i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Nguyễn Viết Sử ii
LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá chất lượng học tập và nghiên cứu của chương trình Cao học,
việc hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi học
viên. Sau khoá Cao học 2009 - 2012 do trường Đại học Lâm nghiệp (ĐHLN)
đào tạo tại cơ sở 2 thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại Khu
Bảo tồn thiên nhiên - Văn Hóa Đồng Nai".
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu
trường ĐHLN, Khoa đào tạo Sau đại học cùng các thầy cô giáo trong trường. Tôi
cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc, Ban đào tạo và tổ sau đại học
trường ĐHLN cơ sở 2 Trảng Bom đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học
tập tại trường. Tôi xin đặc biệt tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Hoàng Văn Sâm,
Giám đốc trung tâm Đa dạng sinh học Trường ĐHLN, người đã trực tiếp giúp đỡ,
hướng dẫn và bổ sung những kiến thức khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
1.2.2. Ở Việt Nam 8
1.2.3. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng
Nai 12
CHƯƠNG 2 14
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
14
2.1. Mục tiêu của đề tài 14
2.1.1. Mục tiêu chung 14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 14
2.2. Đối tượng nghiên cứu 14
2.3. Nội dung nghiên cứu 14
2.4. Phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1.Công tác chuẩn bị 14
2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa 15
2.4.2.1. Thu thập số liệu tại thực địa 15
2.4.2.2. Xử lý và bảo quản mẫu 20
2.4.2.3. Xác định và kiểm tra tên khoa học 22
2.4.2.4. Xây dựng danh lục thực vật 24
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu các nguyên nhân suy giảm và đề xuất giải
pháp bảo tồn thực vật 26
CHƯƠNG 3 27
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27
3.1. Sơ lược về lịch sử hình thành Khu Bảo tồn 27
3.2. Điều kiện tự nhiên 27 iv
3.2.1. Vị trí địa lý 27
3.2.2. Địa hình 28
3.2.3. Khí hậu 28
4.2.4.4. Mức độ nguy cấp xét theo CITES 54
4.3. Các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật tại Khu Bảo tồn thiên
nhiên Văn Hóa – Đồng Nai 55
4.3.1. Các nguyên nhân trực tiếp 56
4.3.1.1. Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp 56
4.3.1.2. Khai thác gỗ 56
4.3.1.3. Phá rừng làm nương rẫy 58
4.3.1.4. Do sự khai thác và buôn bán gỗ, các Lâm sản ngoài gỗ 59
4.3.2 Các nguyên nhân gián tiếp 61 v
4.3.2.1 Áp lực dân số 61
4.3.2.2 Tình trạng đói nghèo 62
4.3.2.3 Nhận thức của cộng đồng còn thấp 62
4.3.2.4. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường 63
4.4 Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên 63
4.4.1. Nâng cao năng lực quản lý và thi hành pháp luật 63
4.4.2.Tăng cường đào tạo 65
4.4.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường trang thiết bị 65
4.4.4. Giải pháp về nghiên cứu, đánh giá các giá trị bảo tồn thiên nhiên có
sự tham gia của cộng đồng 65
4.4.5. Tăng cường mối quan hệ với chính quyền địa phương trong công tác
bảo tồn đa dạng thực vật tại các xã vùng đệm và xử lý các vụ vi phạm 67
4.4.6. Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 68
CHƯƠNG 5 69
KẾ LUẬN – TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
5.1. Kết luận 69
5.1.1. Đa dạng hệ thực vật 69
5.1.2. Các nguyên nhân gây suy giảm tính đa dạng thực vật ở Khu BTTN
UNEP: Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc
UNESCO: Tổ chức Văn hóa, khoa học Liên hiệp quốc
MAP: Chương trình con người và sinh quyển
WWF: Quỹ Bảo tồn Động vật hoang dã Quốc tế
PRA: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
WCMC: Trung tâm giám sát bảo tồn Thế giới
CITES: Công ước Quốc tế về buôn bán Động thực vật hoang dã nguy cấp vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
2.1
Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra
16
2.2
Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật
25
3.2
Bảng phân loại đất tại khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa ĐN
30
3.4
Bảng hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của Khu BTTN – VH ĐN
39
4.1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (Khu bảo tồn) được thành lập
trên cơ sở đổi tên Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu theo Quyết định số
2208 ngày 27/8/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai. Là đơn vị sự nghiệp khoa học có
thu trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản
văn hóa của Việt Nam. Với tổng diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn trên 100.303
ha, gồm: 67.903 ha rừng và đất lâm nghiệp và 32.400 ha mặt nước (hồ Trị An). Khu
Bảo tồn nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc
huyện Vĩnh Cửu, xã Đắk Lua thuộc huyện Tân Phú; xã Phú Cường, Phú Ngọc, La
Ngà và Ngọc Định thuộc huyện Định Quán; xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng
Bom, xã Gia Tân thuộc huyện Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai. Khu Bảo tồn nằm về
phía Bắc tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp tỉnh Bính Dương; phía Bắc giáp tỉnh Bình
Phước. Cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km và cách thành phố Biên Hòa khoảng 40
km (nằm cạnh nhà máy Thủy điện Trị An). Bên cạnh giá trị về đa dạng sinh học,
trước đây cũng là vùng căn cứ cách mạng với địa danh nổi tiếng Chiến khu Đ. Đây
là một trong những Khu bảo tồn có tài nguyên động thực vật rừng đa dạng, phong
phú, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu. Khu bảo tồn giữ vai
trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học,
bảo vệ môi trường, điều hòa nguồn nước cho thuỷ điện Trị An, chống xói lở, bảo vệ
đất, khu dân cư sống ven khu rừng và bảo tồn các giá trị di tích lịch sử nhân văn.
Khu Bảo tồn được thành lập với mục tiêu khôi phục lại sự đa dạng sinh học
của hệ sinh thái rừng cây tự nhiên bản địa thuộc lưu vực sông Đồng Nai và vùng
miền Đông Nam bộ; tạo ra phạm vi bảo tồn thiên nhiên rộng lớn nối liền với Vườn
Quốc gia Cát Tiên, bảo tồn nơi cư trú và di trú cho các loài động vật hoang dã, phục
vụ công tác bảo tồn thiên nhiên gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lịch
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức về đa dạng sinh học
Thuật ngữ Đa dạng sinh học (Biological diversity/Biodiversity) xuất hiện từ
những năm 1980, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu và
bảo tồn tính đa dạng và phong phú của sự sống trên trái đất. Thuật ngữ này hiện nay
đang được sử dụng một cách rộng rãi nhất trên phạm vi toàn cầu trong nhiều lĩnh
vực khoa học và văn hóa đời sống. Đa dạng sinh học (ĐDSH) có nghĩa rất rộng và
có những nội dung còn đang được thảo luận. Trước hết, đó là sự đa dạng và phong
phú của sự sống trên trái đất. Các loài cây, hoa trái, các loài côn trùng, vi khuẩn,
rừng và các rạn san hô v.v đều nằm trong khái niệm ĐDSH. Thứ đến, ĐDSH lại là
một lĩnh vực nghiên cứu trong đó bao gồm cả sự mô tả, đánh giá và giải thích
nguồn gốc cũng như sự hình thành nó.
* Lịch sử khái niệm về đa dạng sinh học
Nguồn gốc đa dạng của sự sống trên trái đất không những là đề tài trung tâm
của các ngành khoa học tự nhiên mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học
khác. Các quan niệm về sự phân chia sự sống đã có từ thời cổ xưa và vẫn còn tiếp
tục bàn luận cho tới ngày nay.
Thuật ngữ ĐDSH xuất hiện lần đầu tiên trong hai bài viết của Lovejoy
(1980), Norse và McManus (1980). Lovejoy, làm việc cho Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên
Quốc tế tại Washington (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh trong Báo cáo năm 1980 cho Tổng
thống Hoa Kỳ về các vấn đề môi trường toàn cầu, năng lượng, dân số và kinh tế
Trong báo cáo cũng đã nhấn mạnh sự cấp thiết phải có các nỗ lực quốc tế để bảo vệ
môi trường trên phạm vi toàn cầu, đánh giá diện tích rừng còn lại trên trái đất,
những kiến nghị sử dụng và hậu quả của việc khai thác rừng quá mức hiện nay (làm
thay đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái ĐDSH) v.v Lovejoy cho rằng ĐDSH hay
đa dạng của sự sống được xác định trước hết bằng tổng số các loài sinh vật đang tồn
* Định nghĩa về đa dạng sinh học
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH. Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ
Thiên nhiên Quốc tế (WWF) (1989) quan niệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự
sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen 5
chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại
trong môi trường”. Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và
đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái
đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn,
ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần
thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống
trong một quần thể. ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong
đó các loài sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật
tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.
Trong chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam cũng nêu ra một
khái niệm về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các nguồn sinh
vật sống trên hành tinh gồm tổng số loài động vật và thực vật, tính đa dạng và sự
phong phú trong từng loài tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác
nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn
cảnh khác nhau”. Với định nghĩa này đã đề cập đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là
đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Tuy nhiên định nghĩa trên còn dài
dòng, không rõ ràng và dễ dẫn đến nhầm lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng;
còn một điểm không rõ nữa của định nghĩa trên là chỉ nhắc đến hai nhân tố động vật
và thực vật trong giới sinh vật mà bỏ quên quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác
như nấm, vi sinh vật…
Trong tác phẩm “Đa dạng cho sự phát triền – Diversity for development” của
Viện tài nguyên gen thực vật quốc tế (IPGRI) [59] đa dạng sinh học được định nghĩa
như sau: “Đa dạng sinh học là toàn bộ những biến dạng trong tất cả cơ thể sống và
cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có
giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Nói cách khác, ĐDSH là
toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa
dạng của sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng. Đó không
chỉ là tổng số của các hệ sinh thái, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm
tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau.
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hoá, là sự thể
hiện của xã hội con người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một 7
nhân tố quan trọng của các hệ sinh thái. Đa dạng văn hoá được thể hiện bằng sự đa
dạng ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, những kinh nghiệm về việc quản lý đất đai,
nghệ thuật, âm nhạc, cấu trúc xã hội, sự lựa chọn những cây trồng, chế độ ăn uống
và một số thuộc tính khác của xã hội loài người. Văn hoá bản địa là một trong
những khía cạnh rất quan trọng của đa dạng văn hoá chính là văn hoá của các dân
tộc bản địa. Đa dạng văn hoá gắn liền với các dân tộc bản địa bị đe doạ bởi nền kinh
tế và xã hội “văn minh”. Việc bảo vệ sự đa dạng về văn hoá này là rất cần thiết do
thông thường nó là nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới có từ lâu, song những công
trình có giá trị xuất hiện vào thế kỷ 19 - 20: Thực vật chí Honkong 1861 [53]; Thực
vật chí Australia 1866 [54]; Thực vật chí rừng Tây Bắc và Trung tâm Ấn Độ 1874
[55]. Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ nghiên
cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachev A .N. [66] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một
diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không
có sự phân hoá về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachev A .N.
đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm
thường là 1500 - 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện
tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ
thể. Việc xác định diện tích gồm những giai đoạn sau:
- Kiểm kê số loài trên một diện tích hạn chế nhất định.
- Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ
tăng số lượng loài
- Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu
1.2.2. Ở Việt Nam
Việt Nam được xem như một điểm nóng về đa dạng sinh học. Với lãnh thổ trải
dài từ Bắc đến Nam nên có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền đã
tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và các loài sinh vật. Theo lời tựa trong
cuốn “Cơ sở sinh học bảo tồn”, chúng ta có khoảng 10% trong tổng số tất cả các 9
loài sinh vật được biết đến trên trái đất, trong đó ước tính có xấp xỉ 13.000 loài thực
vật đã được ghi nhận. Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị
khoa họa và thực tiễn lớn, tuy nhiên, chắc chắn đây chưa phải là con số cuối cùng vì
hàng năm có rất nhiều các loài thực vật mới trong hệ thực vật Việt Nam đã được ghi
nhận [39, 44, 47] .
Nghiên cứu về thực vật Việt Nam trước hết phải kể đến các tác giả lớn như
công dụng của 3105 loài cây sử dụng làm thuốc ở Việt Nam (Ngô Tiến Dũng,
2006)[19].
Thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởi các nhà
thực vật Liên Xô và Việt Nam và đăng trong Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật
Việt Nam – Vascular Plants Synopsis of Viet Nam Flora” tập 1, 2 (1996) và tạp chí
Sinh học số 4 chuyên đề (1994 va 1995) (Ngô Tiến Dũng, 2006)[19].
Trong 3 tập Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ năm 1991-1993 [20] xuất
bản tại Canada và đã được tái bản tại Việt Nam năm 1999 – 2000 [21], trên cơ sở bổ
sung vào cuốn Cây cỏ Miền Nam một bộ phận thảo mộc quan trọng ở địa bàn các
tỉnh phía Bắc đã thống kê được số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500
loài, gần đạt con số 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học. Đây là bộ
sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt
Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá phân loại thực vật
Việt Nam.
Từ năm 1995 đến năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác
đã công bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương,
vùng núi đá vôi Hòa Bình, Sơn La, Khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng
núi cao Sa Pa - Phansipang, vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể,
Cát Bà, Bến En, Phong Nha kẻ Bàng, Cát Tiên trong quá trình nghiên cứu tác giả
đã công bố cuốn “ Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” [42].
Trong những năm gần đây, bộ Thực vật chí Việt Nam đã lần lượt xuất bản
các tập giới thiệu về các họ: 1) Họ Na - Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân, 2) Họ
Bạc hà - Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000), 3) Họ Cói - Cyperaceae của
Nguyễn Khắc Khôi (2000), 4) Họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên
(2002), 5) Họ Trúc đào - Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007), 6) Họ Cỏ roi ngựa 11
- Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2007), 7) Họ Cúc Asteraceae - của Lê Kim
Biên (2007), 8) Bộ Hoa loa kèn - Liliales của Nguyễn Thị Đỏ (2007), 10) Ngành
2
đã phát hiện được 1261 loài thực vật bậc cao có mạch với 698 chi và 178 họ
thực vật; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài 12
thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sapa,
Phanxipăng. Tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (1992) đã công bố danh lục thực vật Cúc
Phương với 1944 loài, thuộc 228 họ trong 7 ngành thực vật, sau đó được bổ sung,
chỉnh lý và tái bản trong công trình “Tính đa dạng hệ thực vật Cúc Phương do các
tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ thực hiện với 1944
loài, 912 chi, 219 họ, 86 bộ trên diện tích 220 km
2
. Ngoài ra, còn rất nhiều công bố
về thành phần loài thực vật của các Vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,
khu di tích lịch sử, văn hóa trên cả nước.
Đa dạng các đơn vị phân loại: trên phạm vi cả nước Nguyễn Tiến Bân
(1997)[1, 2, 3] đã thống kê và đi đến kết luận Thực vật Hạt kín trong hệ thực vật
Việt Nam hiện biết 8.500 loài, 2.050 chi. Trong đó lớp 2 lá mầm là 1.590 chi với
trên 6.300 loài và lớp 1 lá mầm là 460 chi với 2.200 loài. Phan Kế Lộc (1996) đã
tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291
họ và 733 loài cây trồng . Như vậy tổng số loài lên đến 10.361 loài (chiếm 4%),
2.256 chi (chiếm 15%), 305 họ (chiếm 57%) tổng số các loài, chi và họ của Thế
giới. Ngành hạt kín chiếm 92,47 % tổng số loài, 92,48 tổng số chi và 85,57 % tổng
số họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống
Brummitt (1992) cho thấy hệ thực vật Việt Nam hiện biết đến 11.178 loài, 2.582
chi, 395 họ thực vật bậc cao. Tuy nhiên theo dự đoán của các nhà khoa học thực
vật, số lượng loài thực vật có thể còn cao hơn nhiều. Do vậy chúng ta cần phải tiếp
tục điều tra, nghiên cứu bổ sung thêm thông tin cho hệ thực vật Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng Phạm Bình Quyền công bố cuốn
thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
14
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu của đề tài
2.1.1. Mục tiêu chung
Góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên - Văn Hóa
Đồng Nai.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng được danh lục thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa
Đồng Nai.
- Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ
thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai;
- Xác định được nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật thân gỗ ở Khu Bảo tồn
thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai để từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng thực vật
có hiệu quả.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai:
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi thực hiện 4 nội dung sau:
- Điều tra, xây dựng danh lục các loài thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên -
Văn hóa Đồng Nai;
- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật
thân gỗ tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu và phát hiện các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật tại Khu
Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai;
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn
hiện loài. Toạ độ các điểm và Sơ đồ các tuyến thể hiện dưới đây:
16
Bảng 2.1: Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra
Tuyến
Toạ độ điểm
đầu/điểm cuối
Địa điểm
X
Y
1
Điểm đầu
Trạm KL Rang rang
107° 1' 22"
11° 20' 14"
Điểm cuối
107° 1' 7"
11° 19' 45"
2
Điểm đầu
Trạm KL Bàu Hào
107° 4' 15"
11° 14' 56"
Điểm cuối
11° 23' 26"
Điểm cuối
107° 8' 4"
11° 23' 48"
7
Điểm đầu
Trạm KL Đa Kai
107° 6' 13"
11° 24' 46"
Điểm cuối
107° 5' 54"
11° 25' 6"
8
Điểm đầu
Trạm KL Suối Ràng
107° 8' 5"
11° 21' 9"
Điểm cuối
107° 7' 38"
11° 21' 20"
9
Điểm đầu
Chốt KL Suối Mun
107° 1' 39"
11° 16' 6"
Điểm cuối
107° 1' 41"
11° 16' 26"
10
Điểm đầu
Điểm cuối
107° 1' 30"
11° 8' 43"
14
Điểm đầu
Trạm KL Ba Cai
107° 2' 43"
11° 7' 25"
Điểm cuối
107° 2' 54"
11° 7' 42"
18
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỀU TRA