN Quy chuẩn xây dựng Việt nam
QĐ Quyết định
SL Số lượng
THCS Trung học cơ sở
TL Tỷ lệ
WHO Tổ chức Y tế Th
ế giới (World Health Organization)
iv
32
Chương 2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 34
2.3. Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 36
2.3.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu 36
2.3.3. Nội dung can thiệp 41
v 2.3.4. Chỉ số nghiên cứu 43
2.3.5. Tiêu chuẩn đánh giá 44
2.4. Phương pháp thu thập thông tin 46
2.5. Vật liệu nghiên cứu 49
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 49
2.7. Phương pháp khống chế sai số 51
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu 51
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1. Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ cận thị ở học sinh THCS
khu vực trung du tỉnh Thái Nguyên
52
3.1.1. Thực trạng cận thị ở học sinh THCS khu vực trung du
tỉnh Thái Nguyên
52
3.1.2. Một số yếu tố nguy cơ cận thị ở học sinh THCS tại Thái
Nguyên
56
3.2. Hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng chống cận thị học đường 69
3.2.1. Kết quả các hoạt động can thiệp phòng chống cận thị học
Bảng 3.5. Tỷ lệ cận thị h
ọc đường theo giới tính 54
Bảng 3.6. Phân bố học sinh cận thị theo thời điểm phát hiện 54
Bảng 3.7 Phân bố học sinh cận thị theo mắt cận thị 55
Bảng 3.8. Mức độ cận thị 55
Bảng 3.9. Thị lực của học sinh mắc cận thị 56
Bảng 3.10. Hệ số chiếu sáng tự nhiên trung bình tại các trường THCS 57
Bảng 3.11. Cường độ chiếu sáng trung bình tại các trường THCS 58
Bảng 3.12. M
ối liên quan giữa cường độ chiếu sáng và cận thị học đường 58
Bảng 3.13. Hiệu số chiều cao bàn ghế trung bình tại các trường THCS 59
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa kích thước bàn ghế và cận thị học đường 60
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tư thế ngồi học và cận thị học đường 60
Bảng 3.16. Kích thước và cách kê bảng tại các trường THCS 61
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa góc học tập tại nhà và cận th
ị học đường 61
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa loại bàn ghế và đèn chiếu sáng nơi ngồi
học tại gia đình của học sinh với cận thị học đường
62
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa thời gian học tập trên lớp của học sinh
THCS và cận thị học đường
63
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa thời gian tự học tại nhà và học thêm
của học sinh THCS và cận thị
học đường
63
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa thời gian dành cho các hoạt động nhìn
gần của học sinh THCS và cận thị học đường
64
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa thời gian dành cho các hoạt động giải
79
Bảng 3.33. Kiến thức của học sinh về cậ
n thị học đường trước và sau
can thiệp ở nhóm can thiệp 2 (can thiệp cộng đồng và điều trị)
80
Bảng 3.34. Hành vi của học sinh về cận thị học đường trước và sau
can thiệp ở nhóm can thiệp 1 (can thiệp cộng đồng)
81
Bảng 3.35. Hành vi của học sinh về cận thị học đường trước và sau
can thiệp ở nhóm can thiệp 2 (can thiệp cộng đồng và điều trị)
82
Bảng 3.36. Tỷ lệ cận thị trước và sau can thiệp 84
Bảng 3.37. So sánh mức độ cận thị trước và sau can thiệp ở nhóm can
thiệp 1 (can thiệp cộng đồng)
84
Bảng 3.38. So sánh mức độ cận thị trước và sau can thiệp ở nhóm can
thiệp 2 (can thiệp cộng đồng kết hợp can thiệp điều trị)
85
Bảng 3.29. So sánh sự tiến triển của cận thị giữa các nhóm can thiệp
và
đối chứng
87
viii Bảng 3.40. So sánh tỷ lệ cận thị mới mắc tích lũy trong 2 năm ở các
nhóm can thiệp và đối chứng
88
Bảng 3.41. Hiệu quả can thiệp đối với tỷ lệ cận thị học đường 88
Bảng 4.1. Tỷ lệ cận thị học đường ở học sinh THCS khu vực trung du
ề thực hành của học sinh giữa 2
nhóm can thiệp sau 2 năm
83
Biểu đồ 3.5. So sánh mức độ cận thị giữa 2 nhóm can thiệp sau 2 năm 86 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cận thị học đường đang gia tăng ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Hiện nay, Châu Á đang là nơi có tỷ lệ mắc cận thị học đường cao
nhất thế giới. Tại Trung Quốc (2006), có đến hơn 300 triệu người bị cận thị
[50]. Theo ước tính của Kovin Naidoo ở tổ chức ICEE (International Center
for Eye Care Education), đến năm 2020 tật khúc xạ và nhu cầu kính sẽ chiếm
70% dân số toàn cầu (5,3 tỷ người) trong đó cận thị chiếm tỷ lệ 33% (3 tỷ
người) [16].
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của nhiều nhà nghiên cứu, trong
những năm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh và là nguyên nhân chính
gây giảm thị lực học sinh Việt Nam [23]. Theo nghiên cứu của Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam (2008), tỷ lệ mắc cận thị học đường trong các trường
học rất cao với tỉ lệ trung bình là 26,14% trên tổng số học sinh [33]. Báo cáo
của Bệnh viện Mắt Trung ương (2012) tại Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc cho
thấy, tỷ lệ mắc cận thị học đường chiếm khoảng 40 - 50% ở học sinh thành
phố và 10 - 15% học sinh nông thôn [27].
Tỷ lệ cận thị học đường cao cùng với các ảnh hưởng bệnh lý của mắt đã
tạo ra mối quan tâm đặc biệt vì những tác động của nó tới sức khoẻ cộng đồng
[15]. Cận thị không chỉ gây khó khăn cho việc học tập, làm việc mà khi bị cận
thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính, đục thủy
tinh thể [102], glôcôm [143], thoái hóa hắc võng mạc [112], hoặc bong võng
năm 2006.
2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng chống cận thị
học đường trong 2 năm (2006-2008).
3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng bệnh cận thị học đường hiện nay
1.1.1. Khái niệm, nguyên nhân và cách đánh giá cận thị học đường
1.1.1.1 Khái niệm:
- Mắt chính thị: là mắt bình thường, khi mắt chính thị ở trạng thái không điều
tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ được hội tụ trên võng mạc
[32], [48].
Hình 1.1. Mắt chính thị
Các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ trên võng mạc
khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết
- Cận thị: là mắt có công suất quang học quá cao so với độ dài trục nhãn cầu.
Ở mắt cận thị không điều tiết, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa được
hội tụ ở phía trước võng mạc.
- Phân loại cận thị: cận thị được chia làm 2 loại:
+ Cận thị học đường: là loại cận thị mắc phải trong lứa tuổi đi học, độ
cận thị ≤ - 6D, là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và
công suất hội tụ của mắt làm cho ảnh của vật được hội tụ ở phía trước của
võng mạc, nhưng chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt chỉ tăng
ít và không kèm theo những tổn thương bệnh lý khác.
Ở mắt cận thị học đường, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa sau
khi bị khuất triết sẽ được hội tụ ở phía trước võng mạc bất kể mắt có điều tiết
hay không. Trên thực tế, sự điều tiết ở mắt cận thị học đường sẽ làm cho mắt
4
và rối loạn của thần kinh thực vật và vận mạch [10], [89], [142].
Điều tiết quá mức thường do hiện tượng co quắp cơ thể mi gây ra. Co
quắp cơ thể mi thường có những triệu chứng như đau đầu, nhức mắt, nhìn xa
mờ từng lúc và cận điểm quá gần. Co quắp cơ thể mi thường xảy ra sau khi
mắt phải nhìn gần kéo dài và làm nặng thêm cận thị học đường [46], [95].
Độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc cũng là nguyên nhân gây gia
tăng độ dài trục nhãn cầu, làm cho mắt trở thành cận thị. Khi thiếu các chất
dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vitamin A, vitamin E, vitamin C cũng làm cho
độ cứng của củng mạc suy giảm nên dễ mắc cận thị [32].
1.1.1.3. Cách đánh giá cận thị học đường
Có nhiều phương pháp khám xác định cận thị học đường. Trên lâm
sàng thường áp dụng một số phương pháp đánh giá cận thị học đường sau:
- Phương pháp thử kính chủ quan (Dondes): phương pháp này đơn giản, thuận
tiện vì chỉ cần một hộp kính và một bảng thị lực. Tuy nhiên do chỉ căn cứ vào
chủ quan của bệnh nhân nên còn chưa thật chính xác, do không loại trừ được
sự điều tiết của mắt [32], [48].
- Phương pháp soi bóng đồng tử (Streak retinoscopy): đây là phương pháp
khách quan, người đo có thể xác định chính xác tình trạng khúc xạ của mắt
với gương hoặc máy soi bóng đồng tử. Tuy nhiên, phương pháp này ít được
áp dụng trong các nghiên cứu tại cộng đồng vì sẽ mất nhiều thời gian khi
khám và đòi hỏi người khám phải có nhiều kinh nghiệm mới có kết quả chính
xác [16], [32], [48].
6
- Đo khúc xạ tự động (Autorefratometer): là một phương pháp khách quan để
xác định cận thị học đường. Có ưu điểm là khám và cho kết quả nhanh, khách
quan nên hiện nay được khuyến cáo nên sử dụng trong các nghiên cứu tại
cộng đồng [5], [32], [48].
Để loại trừ sự điều tiết của mắt làm kết quả đo khúc xạ tự động không
chính xác, người được khám được nhỏ thuốc liệt điều tiết cyclopentolate 1%
Ngày nay, việc nghiên cứu, điều tra về cận thị học đường được rất nhiều
nước trên thế giới quan tâm. Ở khu vực Đông Nam Á, Tổ chức y tế thế giới
phối hợp với Trường đại học Junten Do (Nhật Bản) đã tổ chức hội nghị liên
Quốc gia về phòng chống mù loà từ ngày 6 - 10 tháng 3 năm 2000 tại Hà Nội
với chủ đề chính là tật khúc xạ. Tại hội nghị này, các đại biểu đã đi sâu thảo
luận vấn đề cận thị học đường và đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán, điều trị và
phòng bệnh thống nhất [22].
Tổ chức Y tế thế giới ước tính trên thế giới hiện nay có khoảng 2,3 tỷ
người bị tật khúc xạ. Do thời gian ảnh hưởng rất dài (cận thị thường bắt đầu
từ 7 tuổi) nên nếu tính theo “số người
năm bệnh” thì cận thị học đường là
nguyên nhân gây giảm thị lực và mù lòa cao nhất trong các bệnh về mắt (cao
gấp 2 lần mù lòa do đục thủy tinh thể) [50].
- Châu Á: Châu Á được coi là khu vực có tỷ lệ cận thị vào loại cao nhất thế
giới và có xu hướng gia tăng.
Tại Ấn Độ, Kali Kivayi (1997) điều tra 4.029 trẻ từ 3 - 18 tuổi ở 9 trường
thuộc vùng Nam Ấn Độ, cho biết tỷ lệ cận thị là 8,6% [97]. Dandona (1999)
công bố tỷ lệ cận thị ở trẻ 15 tuổi tại Ấn Độ là 19,39% [81]. Cũng Dandona R.
(2002) nghiên cứu trên 4.414 trẻ em ở độ tuổi 7 – 15 vùng nông thôn của
huyện Mahabubnagar bang Andhra Pradesh miền nam Ấn Độ, tỷ lệ cận thị là
8
4,1% [82]. Nghiên cứu của Titiyal J. S. (2003) cho thấy 13% số người mù và
56% số người có tổn hại chức năng thị giác tại Ấn Độ là do cận thị [133]. Kết
quả nghiên cứu của Ishfaq A. S. (2008) trên 4.360 học sinh ở vùng Kashmir
tại Ấn Độ có tuổi trung bình là 12,11 đã công bố tỷ lệ cận thị là 4,74% [96].
Tại Trung Quốc: He, Zeng (2004) công bố tỷ lệ cận thị ở 6 - 7 tuổi là
7,7%, 11 - 12 tuổi là 41,7% và 73,1% ở trẻ em 15 tuổi [93].
Đài Loan: Lin (2004) công bố tỷ lệ cận thị ở 6 - 7 tuổi là 21%, 11 - 12
Ethiopia: Assefa W. (2012) nghiên cứu trên 8 trường tiểu học tại thị
trấn Gondar đã công bố tỷ lệ cận thị là 9,4% [69].
Baltimore: Mohammad K. (2009) cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh 7 –
15 tuổi là 8,2% [108].
Morocco: Anera R. (2009) công bố tỷ lệ cận thị chung là 6,1% ở học
sinh [68].
- Một số nước vùng Đông Nam Á:
Tỷ lệ cận thị ở một số nước Đông nam Á như Singapore, Đài Loan
chiếm tới 80 - 90% ở tuổi 17-18 [103].
Tại Singapore: Saw S. (2002) công bố tỷ lệ cận thị ở trẻ em 6 - 7 tuổi là
29,0% và 11-12 tuổi là 53,1% [124]. Quek T. (2004) công bố tỷ lệ cận thị
chung ở thanh thiếu niên Singapore là 73,9% [117].
Indonesia: Saw (2002) công bố tỷ lệ cận thị là 26,1% [125].
Thái Lan: Yingyong P.(2010) nghiên cứu trên 1.100 trẻ em từ 6 - 12
tuổi ở Bangkok và 1.240 ở Nakhonpathom thấy tỷ lệ cận thị tương ứng là
12,7% và 5,7% [142].
Malaysia: Goh P. (2005) điều tra 4.634 học sinh thấy có 9,8% trẻ từ 7-
9 tuổi và 34,4% trẻ 15 tuổi bị cận thị [90].
10
Kết quả điều tra của nhiều nhà nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới
cho thấy, thực trạng mắc cận thị đang gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ mắc cận thị
học đường năm sau cao hơn năm trước rất rõ rệt.
1.1.2.2. Tình hình mắc cận thị học đường hiện nay ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của các nhà nghiên cứu tại nhiều
tỉnh, thành phố thì trong những năm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh.
Năm 1999, Bộ Y tế đã công bố chính thức tỷ lệ cận thị chung toàn quốc
ở cấp tiểu học là 0,65%, cấp trung học cơ sở là 1,6% và cấp trung học phổ
thông là 8,12% [10].
Hà Nội (2000), theo điều tra của Hà Huy Tiến, tỷ lệ cận thị của học
1.2.1. Các yếu tố nguy cơ có tính chất gia đình, bẩm sinh và di truyền
- Yếu tố bẩm sinh và di truyền là một nguyên nhân của cận thị, đặc biệt
là cận thị nặng. Việc tìm ra những yếu tố di truyền gây cận thị có thể giúp cho
chương trình phòng chống cận thị học đường có hiệu quả cao [145].
Nhiều nghiên cứu gợi ý rằng cận thị nhẹ và trung bình có thể di truyền
nhiều gen. Cận thị nặng có thể di truyền một gen trong một số trường hợp,
nhiều nghiên cứu gợi ý kiểu di truyền trội, lặn và đôi khi liên kết giới tính.
Trong tương lai, việc nghiên cứu gen có thể làm rõ các cơ chế điều chỉnh sự
phát triển và kích thước của nhãn cầu [26].
Tuy nhiên, yếu tố bẩm sinh và di truyền liên quan đến cận thị trong kết
quả nghiên cứu của nhiều tác giả còn rất khác nhau. Theo Nguyễn Chí Dũng
(2008), yếu tố bẩm sinh và di truyền chiếm đến 60% nguyên nhân gây cận thị
[15]. Một số nghiên cứu khác cho thấy khoảng 30% - 35% cận thị bệnh lý do
bẩm sinh và di truyền còn 65% - 70% cận thị là do mắc phải [139], [141].
Nghiên cứu của Saw S. tại Singapore đã công bố có sự liên quan rõ rệt
giữa yếu tố gia đình với sự tiến triển cận thị của trẻ [120], [122].
12
Cận thị cao có yếu tố gia đình đã gặp trong một số hội chứng toàn thân
như hội chứng Marfan [83], Weill-Marchesani [86], [87], Stickler [74], Ehlers
- Danlos [132] và các hội chứng ở mắt liên quan đến nhiễm sắc thể X [116].
Các nghiên cứu về di truyền đã xác định được sáu vị trí nhiễm sắc thể
trong cận thị cao có yếu tố gia đình, bao gồm nhiễm sắc thể Xq28 [127],
nhiễm sắc thể 18p [147], nhiễm sắc thể 12q [146], nhiễm sắc thể 7q [111],
nhiễm sắc thể 17q [115] và nhiễm sắc thể 2Q [114].
Wu M. (1999) nghiên cứu ở 3.131 trẻ em Trung Quốc, tuổi từ 7-17 tuổi
đã chứng minh nếu ít nhất một trong các ông bà bị cận thị, tỷ lệ bị cận thị ở
con và cháu họ là 6,71 (95% CI: 5,58-8,06) và 1,85 (95% CI: 1,57-2,19). Còn
nếu cả hai ông bà bị cận thị, tỷ lệ bị cận thị ở con và cháu họ tăng lên là 12,85
(95% CI: 8,77-18,81) và 2,96 (95% CI: 2,26-3,87) [140].
Bộ Xây dựng (Quy chuẩn xây dựng Việt nam QCXDVN 05 : 2008/BXD) là ≥
300 lux [4].
Khảo sát của Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật và Bảo hộ lao động
(2005) tại 12.008 phòng học phổ thông trên 300 trường tại Hà Nội cho thấy
có đến 91% phòng học không đạt độ chiếu sáng quy định. Một số trường đã
đầu tư kinh phí khá lớn cho chiếu sáng nhưng lắp đặt không đúng khoa học
nên không đảm bảo ánh sáng cho học tập [25].
Năm 2007, dự án chiếu sáng hiệu quả trường học đã khảo sát thực trạng
chiếu sáng lớp học trước khi cải tạo 405 lớp học thuộc 135 trường tiểu học
trên 27 tỉnh thành. Kết quả cho thấy 100% các phòng học được khảo sát đều
không đủ sáng theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7114: 2005 [55].
14
Tháng 7/2008, dự án chiếu sáng hiệu quả trường học kết hợp với Trung
tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học & công nghệ thuộc sở Khoa học & công
nghệ Hải Phòng, Sở Giáo dục & Đào tạo Hải Phòng khảo sát 3.960 phòng học
của 273 trường thuộc 9 quận huyện Hải Phòng. Kết quả là 100% các phòng
không đủ sáng theo tiêu chuẩn Việt Nam, cách sử dụng loại bóng đèn và cách
lắp bóng không phù hợp nên điện tiêu tốn nhiều, mà độ chiếu sáng trên bàn
học và trên bảng không đạt tiêu chuẩn tối thiểu [55].
Kết quả nghiên cứu tại Đà Nẵng (2003) cũng thấy chỉ có 45,2% các
phòng học đã khảo sát đạt chuẩn 100 lux [1].
Theo một điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại
Hải Phòng, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh về quy hoạch, thiết kế, xây
dựng trường học thì có từ 1/4 đến 3/4 các cơ sở trường học không đạt yêu
cầu. Tỷ lệ lớp không đạt yêu cầu về chiếu sáng tự nhiên là 32,1% và không
đạt về chiếu sáng nhân tạo là 27,6% [43].
1.2.2.2. Bàn ghế học không đạt tiêu chuẩn vệ sinh quy định
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, ở các trường phổ thông
hiện nay, học sinh các lớp, các khối hầu như đều được trang bị cùng một loại