Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT PHẠM THẾ CƢỜNG SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI ẾCH NHÁI
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ VÀ
CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN
Theloderma palliatum và T. nebulsum (Rowley et al., 2011), Gracixalus quangi
(Rowley et al., 2011), Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa el al., 2012), Leptolalax
firthi (Rowley et al., 2012). Theloderma chuyangsinensis, T. bambusicolum và
Rhacophorus robertingeri (Orlov et al., 2012), mới đây nhất là loài Gracixalus waza
(Nguyen et al., 2012). Hiện nay đã ghi nhận có tới hơn 190 loài ếch nhái ở Việt Nam
[63].
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tây Yên Tử nằm ở vị trí sườn Tây núi Yên Tử,
chiếm phần lớn diện tích rừng tự nhiên trong quần thể các dãy núi thuộc cánh cung
Đông Triều. Đây là khu rừng tự nhiên tập trung lớn của tỉnh Bắc Giang, nối liền với
diện tích rừng thường xanh của tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương thuộc vùng Đông Bắc
Việt Nam (Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang, 2010). Rừng trên núi Yên Tử không chỉ
chứa đựng khu hệ động thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có các loài ếch nhái.
Kể từ năm 2005 trở lại đây đã có một số loài mới được phát hiện như: Tylototriton
vietnamensis (Boehme et al., 2005), Odorrana yentuensis (Tran et al., 2008), cũng như
ghi nhận mới như: Rhacophorus maximus và Rhacophorus rhodopus (Nguyen et al.,
2008) được phát hiện ở khu vực này, điều đó chứng tỏ tiềm năng đa dạng các loài ếch
nhái ở khu vực này là rất lớn. Tuy nhiên quần thể các loài ếch nhái ở khu vực này đang
bị đe dọa do tác động của con người như xây dựng nhà máy nhiệt điện, khai thác than
dẫn đến mất sinh cảnh sống và khai thác quá mức phục vụ nhu cầu của con người vì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
vậy tôi chọn đề tài “Sự đa dạng các loài ếch nhái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây
Yên Tử và các giải pháp bảo tồn”
Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử.
- Xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây
Yên Tử và đề xuất một số giải pháp bảo tồn.
mô tả 171 loài và phân loài ếch nhái, đây được coi là tài liệu đầy đủ nhất về ếch nhái
của vùng Đông Dương vào những năm giữa thế kỷ XX [92].
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài ếch nhái trong bài
báo “Về định loại ếch nhái Việt Nam”. Năm 1981, Trần Kiên và cộng sự đã thống kê
thành phần loài động vật Miền Bắc Việt Nam (1955-1976) trong đó có 69 loài ếch
nhái. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản chuyên khảo Danh lục bò
sát và ếch nhái Việt Nam, ở chuyên khảo này các tác giả đã thống kê được 82 loài ếch
nhái [31].
Năm 1999, nghiên cứu tổng quan về ếch nhái của tác giả Hồ Thu Cúc đã thống kê
được 100 loài ở Việt Nam [5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2001) điều tra khảo sát khu hệ ếch nhái, Bò sát núi
Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai năm 1999, đã thống kê được ở khu vực này có 22 loài ếch
nhái thuộc 5 họ, 1 bộ [30].
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs. thống kê trong Danh lục ếch nhái và bò sát
Việt Nam có 162 loài ếch nhái thuộc 9 họ, 3 bộ. [34].
Trong các báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật ở Hội thảo Quốc
gia lần thứ I (2005) các tác giả đã công bố một số công trình nghiên cứu sự đa dạng
của khu hệ trong đó có đa dạng ếch nhái.
Lê Nguyên Ngật và cs. (2005): Thành phần ếch nhái, bò sát ở một số vùng thuộc
tỉnh Thanh Hóa trong đó ghi nhận 44 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ [12].
Năm 2009, Nguyen et al. đã thống kê được 176 loài ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ ở
Việt Nam [66].
Trong Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ nhất diễn ra
năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế, các báo cáo khoa
học về đánh giá khu hệ ếch nhái như:
Ziegler et al. (2009) đã tổng kết 10 năm nghiên cứu đa dạng sinh học ếch nhái,
Bò sát ở Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng từ năm 2000 đến 2009 và thống kê được
45 loài ếch nhái [41].
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học
toàn quốc lần thứ III năm 2009, có một số kết quả nghiên cứu về đa dạng khu hệ ếch
nhái của một số vùng trên cả nước:
Ngô Thái Lan và cs. (2009) điều tra thành phần loài ếch nhái ở xã Kháng Nhật,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ghi nhận 19 loài thuộc 6 họ, 2 bộ [24].
Ngô Thái Lan và cs. (2009) điều tra thành phần loài ếch nhái ở xã Trung Mĩ,
huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, đã thống kê 26 loài thuộc 4 họ, 1 bộ [25].
Lê Nguyên Ngật và cs. (2009) điều tra thành phần loài và đã thống kê được 22
loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ tại KBTTN Copia, tỉnh Sơn La [15].
Nguyễn Văn Sáng và cs. (2009) điều tra đa dạng ếch nhái bò sát tại VQG Xuân
Sơn, tỉnh Phú Thọ đã ghi nhận 29 loài ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ [35].
Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra ở khu vực rừng núi Pi Oắc, huyện Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng đã ghi nhận cho khu hệ 29 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 3 bộ [29]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Nguyễn Kim Tiến (2009) điều tra tại VQG và KBTTN tỉnh Thanh Hóa đã thống
kê được 48 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ [26].
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, hội nghị khoa học
toàn quốc lần thứ IV năm 2011, có một số báo cáo nghiên cứu về đa dạng khu hệ ếch
nhái:
Lê Vũ Khôi và cs. (2011) điều tra tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An đã thống
kê được 25 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ [20].
Hoàng Thị Nghiệp và cs. (2011) điều tra và thống kê được 24 loài ếch nhái thuộc
6 họ, 2 bộ tại vùng An Giang, Đồng Tháp [9].
Cai. Các loài này sau này được chuyển sang giống Odorrana [43].
Bain & Nguyen (2004) đã công bố danh sách khu hệ ếch nhái, bò sát của tỉnh Hà
Giang năm 2000, ở khu hệ này các tác giả đã thống kê được 36 loài ếch nhái và mô tả
hai loài mới Rana iriodes và Rana tabaca [45].
Matsui & Orlov (2004) mô tả loài Chirixalus ananjeva với mẫu thu được ở tỉnh
Hà Tĩnh [58].
Orlov (2005) khảo sát đa dạng sinh học núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum và mô tả
loài Vibrissaphora ngoclinhensis cho khu hệ này. Tuy nhiên, các nghiên cứu về quan
hệ di truyền sau đó của các tác giả Rao & Wilkinson (2008) và Zheng et al. (2008) đã
thống nhất chuyển các loài thuộc giống Vibrissaphora sang giống Leptobrachium [72].
Orlov et al. (2004) mô tả loài Philautus supercornutus ở khu hệ Thừa Thiên-Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam. Sau đó, Delorme et al. (2005) đã chuyển loài này và đưa về
giống Gracixalus với tên khoa học Gracixalus supercornutus [71].
Từ năm 2005 đến nay đã có hàng loạt loài mới được mô tả như: Philautus
truongsonensis (Orlov et al., 2005); Rana khalam (Stuart et al., 2005); R. gigatympana
(Orlov et al., 2006), Theloderma ryabovi (Orlov et al., 2006); Amolops spendissimus
và A. monutus (Orlov et al., 2007); Rhacophorus chuyangsinensis (Orlov et al., 2008);
Philautus quyeti (Nguyen et al., 2008); Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009);
Leptolalax applebyi (Rowley et al., 2009); Odorrana geminata (Bain et al., 2009);
Rhacophorus vampyrus (Rowley et al., 2010); Leptolalax croceus (Rowley et al.,
2010); Leptolalax bidupensis (Rowley et al., 2011); Theloderma palliatum và T.
nebulsum (Rowley et al., 2011); Gracixalus quangi (Rowley et al., 2011);
Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011); Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
2012); Leptolalax firthi (Rowley et al., 2012) [73, 87, 74, 75, 76, 77, 61, 47, 80, 48,
82, 81, 85, 86, 84, 83, 88, 67 ].
10
Nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của một số loài ếch cũng được thực hiện trong
thập kỷ gần đây. Hendrix et al. (2007) mô tả hình thái và phân tích trình tự DNA nòng
nọc loài ếch cây Rhacophorus annamensis Smith, 1924 (Anura: Rhacophoridae) ở
Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình [55].
Năm 2009, Gawor et al. nghiên cứu đặc điểm của nòng nọc 4 loài thuộc giống
Hylarana ở Việt Nam và Thái Lan. Dựa vào sự sai khác các đặc điểm hình thái và
phân tích di truyền phân tử, các tác giả đã mô tả và so sánh quá trình phát triển nòng
nọc 4 loài giống Hylarana ở Việt Nam và Thái Lan [52].
Hoàng Xuân Quang và cs. (2009) mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc 2 loài
trong giống Quasipaa Dubois, 1992 ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, Việt Nam [10].
Cũng trong năm 2009, Lê Thị Thu và cs. công bố kết quả nghiên cứu mô tả
hình thái nòng nọc 4 loài thuộc 3 giống Megophrys (nay là giống Xenophrys),
Leptolalax và Leptobrachium của họ Megophryidae (Anura) ở miền núi Tây Nghệ An,
tỉnh Nghệ An [18].
1.2. Một số nghiên cứu về ếch nhái ở vùng núi Yên Tử
Nguyễn Văn Sáng và cs. (1968): đã tiến hành nghiên cứu ếch nhái ở các xã
Thanh Sơn, Lục Sơn, An Lac (Tài liệu chưa được công bố).
Năm 1999: Viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu
vực này trong đó có các loài ếch nhái để làm luận chứng cho xây dựng KBTTN [2].
Hồ Thu Cúc và cs. (2005): Thành phần loài ếch nhái ở một số khu vực thuộc
vùng núi Đông Bắc Việt Nam bao gồm 82 loài thuộc 9 họ, 3 bộ. Trong đó khu vực núi
Yên Tử có 18 loài, đây là khu vực có mức độ thấp nhất trong những vùng được nghiên
cứu [16].
Boehme et al. (2005) mô tả loài Cá Cóc sần việt nam Tylototriton vietnamennsis
với mẫu thu được ở vùng núi Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang [50].
Trần Thanh Tùng và cs. (2006) đã thống kê được ở khu vực núi Yên Tử có 41
loài ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ [37].
0
2' kinh độ Đông. Phía Đông và phía Nam giáp các tỉnh Quảng
Ninh, Hải Dương, phía Tây và Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và phần còn lại của Thị trấn
Thanh Sơn, các xã Thanh Luận, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, Lục Sơn. Trụ sở
chính của KBTTN đặt tại thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động [2].
1.3.2. Địa hình
KBTTN Tây Yên Tử nằm ở sườn tây của dãy núi Yên Tử với đỉnh cao nhất là
đỉnh núi Yên Tử (1068 m so với mực nước biển). Địa thế thấp dần từ Đông Nam sang
Tây bắc. Dãy Yên Tử có độ dốc 30
0
. Địa hình chia cắt phức tạp với nhiều 0vách đá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
dựng đứng. Khu vực giáp ranh tỉnh Quảng Ninh có độ dốc bình quân 35–40
0
. Do địa
hình phức tạp đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp đồng thời chứa đựng tiềm năng đa
dạng sinh học cao, đặc trưng cho vùng Đông bắc Việt Nam [2].
1.3.3. Khí hậu
Khu vực Tây Yên Tử nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng bởi
dạng thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều. Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc
Giang (trong khoảng năm 2005-2009), nhiệt độ trung bình năm là 23
0
C (trung bình
tháng cao nhất là 28,5
0
C, trung bình tháng thấp nhất là 15,1
mang tính chất đất rừng [2].
1.4. Điều kiện kinh tế, văn hoá và xã hội
1.4.1. Dân số, dân tộc, lao động
Dân số trên địa bàn Thị trấn Thanh Sơn và 4 xã An Lạc, Thanh Luận, Tuấn Mậu
và Lục Sơn là 17446 nhân khẩu với tổng số hộ là 3778, số người trong độ tuổi lao
động là 6649, trong đó có 3524 nữ và 3125 nam. Thành phần dân tộc gồm: Cao Lan,
Hoa, Kinh, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Sán Trắng, Tày [2].
1.4.2. Tình hình sản xuất và đời sống
Từ khi KBTTN Tây Yên Tử được thành lập, một bộ phận các hộ gia đình đã
tham gia vào công tác bảo vệ rừng, trồng rừng theo các chương trình, dự án của khu
bảo tồn. Hiện nay, đời sống của người dân trong KBT và vùng đệm đã từng bước được
nâng cao do chuyển đổi tập quán canh tác như trồng một số cây công nghiệp (chè, cây
ăn quả), cây dược liệu (sả, hương bài) [2].
1.4.3. Cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải: Năm 2009, trục đường chính 289 chạy qua Thị trấn Thanh
Sơn, các xã Thanh Luận, Lục Sơn đã được nâng cấp trải nhựa tạo điều kiện thuận lợi
cho lưu thông và phát triển kinh tế. Giao thông đi lại trong KBTTN Tây Yên Tử chủ
yếu là hệ thống đường lâm nghiệp cũ, đường mòn.
Thuỷ lợi: Nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người
dân trong và quanh KBT phần lớn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên ở các suối
thuộc lưu vực Tây Yên Tử.
Y tế, giáo dục, văn hoá: Toàn bộ dân cư trên địa bàn KBT và vùng đệm đã có điện
lưới quốc gia, nên đời sống văn hóa các hộ gia đình đã có sự tiến bộ rõ rệt. Các xã đều
có trường học và trạm xá. Việc mua bán trao đổi hàng hoá tập trung ở các chợ: Nòn (Thị
trấn Thanh Sơn), Đồng Đỉnh (xã Lục Sơn), và Vân Sơn (xã Vân Sơn) [2].
1.5. Đa dạng sinh học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
chim có giá trị bảo tồn có mặt trong KBTTN như: Gà lôi trắng Lophura nycthemera,
Cú lợn lưng nâu Tyto longimembris, Cú mèo khoang cổ Otus lempiji, Yểng Gracula
religiosa, Khướu bạc má Garrulax chinensis. Các loài bò sát quan trọng như Rùa tròn
đẹp Cuora cyclornata, Rùa hộp trán vàng Cuora galbinifrons, Rùa sa nhân Cuora
mouhotii, Rùa đất s-peng-le Geoemyda spengleri, Rùa đầu to Platysternon
megacephalum, một số loài thằn lằn và rắn cũng được ghi nhận trong khu vực rừng
Yên Tử và Khe Rỗ [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
CHƢƠNG II. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm khảo sát
- Các đợt khảo sát: Cùng với các chuyên gia và đồng nghiệp, tôi đã tiến hành 3
đợt khảo sát trong từ năm 2010 đến 2012: Đợt 1: Từ 30/5/2010 đến 26/6/2010; đợt 2:
Từ 15/11/2011 đến 21/11/2011; đợt 3: Từ 29/6/2011 đến 11/7/2012
Bảng 2.1. Địa điểm, thời gian và sinh cảnh thu mẫu Ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
Địa điểm, thời gian, tọa độ, độ cao của khu vực nghiên cứu được trình bày cụ thể
ở Hình 2.1 và Phụ lục 3, Phần Phụ lục.
106
0
42.725’ Đ
Từ 07/06 -
15/06/2010
Từ 17-19/2011
- Rừng thường xanh ít
bị tác động
- Rừng thứ sinh đang
phục hồi
- Rừng trồng quanh
khu dân cư
3
KV Khe Rỗ
21
0
18.530’ B
106
0
53.624’ Đ
Từ 21 – 26/06/2012
- Rừng thường xanh ít
bị tác động
- Rừng thứ sinh đang
phục hồi
4
KV Đá Lửa
21
0
10.940’ B
Phương pháp thu mẫu: ếch nhái trưởng thành chủ yếu được thu thập bằng tay,
mẫu nòng nọc được thu bằng vợt (một số mẫu chúng tôi chỉ quan sát và chụp ảnh ghi
nhận) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Xử lý mẫu vật: Mẫu vật thu được thường đựng trong các túi nilon. Sau khi chụp
ảnh, một số mẫu thông thường được thả lại tự nhiên, hoặc giữ lại làm tiêu bản.
- Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat. Mẫu cơ dùng
để phân tích sinh học phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95%.
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, đeo nhãn ký hiệu vào cho mẫu vật: nhãn và chỉ
buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn. Nhãn được buộc
vào chân đối với Bộ Có chân và Bộ Có đuôi, với Bộ Không chân thì khâu chỉ dưới da
gần cổ.
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích hoặc
quan sát sau này. Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn
hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 8-10 tiếng. Đối với mẫu
ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu.
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định thì chuyển sang ngâm
cồn 70%.
2.2.2. Phân tích mẫu vật
+ Mẫu vật nghiên cứu
- Mẫu vật nghiên cứu: đã phân tích 110 mẫu ếch nhái.
- Mẫu vật được lưu trữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
+Đo đếm Các chỉ tiêu hình thái
- Tiến hành đo các chỉ số hình thái của mẫu vật: Các chỉ tiêu về kích thước được
đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm.
7.
IOD
Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng hẹp nhất giữa 2 ổ mắt
8.
AOD
Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
9.
POD
Khoảng cách góc sau giữa hai ổ mắt
10.
ED
Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang
11.
TD
Đường kính lớn nhất của màng nhĩ
12.
SL
Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
13.
TED
Khoảng cách màng nhĩ-mắt: đo từ bờ trước màng nhĩ đến góc sau của
mắt
14.
IND
Khoảng cách gian mũi: khoảng cách giữa hai lỗ mũi.
15.
END
Khoảng cách mắt đến mũi: khoảng cách từ góc trước mắt đến lỗ mũi.
Chi trước
16.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
26.
FL
Chiều dài đùi
27.
TL
Chiều dài ống chân
28.
FOT
Chiều dài bàn chân: đo từ mép ngoài của ngón IV đến gốc của xương
cổ chân.
29.
T1L
Chiều dài ngón I
30.
T2L
Chiều dài ngón II
31.
T3L
Chiều dài ngón III
32.
T4L
Chiều dài ngón IV (Ngón dài nhất)
33.
T5L
Chiều dài ngón V
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
Qua phân tích và định loại mẫu vật, chúng tôi ghi nhận có 35 loài ếch nhái ở
KBTTN Tây Yên Tử. Mô tả của từng loài được trình bày dưới đây theo hệ thống phân
loại của Nguyen et al. (2009) và tham khảo Frost (2012).
Họ Cóc Bufonidae
1. Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể đực trưởng thành TYT 2012.37 (SVL 64,38 mm) thu
vào tháng 7/2012.
Đặc điểm nhận dạng: Mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm rõ,
vùng má xiên; vùng giữa 2 ổ mắt lõm; khoảng cách gian ổ mắt bằng khoảng 1,5 lần
chiều rộng mí mắt trên (IOD 7,69 mm; UEW 5,01 mm); gờ mõm và gờ sọ rõ; gờ sau ổ
mắt và gờ ổ mắt-màng nhĩ rõ; tuyến mang tai rất phát triển; mắt lớn; lỗ mũi tròn, nằm
gần mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng khoảng 2/3 lần
đường kính mắt (TD 5,12 mm, ED 7,06 mm); không có răng lá mía.
Chi khỏe, các ngón tay tự do, ngón tay I dài hơn ngón II; ngón chân khoảng 1/3
có màng; củ bàn trong dài hơn củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm tới ổ
mắt.
Trên thân và chi có các mụn to nhỏ không đều, các mụn ở giữa lưng thường lớn
hơn và bé dần sang hai bên, đầu các mụn thường đen. Mặt trên thân màu vàng sẫm,
đôi khi xám nhạt; bụng trắng bẩn với các vệt đen; mút các ngón tay, ngón chân màu
đen, các gờ sọ màu xám đến đen (Định loại theo Bourret, 1942; Inger et al., 1999;
Ziegler, 2002).
Phân bố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
KBTTN Tây Yên Tử: Gặp ở hầu hết các sinh cảnh.
Đồng Nai.
Thế Giới: Trung Quốc, Lào, Căm-pu-chia.
Họ cóc Bùn Megophryidae
3. Cóc mày sa pa Leptobrachium chapaense (Bourret, 1937)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể cái trưởng thành VH29 (SVL 76,55 mm) thu bởi
Nguyễn Quảng Trường vào tháng 5/2009.
Đặc điểm nhận dạng: Đầu rộng hơn dài; mí mắt trên không có riềm da; mõm tròn
không nhô về phía trước so với hàm dưới; con ngươi dọc, phần trên mống mắt màu
trắng; vùng má lõm; màng nhĩ rõ (TD 4,69 mm); lỗ mũi ở phía bên, gần mút mõm hơn
so với mắt; khoảng cách hai lỗ mũi xấp xỉ bằng chiều rộng mí mắt trên; khoảng cách
gian ổ mắt lớn hơn khoảng cách gian mũi; gờ da trên màng nhĩ kéo dài từ sau mắt đến
phía trên của chi trước; không có răng lá mía, lưỡi xẻ đôi ở phía sau.
Chi trung bình, ngón tay I bằng ngón tay II, hai củ bàn tay nổi rõ; ngón chân 1/4
có màng; củ bàn trong hình bầu dục, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp
chày-cổ chạm đến sau ổ mắt, khớp cổ-bàn chạm gần tới mõm.
Đầu và thân màu nâu sẫm, vùng má nhạt hơn; phía bên thân có các vết sẫm đen
xen lẫn với các đốm trắng nhỏ; hai bên sườn, bụng, mặt dưới và phía sau chân nổi hạt
rõ; cằm và họng màu trắng đục, có nhiều hạt nhỏ; mặt dưới bàn tay và bàn chân màu
nâu, có các chấm và vân trắng; chi sau có vệt ngang sẫm màu, mảnh (Định loại theo
Athrop et al., (1998); Bourret, 1942; Ziegler, 2002).
Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: mẫu vật thu được trên mặt đất trong khu rừng tre gần trạm
Vũng Tròn, Khe Rỗ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
Việt Nam: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế.
Quảng Ninh, Hải Dương, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-
Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai.
Thế giới: Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Ma-lai-xia.
5. Cóc núi miệng nhỏ Ophryophryne microstoma (Boulenger, 1903)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể đực trưởng thành TYT 2010.34 (SVL 36,73 mm) thu
vào tháng 6/2010, một cá thể đực IEBR 3627 (SVL 34,36 mm) thu vào tháng 4/2008,
hai cá thể đực VH20 (SVL 34,15 mm) và VH21 (SVL 38,49 mm) thu bởi Nguyễn
Quảng Trường vào tháng 5/2009; một cá thể cái trưởng thành VH41 (SVL 46,36 mm)
thu vào tháng 10/2009, ở độ cao 400-600 m so với mực nước biển.
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 11,03-11,16 mm, HW 10,07-10,81
mm); chiều dài mõm ngắn hơn so với đường kính mắt (SL 3,06-3,61 mm, ED 3,52-
4,43 mm), mõm tù ở phía trước; vùng má lõm; khoảng cách gian mắt rộng gần bằng
mí mắt trên (IOD 4,7-4,9 mm, UEW 4,61-4,75 mm); gai da trên mí mắt rõ, mắt nhỏ,
đường kính mắt lớn hơn màng nhĩ (TD 2,49-2,81 mm); màng nhĩ rõ; con đực có túi
kêu lớn.
Chi mảnh, các ngón tay và ngón chân hơi phình ở mút; không có củ bàn dưới
ngón; củ bàn tay và bàn chân không rõ; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm tới vai
hoặc màng nhĩ. Da lưng với những mụn nhỏ; các hạt xếp thành gờ da đối xứng, có hai
gờ hình chữ V trên đầu và phần trước của lưng, một hình chữ X ở phần sau của lưng.
Thân màu hơi xám hoặc nâu đỏ; có các đốm đen ở hai bên thân và các chi; có
mụn trắng ở mỗi bên của ngực (Định loại theo Bourret, 1942 và Ohler, 2003).
Phân bố