ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ LINH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI
LÂM SẢN NGOÀI GỖ CÓ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG LÀM THỰC PHẨM
TẠI KHU VỰC VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62. 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lý Văn Trọng
THÁI NGUYÊN - 2012
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo
chương trình đào tạo cao học ngành Lâm học, khóa học 2010 - 2012.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học cũng như của các thầy giáo,
cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Nhân dịp này tác giả xin chân thành
cảm ơn về sự giúp đỡ đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Lý Văn Trọng và Th.S
La Quang Độ - người hướng dẫn khoa học - đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ,
truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong
thời gian thực hiện luận văn.
Thống kê tỷ lệ hộ nghèo khu vực nghiên cứu
30
Bảng 3.3.
Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 3 xã
32
Bảng 3.4.
Mạng lưới nhân viên y tế
33
Bảng 3.5.
Hiện trạng giáo dục
34
Bảng 4.1
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
37
Bảng 4.2.
Bảng: 4.6
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .................................................................................................................i
Chương 1................................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................................3
1.1. Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ .....................................................................3
1.2. Nghiên cứu trên thế giới...................................................................................3
Chương 2..............................................................................................................18
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........................................18
2.1. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................18
2.1.1. Mục tiêu chung............................................................................................18
Chương 3:.............................................................................................................24
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24
3.1. Điều kiện Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu ............................................24
3.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................................24
3.1.1.1. Vị trí địa lý ...............................................................................................24
3.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội.............................................................................28
3.1.2.1. Dân số, lao động và việc làm...................................................................28
3.1.2.2. Đặc điểm kinh tế.......................................................................................29
3.2. Tình hình sản xuất kinh doanh.......................................................................29
3.2.1. Sản xuất nông nghiệp ..................................................................................29
3.2.2. Sản xuất lâm nghiệp ....................................................................................30
3.2.3. Chăn nuôi ....................................................................................................30
3.2.4. Cơ sở hạ tầng ..............................................................................................31
3.3. Đánh giá chung về điều kiện cơ bản ..............................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................68
1
MỞ ĐẦU
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái rừng.
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh
vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng)
và môi trường vật lý của chúng (đất đai, nguồn nước, khí hậu,…). Hệ sinh thái rừng
như vậy có tính đa dạng sinh học rất cao. Từ hệ sinh thái này, nếu giữ nguyên các loại
cây gỗ đứng, người ta vẫn có thể thu hoạch các loại lâm sản khác có thể khái quát vào
các nhóm sản phẩm như: Nấm ăn, dược liệu, cây cho hạt, cây có dầu, cây cho sợi, phấn
và mật hoa, cây có thể làm thức ăn gia súc, rau rừng, trái cây rừng ăn được, song, mây,
tre, cây cho nhựa, hoá chất, động vật rừng (côn trùng và động vật khác), nguồn gen cho
các sản phẩm trên, sinh thái rừng và môi trường du lịch, thủy điện, ….
Ở Việt Nam, LSNG đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời cổ đại và nhiều loại
LSNG được coi là những sản vật quý của đất nước như Linh chi, Tiền thảo; Ngũ gia bì;
Thiên niên kiện,... LNSG có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với rất nhiều cộng đồng, đặc
biệt là đồng bào miền núi. Giá trị LSNG của rừng được thể hiện như rừng cung cấp
lương thực (củ Mài, củ Gạo,…), thực phẩm (Nấm, măng, rau rừng,…), Các loại cây
cho hạt (Đào lộn hột; Các loại dẻ...), cung cấp dược thảo chữa bệnh (Nhân sâm, Hà thủ
ô, Linh chi,…), cung cấp nguyên vật liệu xây dựng, làm đồ gia dụng, đan lát (các loại
tre nứa, song mây),...
VQG Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá và có cảnh đẹp lôi cuốn khách du
lịch trong và ngoài nước đến thăm ngày càng tăng. Đó là một phức hệ gồm hồ, sông,
núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnh quan đa
dạng và phong phú. Nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng Ba Bể bốn mùa
đầy nước. Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, gồm 3 hồ lớn
thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba Bể. Hồ nhận nước từ
hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng. Hồ còn có chức năng điều tiết, phân
nguồn giống, kỹ thuật không phù hợp dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao.
Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát triển một số
loài LSNG có giá trị sử dụng làm thực phẩm tại khu vực vùng đệm VQG Ba Bể - tỉnh
Bắc Kạn” được thực hiện là thực sự cần thiết, nhằm lựa chọn được loài cây, kỹ thuật
trồng cây LSNG có triển vọng nhất đối với khu vực.
3
Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ
Đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ đang được sử dụng rộng rãi
hiện nay như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm rừng không phải là gỗ,... Hầu hết
mọi người đều có cùng quan điểm coi các khái niệm trên là đồng nhất, để chỉ các sản
phẩm của rừng không phải là gỗ như: động vật rừng, các cây dược liệu, các sản phẩm từ
cây rừng không phải là gỗ, các sản phẩm phụ từ khai thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ,...).
Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của
một loài hoặc một nhóm loài nhất định. Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được
một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này.
+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989 do
W.W.F. Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học
khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm
các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và
sợi”. (The Economic value of Non - timber Forest products in Southeast asia - W.W.F 1989).
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông
dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp
quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn
gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”.
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được
S. Dransfield and E.A. Widjaja (1995) [27] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình
thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở
vùng Đông Nam Á.
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào
các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về
song, mây và một số cây thuốc, cay lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến.
1.2.2. Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng
Zhou Fangchun (2000) [28] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc
khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc.
5
Ở Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây
mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song, mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác
nhau. Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng Mây giống phục vụ cho gieo trồng trên
quy mô lớn (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7].
Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh
măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu
trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm
khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh (dẫn theo
Nguyễn Quang Hưng, 2008) [14].
Zhou Fangchun (2000) [28] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm có ảnh
hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúc khác
nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng
trái vụ ở Trung Quốc.
Theo J. Dransfield và N.Manokaran, 1998 việc trồng Mây nếp đã phát triển trên
quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng
xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm.
Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7
cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7].
Văn Thắng, 2002)[21]
1.2.4. Nghiên cứu về thị trường LSNG
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù LSNG có giá trị to lớn, nhưng nhiều người
sản xuất LSNG lại thu được hiệu quả rất thấp là do sự hạn chế trong việc tiếp cận thông
tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu những giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng
cao chất lượng sản phẩm theo nhu cầu của thị trường. Để góp phần giải quyết những
vấn đề trên, vào năm 1992, chương trình rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển
các bản hưỡng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thông tin thị trường LSNG ở mức địa
phương và giới thiệu một số kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi trồng, canh tác và phát triển
thực vật ngoài gỗ, như phát triển rừng cung cấp dược thảo ở Nepan, rừng cung cấp cây
họ dầu, Tanin, cau rừa ở vùng Amazon - Brazil, rừng cung cấp Song Mây ở Malaixia
(dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7].
1.2.5. Các nghiên cứu về vai trò của LSNG
7
Phần lớn LSNG đã trở thành sản phẩm hàng hóa nên đã mở ra triển vọng cho
việc quản lý sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng. Cùng với việc kinh doanh gỗ, nó
đem lại nhiều lợi ích cho việc bảo vệ rừng (Wim Bergmans, 1989). Thấy rõ được vai
trò của LSNG trong kinh tế và bảo vệ rừng, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học nhằm phát hiện các sản phẩm ngoài gỗ. Phần lớn các công trình nghiên
cứu được thực hiện ở các nước đang phát triển trong khu vực nhiệt đới, là những nơi có
tiềm năng LSNG nhất trên thế giới, nhưng lại có áp lực phá rừng mạnh mẽ nhất.
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung
cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, đến tạo
việc làm, phát triển ngành nghề thủ công nghiệp,… Tầm quan trọng của LSNG đối với
các nước nhiệt đới đã được thừa nhận, như ở Thái Lan, trong năm 1987 đã xuất khẩu
LSNG đạt giá trị 23 triệu USD và ở Indonesia cũng trong năm đó đạt tổng giá trị xuất
khẩu LSNG lên tới 238 triệu USD (Tenne, 1987).
Các tổ chức quốc tế như FAO (1997) [26], IUCN (1999) [15] đã đưa ra bảng giá
30,0
20,1
9,9
Phần Lan
76,0
24,0
13,4
10,6
Việt Nam
75,0
25,0
12,5
12,5
Ấn Độ
80,0
của gỗ. Do đó, nếu chỉ coi gỗ là nguồn thu nhập duy nhất từ rừng thì chúng ta đã bỏ lỡ
một nguồn lợi khác tương đương với nó. Dưới đây là một số nghiên cứu chứng minh
điều này:
8
- Nghiên cứu của Mayer (1980) cho thấy, 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu
thụ bởi người dân địa phương và không bao giờ được tính ra tiền mặt.
- Ở Ấn Độ (1982) LSNG chiếm gần 40% giá trị lâm sản và 60% giá trị lâm sản
xuất khẩu. Ở Indonesia (1989) thu được 436 triệu USD từ LSNG.
- Padoch (1988), Bele (1989) qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới có
vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân địa phương một phần là ở khả năng
cung cấp LSNG. Mayer (1988) đã tính toán rằng, một khu rừng nhiệt đới có diện tích
50.000 ha nếu được quản lý tốt sẽ cung cấp đều đặn 200 USD/ha/năm. Peter và cộng sự
(1989) đã tính toán thu nhập từ gỗ và LSNG trên một ha rừng nhiệt đới vùng Amazon
đạt 6.820 USD/ha/năm [25].
1.2.6. Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một hệ sinh thái hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ
động vật và thực vật phong phú và đa dạng nhất hành tinh (Van Steenis, 1956). Vì vậy,
việc tận dụng triệt để mọi tiềm năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện, lợi
dụng tổng hợp, trong đó có kinh doanh và lợi dụng LSNG là hết sức cần thiết.
Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng trong đó chứa đựng gần
90% tổng số loài thực vật của trái đất (Mc Nell et al, 1990).
Năm 1987, Wilson đã tìm thấy quanh một gốc cây họ đậu ở Peru có tới 43 loài
kiến, thuộc 26 giống, bằng toàn bộ khu hệ kiến có mặt ở nước Anh.
Tại Đông Nam Á, rừng nhiệt đới và đặc biệt là rừng mưa có mức độ đa dạng
sinh học rất cao. Tại Malaysia có ít nhất 40.000 loài thực vật, Indonesia có khoảng
20.000 loài, Thái Lan có 12.000 loài, số loài thực vật ở Đông Dương (Việt Nam, Lào,
Campuchia) là 15.000 loài.
Nhằm nâng cao vai trò của LSNG một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt
1.3.1. Nghiên cứu về phân loại, bảo tồn LSNG
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX,
Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có
giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam.
Đỗ Tất Lợi (1991) [17] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản
lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều
bài thuốc hay từ những loài LSNG này.
Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [7], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại
LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG,
những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,….
10
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [18] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái
phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và
Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc.
Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG
trong giai đoạn 2006 – 2020” [1]. Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế
hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [2].
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [11], đã mô tả hình thái, phân bố,
công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG.
Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài
khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc
(76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài);
Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng
mát thân gỗ).
1.3.2. Nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa trong việc khai thác, sử
dụng và phát triển LSNG
Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh
Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000) [13]. Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài
1995 (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm Bản
Cám, Nặm Cắm thuộc VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn, Th.s La Quang Độ, 2001 [9]. Tác
giả đã xác định được số loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc
trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này.
Tìm hiểu một số kiến thức bản địa và sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại
VQG Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn. Th.s La Quang Độ, Th.s Nguyễn Thị Minh Châu, 2003
[10]. Hai tác giả đã xác định được các loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm
khai thác, sử dụng chúng của dân tộc Dao, H’Mông.
Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các lâm sản ngoài
gốc làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa - Võ Nhai, Ths Nguyễn Thị Thoa, Ths.
Nguyễn Văn Mạn (Nguồn PGS.TS Đặng Kim Vui và Cs)[22]. Tác giả đã xác định được
kinh nghiệm của người dân trong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia vị.
12
Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ do viện khoa học Lâm Nghiệp (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
IUCN thực hiện đã được triển khai nhằm tìm lại giá trị của lâm sản ngoài gỗ, giúp
người dân có cách khai thác và phát triển hợp lý (Nguồn: Phan Văn Thắng, 2002) [21]
Điều tra nghiên cứu kiến thức bản địa về quản lý, phát triển tài nguyên rừng ở
một số cộng đồng thôn bản thuộc miền núi phía bắc Việt Nam, Đỗ ĐÌnh Sâm, Đặng
Kim Khánh, An Văn Bảy. Các tác giả đã nghiên cứu về kinh nghiệm trồng tre lấy măng
của đồng bào Thái Sơn La, phát triển rừng quế của đồng bào người Dao ở Quảng Ninh
[20]
1.3.3. Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA
(1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 – 69%; Phương pháp ghép
nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5
tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46%. Tỷ lệ sống của cây
Mây nếp dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi ở Phú Thọ và Hoà Bình kết quả cho
thấy: Mây nếp sau 42 tháng tuổi ở Cầu Hai (Phú Thọ), với phương pháp xử lý thực bì
theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố đã cho sinh trưởng
về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh).
Cũng với phương pháp xử lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại
Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm,
68,1% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh).
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [4] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để
lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp
giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá. Đề tài đã đưa ra được
một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều
chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật
khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng.
Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [4] cũng đã thống kê
được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm
trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông. Đề tài đã thống kê được diện tích trồng Điềm
trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha. Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về
đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của
nhân dân.
14
Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh
hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật độ từ 300 cây/ha đến
5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi.
Ngoài một số công trình điển hình ở trên, còn rất nhiều công trình của các nhà
khoa học khác thuộc các ngành Y tế, môi trường,… đã tham gia nghiên cứu và có kết
quả đáng chú ý như công trình của Viện Dược liệu (2005), Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật (2001); Trần Công Khánh (2000); Nguyễn Ngọc Lân (1999); Nguyễn Văn Tập
(2001), Trần Văn Ơn (2002), các công trình của các địa phương;… Đặc biệt là các công
cuối cùng là người sản xuất và chế biến.
Qua kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng, việc không thông qua sơ chế, chế biến
mà bán trực tiếp cây LSNG thô làm giảm nhiều giá trị thu được của người dân. Sự trải
qua quá nhiều khâu trung gian dẫn tới giá cả LSNG người dân bán thường bị ép giá với
giá bán ngoài thị trường. Do vậy, cần đẩy mạnh các khâu chế biến và đưa trực tiếp sản
phẩm tới tay nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả cao [16].
1.3.5. Các nghiên cứu về vai trò của LSNG
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở
tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là
nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu
nhập kinh tế của hộ/năm. Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG
như ở Nguyên Bình – Cao Bằng thu nhập chủ yếu từ cây trúc sào.
Christian Rake và cộng sự (1993) khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình,
Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người
dân ở 3 tỉnh này. Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu và song mây là những loài có tiềm
năng phát triển. Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn
tài nguyên này ngày càng cạn kiệt.
Gilman, Nguyễn Văn Sản (1999) trong công trình nghiên cứu của mình cho thấy,
gần 200 tấn dược liệu được khai thác ở VQG Ba Vì vào năm 1997 - 1998, ước tính gần
60% người dân tộc Dao ở Ba Vì khai thác nguồn tài nguyên này và nguồn thu nhập đứng
thứ 3 sau lúa và sắn.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lân (1999) cho thấy, 100% số hộ ở khu bảo tồn Pù
Mát sống dựa vào việc khai thác gỗ và LSNG, 22% số hộ thường xuyên khai thác cây
Met, Nứa, Song, Mây,…; 11,75% số hộ thường xuyên khai thác mọc nhĩ. Thu nhập bình
quân khoảng 20.000 đồng/ngày và 8,3% số hộ thường xuyên khai thác củi bán lấy tiền
mua lương thực và trong những ngày giáp hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn vào rừng
đào củ Mài, củ Chuối, củ Nâu và hái rau rừng để ăn.
16
rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn rất ít cây LSNG có giá trị, người dân sinh sống gần
rừng bắt đầu khai thác và xâm lấn trái phép tài nguyên LSNG ở các khu rừng quốc gia,
17
khu bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho sử dụng tại chỗ và sử dụng làm hàng hóa buôn
bán gây tác động nghiêm trọng tới công tác bảo tồn và phát triển rừng đặc biệt là hiện
nay, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với nhiều loại LSNG quý, hiếm
như Linh chi, Hà thủ ô,... là rất lớn. Như vậy, để có thể giảm áp lực vào tài nguyên rừng
tự nhiên của nước ta, đồng thời tạo sinh kế, phát triển kinh tế địa phương thì việc tìm
kiếm loài cây, biện pháp kỹ thuật để xây dựng các mô hình LSNG có giá trị là hết sức
cần thiết đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệm của các vườn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Nhằm giải quyết sinh kế cho cộng đồng 3 xã vùng đệm là Khang Ninh, Cao
Thượng và Quảng Khê thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc
Kạn từ đó giảm áp lực cuả người dân vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền
vững, trong đó nghiên cứu phát triển các loài LSNG có giá trị kinh tế cao sử dụng làm
thực phẩm đang là hướng đi đúng đắn và rất có triển vọng.
18
Chương 2.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Nhằm xác định được những loài cây LSNG sử dụng làm thực phẩm có giá trị
kinh tế, có thể gây trồng ở các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể làm cơ sở đề xuất
các giải pháp phát triển bền vững, góp phần nâng cao thu nhập người dân vùng đệm,
vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể.
- Nghiên cứu phát triển LSNG trong vùng Vườn quốc gia Ba Bể cần được đặt
trong mối quan hệ chặt chẽ với đời sống thường ngày của người dân địa phương như
các hoạt động khai thác, sử dụng, gây trồng và phát triển,...
- Chú trọng nghiên cứu, tổng kết các biện pháp kỹ thuật đã có, các giống mới,
chuyển giao công nghệ, kết hợp với nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng tiếp nhận
của người dân (chú trọng cả yếu tố kinh tế và kỹ thuật).
- LSNG cần được coi là một giải pháp quan trọng và có hiệu quả cao trong việc
cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới công tác quản lý rừng bền vững của
VQG Ba Bể.
- Phát triển kỹ thuật có sự tham gia (PTD): Lấy người dân làm trung tâm.
20
2.5.1.2. Cách tiếp cận của đề tài
- Nghiên cứu phát triển LSNG sử dụng làm thực phẩm nhằm góp phần cải thiện
đời sống của người dân sống trong và ngoài VQG Ba Bể cần có cách tiếp cận tổng hợp.
- Cách tiếp cận có sự tham gia của các đối tượng khác nhau: người dân, cán bộ
thôn, xã, huyện, thị trường, vườn quốc gia, Các chương trình Dự án...
- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận có sự kế thừa các số liệu và
thông tin đã có.
2.5.2. Phương pháp nghiên cứu
2.5.2.1. Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Từ các tài liệu đã có của VQG Ba Bể, UBND các xã, các loài cây đã triển khai
để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan.
Các tài liệu thu thập gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đó chú trọng đến
các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, lao động, thu nhập, tình hình sản xuất nông
lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng,...
- Đặc điểm tài nguyên rừng VQG Ba Bể, đặc biệt là các tài liệu điều tra về tài
nguyên rừng, tài liệu về các loài LSNG trên địa bàn; phân bố, diện tích các loại rừng,