Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng Đại học y h nội Võ thị thanh hiền
Nghiên cứu thực trạng V một số yếu tố
nguy cơ nhiễm giun đờng ruột của học sinh
tại hai trờng tiểu học thuộc thnh phố
Lo Cai năm 2009 - 2010
luận văn thạc sỹ y học
H nội - 2010
Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng Đại học y h nội Võ thị thanh hiền Nghiên cứu thực trạng v một số yếu tố
- PGS. TS. Phạm Văn Thân, PGS. TS. Ngô Văn Toàn và các thầy cô giáo
Bộ môn Ký sinh trùng Trờng Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt 2 năm học cũng nh đóng góp những ý kiến quý báu giúp
tôi hoàn thành luận văn này.
- Ban giám hiệu, khoa sau đại học và các thầy cô giáo Trờng Đại học Y
Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
- Ban giám hiệu, Bộ môn Ký sinh trùng và các phòng ban Trờng Đại học
Y Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học.
- Trung tâm phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng tỉnh Lào Cai,
tập thể giáo viên và học sinh Trờng tiểu học Hợp Thành và Tả Phời, thành
phố Lào Cai đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu thực hiện đề tài.
- Tôi vô cùng biết ơn chồng, con tôi và gia đình hai bên đã hết lòng ủng
hộ, động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập cũng nh hoàn thành luận văn này.
Tác giả
Lời cam đoan
Đây là dự án SANIVAT do Đan Mạch và Viện Vệ sinh dịch tễ Trung
Ương chủ trì và PGS.TS. Nguyễn Văn Đề là chủ trì đề tài nhánh giun sán.
Đợc sự đồng ý của phía Đan Mạch, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương và
PGS.TS Nguyễn Văn Đề, tôi đã tham gia và sử dụng số liệu của dự án để
hoàn thành luận văn. Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả trong luận văn là
trung thực và cha từng đợc công bố.
Tác giả
Võ Thị Thanh Hiền
1.7.1. Nguyên tắc phòng chống 32
1.7.2. Chiến lợc và giải pháp 32
1.8. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về bệnh giun
đờng ruột 34
Chơng 2. Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu 35
2.1. Địa điểm nghiên cứu 35
2.2. Đối tợng nghiên cứu 36
2.3. Thời gian nghiên cứu 36
2.4. Phơng pháp nghiên cứu 36
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu 36
2.4.2. Cỡ mẫu 36
2.4.3. Kỹ thuật thu thập thông tin 37
2.4.4. Phơng pháp thu thập số liệu 38
2.4.5. Các chỉ số nghiên cứu 39
2.4.6. Phơng pháp xử lý số liệu 41
2.4.7. Một số đánh giá và thuật ngữ dùng trong luận văn 41
2.4.8. Sai số có thể gặp và cách hạn chế sai số 41
2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 41
Chơng 3. Kết quả nghiên cứu 43
3.1. Kết quả điều tra thực trạng nhiễm giun đờng ruột của học sinh 43
3.2. Kết quả đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của học sinh về bệnh
giun đờng ruột 53
3.3. Một số yếu tố ảnh hởng đến tình trạng nhiễm giun đờng ruột của
học sinh 58
Chơng 4. Bn luận 61
4.1. Thực trạng nhiễm giun đ
ờng ruột của học sinh tại hai trờng tiểu học
Hợp Thành và Tả Phời thành phố Lào Cai 61
4.1.1. Tỷ lệ nhiễm giun đờng ruột 61
XN : Xét nghiệm
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organiration) Danh mục các bảng
Bảng 1. ảnh hởng của nhiệt độ đến trứng và ấu trùng giun móc/mỏ 14
Bảng 2. Phân loại cờng độ nhiễm các loại giun theo TCYTTG 40
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tợng nghiên cứu 43
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun của học sinh ở hai trờng tiểu học 45
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm giun theo nhóm lớp của học sinh ở hai trờng tiểu học 46
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm giun theo giới của học sinh ở hai trờng tiểu học 47
Bảng 3.5. Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun của học sinh 48
Bảng 3.6. Cờng độ nhiễm giun đờng ruột của học sinh 49
Bảng 3.7. Các mức cờng độ nhiễm giun đờng ruột của học sinh 51
Bảng 3.8. Tỷ lệ học sinh có hiểu biết về giun sán 53
Bảng 3.9. Tỷ lệ học sinh sử dụng hố xí 54
Bảng 3.10. Tỷ lệ học sinh đại tiện ngoài hố xí 54
Bảng 3.11. Thực hành của học sinh về việc uống nớc lã 55
Bảng 3.12. Thực hành của học sinh về việc ăn rau sống 55
Bảng 3.13. Thực hành của học sinh về việc rửa tay 56
Bảng 3.14. Thực hành của học sinh về cách rửa tay 56
Bảng 3.15. Thực hành của học sinh về cắt móng tay 57
Bảng 3.16. Thực hành của học sinh về việc đi chân đất 57
Bảng 3.17. Phân tích đa biến mối liên quan giữa nhiễm giun đũa và các yếu
tố nguy cơ 58
Bảng 3.18. Phân tích đa biến mối liên quan giữa nhiễm giun tóc và các yếu
tố nguy cơ 59
Hình 3.4. Biểu đồ biểu diễn cờng độ nhiễm giun đờng ruột của học sinh ở
hai trờng tiểu học 50
Hình 3.5. Biểu đồ biểu diễn các mức cờng độ nhiễm giun đũa của đối tợng
nghiên cứu 51
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn các mức cờng độ nhiễm giun tóc của đối tợng
nghiên cứu 52
Hình 3.7. Biểu đồ biểu diễn các mức cờng độ nhiễm giun móc/mỏ của đối
tợng nghiên cứu 521
Đặt vấn đề
Giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura), giun
móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) là các loại giun
đờng ruột, bệnh do chúng gây ra có ở hầu hết các nớc trên Thế giới nhng
phổ biến ở các nớc có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong đó tỷ lệ
nhiễm và đa nhiễm trên cùng một cơ thể đặc biệt tăng cao ở các nớc có nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, dùng phân tơi bón ruộng và cây trồng, trình độ
văn hóa và vệ sinh thấp kém. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới
(2006), trên Thế giới có khoảng hơn 2 tỷ ngời nhiễm giun đờng ruột. Mỗi
năm có 135.000 ngời chết và 800 triệu học sinh bị nhiễm [76].
Việt Nam là một nớc đang phát triển, nằm trong khu vực nhiệt đới gió
mùa, khí hậu nóng và ẩm hầu nh quanh năm là điều kiện rất thuận lợi cho
mầm bệnh giun sán phát triển. Thêm vào đó là thói quen dùng phân ngời
cha qua xử lý hoặc xử lý không đúng kỹ thuật để bón ruộng và hoa màu, tập
tế xã hội. Xuất phát từ thực tế trên đây, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố nguy cơ nhiễm giun
đờng ruột của học sinh tại hai trờng tiểu học thuộc thành phố Lào Cai
năm 2009 - 2010.
Mục tiêu của đề tài:
1. Xác định thực trạng nhiễm giun đờng ruột của học sinh tại hai
trờng tiểu học Hợp Thành và Tả Phời thành phố Lào Cai năm 2009
- 2010.
2. Phân tích một số yếu tố nguy cơ nhiễm giun đờng ruột của học sinh
tại địa điểm nghiên cứu.
3
Chơng 1
Tổng quan ti liệu
1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đờng ruột
Giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ là những ký sinh trùng có lịch sử xuất
hiện từ rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất và các sinh vật trên trái
đất. Bệnh do chúng gây ra đã đợc nhắc đến trong các tài liệu y học cổ.
Từ thế kỷ XVIII, các tác giả đã nghiên cứu, mô tả và đặt tên cho giun
đũa, giun tóc và giun móc/mỏ [37]. Đến năm 1915, một uỷ ban Quốc tế gồm
66 nhà khoa học của các nớc đã chính thức thống nhất tên của giun đũa là
Ascaris lumbricoides, giun móc là Ancylostoma duodenale trong danh mục
động vật học [59]. Đến năm 1941, các nhà ký sinh trùng học châu Mỹ thống
nhất cách gọi tên giun tóc là Trichuris trichiura [59]. Năm 1902, C.W. Stiles
đã mô tả một loại giun tròn giống nh Ancylostoma duodenale nhng có
những đặc điểm khác về cấu tạo, ông đặt tên là Necator americanus [59].
Đặc biệt là công trình nghiên cứu của Mathis và Léger đã điều tra tơng đối
Hình 1.1. Giun đũa trởng thành Hình 1.2. Trứng giun đũa
(http://www.cdc.gov) (http://www.cdc.gov)
1.2.1.2. Hình thể giun tóc
Giun tóc trởng thành
Là loại giun tròn hình ống, cơ thể chia làm 2 phần rõ rệt, phần đầu nhỏ,
Giun cái
Giun đực
5
phần đuôi phình to, thân giun có màu hồng nhạt. Giun đực dài khoảng 35 -
45 mm, tỷ lệ phần đầu so với phần đuôi là 3/1. Giun cái dài hơn giun đực,
khoảng 30 - 50 mm, tỷ lệ phần đầu so với phần đuôi là 2/1. Miệng giun tóc
không có môi. Đuôi giun tóc cái thẳng; đuôi giun tóc đực cong, cuối đuôi có
gai sinh dục.
Trứng giun tóc
Trứng giun tóc có hình thể đặc biệt, giống nh hình quả cau, vỏ dày, hai
đầu có hai nút nhầy trong suốt, màu vàng đậm, kích thớc 50 x 22 m.
Hình 1.3. Giun tóc đực Hình 1.4. Giun tóc cái
(http://www.cdc.gov) (http://www.cdc.gov)
Hình 1.5. Trứng giun tóc
(http://www.cdc.gov)
1.2.1.3. Hình thể giun móc/mỏ
Giun móc trởng thành
Giun móc Ancylostoma duodenale là loại giun có kích thớc nhỏ, màu
trắng sữa hoặc màu hồng, hoặc đỏ nâu. Sở dĩ màu của giun thay đổi là do
6
trong ruột của giun có máu. Giun cái dài 10 - 13 mm. Giun đực dài 8 - 11
Ngời Ngoại cảnh
Nghĩa là ngời đào thải mầm bệnh ra ngoại cảnh và mầm bệnh lại từ
ngoại cảnh vào ngời.
1.2.2.1. Chu kỳ của giun đũa
Giun đũa sống ở ruột non
của ngời, ăn các dỡng chất
mới đợc tiêu hóa. Sau khi giao
hợp, giun cái đẻ trứng, trứng
theo phân ra ngoại cảnh. Sau
một thời gian phát triển ở ngoại
cảnh, trứng phát triển thành
trứng có ấu trùng, trứng có ấu
trùng này lại nhiễm vào ngời
qua đờng tiêu hóa. Khi vào
đến dạ dày, nhờ sức co bóp cơ
học và dịch vị làm cho ấu trùng
Hình 1.9. Chu kỳ của giun đũa
(http://www.cdc.gov)
8
thoát ra khỏi vỏ, chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi
về gan. Sau đó ấu trùng lại đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ
và vào tim phải. Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi, chui
qua thành mạch vào phế nang, phát triển nhanh tại phế nang, ấu trùng theo
các phế quản lên khí quản, lên hầu rồi đợc nuốt vào theo thực quản xuống
ruột non, c trú ở đó lột xác 4 lần, phát triển thành giun trởng thành.
Thời gian hoàn thành chu kỳ khoảng 60 - 75 ngày.
Giun đũa sống trong cơ thể ngời khoảng 12 - 18 tháng.
1.2.2.2. Chu kỳ của giun tóc
Giun tóc ký sinh ở đại
9
theo phân ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ thích hợp: 24 -
25
0
C, ẩm độ từ 80% trở lên và có ôxy) trứng giun móc/mỏ sẽ nở ra ấu trùng
giai đoạn I sau 24 giờ. ấu
trùng giai đoạn I sống trong
đất, thay vỏ thành ấu trùng
giai đoạn II. Tới ngày thứ 5
sau khi nở, ấu trùng giai đoạn
II phát triển thành ấu trùng
giai đoạn III (thực quản hình
trụ) có khả năng xâm nhập
vào vật chủ qua đờng da và
niêm mạc. Những ấu trùng
này rất hoạt động chúng có
Hình 1.11. Chu kỳ của giun móc/mỏ
(http://www.cdc.gov)
các hớng động đặc biệt giúp cho việc tìm vật chủ: hớng lên cao, hớng tới
nơi có độ ẩm cao và hớng tới tổ chức vật chủ. Nhờ có 3 hớng động trên
giúp ấu trùng giun móc/mỏ giai đoạn III tìm thấy và xuyên qua da ngời ở
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, ngời dân có tập
quán sinh hoạt cũng nh vệ sinh môi trờng thấp kém là điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển và lây nhiễm bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun
đờng ruột nói riêng [6]. ở một số nơi vẫn còn tập quán sử dụng phân ngời
cha qua xử lý hoặc xử lý không đúng kỹ thuật để bón ruộng, hoa màu và nuôi
cá. Vì vậy, bệnh giun sán nói chung và bệnh GĐR rất phổ biến ở nớc ta.
1.3.1. Dịch tễ học bệnh giun đũa
Do số lợng trứng giun đũa bài xuất theo phân cao, khả năng đề kháng
của trứng giun đũa ở ngoại cảnh mạnh nên bệnh phổ biến ở nhiều n
ớc trên
Thế giới. Trứng giun đũa phải có thời gian phát triển ở ngoại cảnh và lây
nhiễm vào ngời một cách thụ động qua đờng ăn uống. Điều kiện khí hậu,
11
vệ sinh môi trờng, tập quán sử dụng phân ngời trong canh tác là yếu tố liên
quan đến tỷ lệ nhiễm và sự phân bố bệnh.
Những vùng khí hậu lạnh, khô, dân số tha, điều kiện kinh tế tơng đối
đầy đủ làm cho sự phát triển của trứng giun đũa ở ngoại cảnh bị hạn chế
nhiều nên tỷ lệ mắc bệnh thấp [37], [43].
ở các nớc khí hậu nóng ẩm, đời sống của nhân dân còn thấp, vấn đề ô
nhiễm môi trờng là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của trứng giun đũa và
lan truyền bệnh nên tỷ lệ bệnh còn cao [43].
ở Việt Nam, nhiễm giun đũa đứng hàng đầu trong các bệnh giun đờng
ruột về tỷ lệ nhiễm cũng nh cờng độ nhiễm. Tỷ lệ nhiễm ở miền Bắc cao
hơn miền Trung và miền Nam, đồng bằng cao hơn miền núi, nông thôn cao
hơn thành thị. Trẻ em là lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất và nặng nhất [43].
Nguyên nhân có thể do trẻ em cha có miễn dịch, đồng thời cha biết giữ vệ
sinh tốt [37]. Trẻ em dới 1 tuổi đã nhiễm giun đũa, tỷ lệ nhiễm giữa nam và
nữ là không có sự khác biệt.
1.3.2. Dịch tễ học bệnh giun tóc
Giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ là những ký sinh trùng ký sinh ở
đờng tiêu hóa của ngời. Chu kỳ của ba loại giun này đều theo kiểu chu kỳ
đơn giản:
Thải trứng giun
Ngời Ngoại cảnh
Lây nhiễm
Ngời bệnh đào thải mầm bệnh ra ngoại cảnh và từ ngoại cảnh mầm
bệnh vào lại ngời. Mầm bệnh chỉ có khả năng lây nhiễm khi trứng phát triển
thành trứng mang ấu trùng hay ấu trùng. Vì vậy, yếu tố liên quan ảnh hởng
tới sự tồn tại, phát triển trứng giun đũa và quá trình lây nhiễm các loại giun
này là con ngời (nguồn bệnh), các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, oxy,
ánh sáng, độ pH của đất ).
13
1.4.1. Yếu tố ngoại cảnh
1.4.1.1. Sự phát triển của trứng giun đũa ở ngoại cảnh
Giun đũa có khả năng sinh sản lớn, một con giun đũa cái đẻ 230.000 -
240.000 trứng trong một ngày. Nhiệt độ thuận lợi để trứng giun đũa phát
triển ở ngoại cảnh là 24 - 25
0
C. Nếu nhiệt độ thấp, thời gian phát triển kéo
dài và tỷ lệ trứng hỏng tăng cao. ở nhiệt độ - 12
0
C mới có khả năng diệt
trứng giun đũa. Nhiệt độ cao làm trứng hỏng nhiều. Trứng bị hủy hoại ở nhiệt
độ > 60
0
C. Độ ẩm từ 80% trở lên là điều kiện tốt nhất cho trứng giun đũa
phát triển. Oxy là yếu tố cần thiết để trứng giun đũa phát triển, do đó khi
trứng bị ngập trong nớc (trên 1 m chiều sâu) dần dần trứng sẽ bị hỏng. Vì
C, khoảng sau
24 giờ trứng nở thành ấu trùng, nhiệt độ môi trờng càng thấp thì sự phát triển
càng chậm. ở nhiệt độ 15
0
C, sau 5 ngày trứng giun mới phát triển thành ấu
trùng. Khi nhiệt độ dới 14
0
C và trên 37
0
C thì trứng giun và ấu trùng sẽ ngừng
phát triển [37]. Trứng giun mỏ chịu nhiệt tốt hơn trứng giun móc [7], [17].
Dới đây là bảng cho thấy ảnh hởng của nhiệt độ đến trứng và ấu trùng
giun móc/mỏ:
Bảng 1. ảnh hởng của nhiệt độ đến trứng và ấu trùng giun móc/mỏ
Nhiệt độ Chủng
ảnh hởng đến trứng và ấu trùng
Trên 45
0
C
A. duodenale
N. americanus
ấu trùng bị giết trong vòng 90 phút
ấu trùng bị giết trong vòng 15 phút
45
0
C
40
0
C
A. duodenale
C
A. duodenale
N. americanus
90% số trứng nở trong 5 ngày
Số trứng nở ít hơn
Lợng ma thích hợp khoảng 100mm mỗi tháng.
Chất đất cũng ảnh hởng đến sự phát triển của trứng giun móc/mỏ. Vì
thế sự khác nhau về thổ nhỡng dẫn đến chênh lệch rất lớn về tỷ lệ nhiễm
bệnh: đất cát, đất ven biển, hầm mỏ và các đờng hầm là nơi mà nhiệt độ và
15
độ ẩm cao rất thuận lợi cho trứng và ấu trùng giun phát triển đặc biệt là ấu
trùng giun móc/mỏ [3], [24]. ấu trùng giun móc/mỏ có thể xuống sâu dới
các lớp đất tới 50 cm, mức độ xuyên sâu phụ thuộc vào các chất đất khác
nhau [26]. ở Việt Nam, theo các tác giả Phạm Hoàng Thế, Nguyễn Phan
Long, Kiều Tùng Lâm thờng chỉ gặp ấu trùng giun móc/mỏ trên đất bề
mặt [41].
1.4.2. Yếu tố con ngời
Ngời vừa là vật chủ, vừa là nguồn cung cấp mầm bệnh giun đũa, giun
tóc, giun móc/mỏ vào môi trờng. Môi trờng bị ô nhiễm mầm bệnh cùng
với các yếu tố thuận lợi ở ngoại cảnh là những điều kiện giúp cho chúng hoàn
thành chu kỳ và gây bệnh. Các điều kiện ngoại cảnh thuận lợi chỉ giúp cho
trứng giun và ấu trùng tồn tại và phát triển đợc ở ngoại cảnh. Nhng trứng
giun và ấu trùng sẽ không còn sau một thời gian nếu không đợc nguồn bệnh
bổ sung thêm mầm bệnh. Từ môi trờng, trứng giun và ấu trùng có vào đợc
cơ thể con ngời hay không để hoàn thành chu kỳ và gây bệnh phụ thuộc rất
nhiều vào các hoạt động trong đời sống sinh hoạt của con ngời. Tỷ lệ nhiễm
sẽ giảm đi nhiều nếu nh không bị tái nhiễm vì mỗi loài giun chỉ có thời gian
sống nhất định trong cơ thể ngời [20], [40]. Những điều kiện ảnh hởng đến
0
C, độ ẩm trung bình 86%, lợng ma
trung bình 172,3 mm. Phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu, ý thức vệ sinh
kém và còn thiếu rất nhiều công trình vệ sinh, bón ruộng bằng phân tơi,
chăn nuôi gia súc thả rông. Mức sống còn thấp, điều kiện vệ sinh thiếu thốn,
giáo dục y tế công cộng cha kịp thời và đầy đủ có thể là nguyên nhân của
những vấn đề xã hội này.
Toàn tỉnh chỉ có trên 120.000 học sinh phổ thông trong đó có trên 60.506
học sinh tiểu học đợc học ở 3.766 lớp thuộc 883 trờng và điểm trờng.
Trong nhiều năm qua bằng nhiều nguồn lực và các dự án khác nhau tỉnh
đã từng bớc kiên cố hóa trờng học, trong đó có xây dựng công trình vệ
sinh cho học sinh nhng vẫn cha đáp ứng đầy đủ về số lợng và chất lợng
so với nhu cầu sử dụng của học sinh. Theo báo cáo của Hán Đình Trọng
(2009) [47]: