Nghiên cứu tính đa dạng sinh học khu hệ thực vật của khu bảo tồn thiên nhiên nam nung, tỉnh đăk nông - Pdf 49

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh
giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày.....tháng....năm......
Người cam đoan

Vắn Minh Đức


ii

LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian tìm hiểu với mong muốn thực hiện nghiên cứu về thực vật tại
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung và với sự chỉ bảo tận tình của thầy Nguyễn
Trọng Bình, đến nay luận văn thạc sĩ của tôi đã hoàn thành.
Tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Trọng Bình, ngƣời
hƣớng dẫn trực tiếp, là ngƣời thầy đã dành nhiều thời gian, công sức hƣớng dẫn, chỉ
bảo và bổ sung các kiến thức khoa học để tôi hoàn thành luận văn này. Cảm ơn ban
giám hiệu trƣờng Đại học lâm nghiệp, phòng đào tạo cùng các thầy cô trong trƣờng
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi suốt quá trình tôi học tại trƣờng.
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Khu BTTN Nam Nung, Các Trạm kiểm
lâm trong khu bảo tồn và các cấp chính quyền địa phƣơng đã tạo điều kiện thuận
lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực, tuy nhiên vì điều kiện thời gian nghiên cứu và
trình độ chuyên môn của bản thân còn có những hạn chế nhất định, nên đề tài này

2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................22
2.3. Đối tƣợng nghiên cứu.........................................................................................22
2.4. Nội dung .............................................................................................................22
2.5. Phƣơng pháp.......................................................................................................22
2.5.1. Phƣơng pháp điều tra chuyên ngành ...............................................................22
2.5.2. Phƣơng pháp tính toán, xử l số liệu ..............................................................27


iv

Chƣơng 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ H I KHU VỰC NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................29
3.1 Diện tích và vị trí................................................................................................29
3.2 Địa hình, địa thế .................................................................................................29
3.3 Địa chất, đất đai..................................................................................................30
3.4 Khí hậu – Thuỷ văn ...........................................................................................32
3.5 Tài nguyên sinh vật rừng đã ghi nhận. ...............................................................34
3.6 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội .................................................................36
Chƣơng 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................37
4.1. Đặc điểm hệ sinh thái rừng Khu BTTN Nam Nung ..........................................37
4.1.1. Đặc điểm rừng Khu BTNN Nam Nung ..........................................................37
4.1.2. Hệ sinh thái Khu BTTN Nam Nung ...............................................................40
4.2.Tính đa dạng khu hệ thực vật của Khu BTTN Nam Nung .................................41
4.2.1.Tính đa dạng, đặc điểm cấu trúc về thảm thực vật rừng ..................................41
4.2.2. Thành phần và Số lƣợng các taxon thực vật. ..................................................65
4.2.3. Đánh giá sự đa dạng của các taxon thực vật. ..................................................68
4.3. Thực vật quý hiếm và phân bố của chúng trong Khu BTTN Nam Nung ........71
4.3.2 Phân bố các loài thực vật quý hiếm ................................................................73
4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng của Khu BTTN ..................74
4.4.1 Cơ sở của công tác bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng ...............................74

ĐTQHR

Điều tra quy hoạch rừng

FFI

The Fauna & Flora International

IUCN

The International Union for Conservation of Nature

Khu BTTNCQ

Khu bảo tồn cảnh quan

KHU BTTNL

Khu bảo tồn loài

KHU BTTNLSC

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh

Khu BTTN

Khu bảo tồn thiên nhiên

KT-XH


UBND

Ủy ban nhân dân

UNEP

The United Nations Environment Programme

SĐVN

Sách Đỏ Việt Nam

SNN&PTNT

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

VQG

Vƣờn quốc gia

WWF

World Wildlife Fund


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
TT


Kích thƣớc trung bình của cây tái sinh trong các kiểu rừng

62

4.4

Tổ thành rừng ở một số OTC theo đai cao

62

4.5

Tần suất xuất hiện của 10 loài cây gỗ ƣu thế rừng nhiệt đới

63

4.6

Tần suất xuất hiện của 10 loài cây gỗ ƣu thế rừng á nhiệt đới

64

4.7

Thành phần Thực vật rừng Khu BTTNTN Nam Nung

65

4.8


4.15 Mức độ nguy cấp của các loài cây qu hiếm

72

4.16 Danh sách các loài có tên trong nghị định 32

72


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học (ĐDSH), các vấn đề trong biến đổi khí hậu (BĐKH) và môi
trƣờng có quan hệ chặt chẽ với chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Trƣớc nguy cơ
BĐKH và để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời thì việc bảo vệ
ĐDSH và duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái là vấn đề quan trọng cần đƣợc quan
tâm.
Hiện nay ĐDSH và bảo tồn ĐDSH đã trở thành chiến lƣợc trên toàn thế giới và
đang đƣợc rất nhiều nƣớc quan tâm. Các tổ chức quốc tế đƣợc thành lập để hƣớng
dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên toàn phạm
vi thế giới. Một số tổ chức thế giới về ĐDSH nhƣ: Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên
nhiên (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế bảo
vệ thiên nhiên (WWF),…
ĐDSH thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái. Võ Hành
(2009) “Theo số liệu của Trung tâm giám sát Bảo tồn thế giới (2000) thì trên thế
giới đã thống kê được khoảng 1.700.000 loài sinh vật, trong đó TVBCCM có
khoảng 250.000 loài (số loài ước tính khoảng 300.000 loài)” [19].
Việt Nam là một trong các nƣớc đƣợc biết đến bởi sự ĐDSH cao với nhiều
kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô... tạo nên môi trƣờng sống cho nhiều loài
chim và thú hoang dã trên thế giới. Việt Nam đƣợc xếp hạng thứ 16 trên thế giới về

Nguyễn Nghĩa Thìn (2000); “Việt Nam được công nhận là một trong những
nước thuộc vùng Đông Nam Á phong phú về loài, giàu về ĐDSH và là một trong
những điểm nóng về ĐDSH với khoảng 10% trong tổng số các loài sinh vật được
biết hiện nay trên thế giới” [51]. Dựa vào Công ƣớc ĐDSH, tại một số địa phƣơng,
các Khu BTTN, VQG đã áp dụng công ƣớc vào hoạt động bảo tồn của mình. Tuy
nhiên, khi áp dụng vào thực tế, sự suy giảm ĐDSH vẫn tiếp diễn qua thời gian, Khu
BTTN Nam Nung cũng chịu tác động làm ảnh hƣởng đến ĐDSH và hệ sinh thái.
Là khu vực có tính đa dạng và giá trị bảo tồn cấp Quốc gia và Quốc tế,
nhƣng cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu, điều tra cơ bản tài nguyên tại
khu vực. Vì vậy, điều tra cơ bản tài nguyên thực vật rừng nhằm nắm rõ số, chất
lƣợng và phân bố các loài làm cơ sở xây dựng các giải pháp quản lí có hiệu quả tài
nguyên
Khu BTTN Nam Nung nằm ở trung tâm tỉnh Đăk Nông, trên địa bàn của 3
huyện với các xã Quảng Sơn (huyện Đăk Nông), xã Đăk Hòa (huyện Đăk Song) và
các xã Đức Xuyên, Nam Nung (huyện Krông Nô); Khu vực nằm trong khối núi


3

dâng lên từ cao nguyên, có đỉnh cao nhất là núi Nam Jer Bri 1.578 m. Độ cao trung
bình phần cao nguyên còn lại khoảng 800 m. Xung quanh khu bảo tồn là rừng tự
nhiên sản xuất của các công ty lâm nghiệp và các doanh nghiệp của tỉnh Đắk Nông;
là nơi phân bố của nhiều loài động thực vật qu hiếm. Về hệ sinh thái rừng chủ yếu
là kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới và rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm
nhiệt đới; về thực vật có các loài điển hình nhƣ Cẩm lai, Dáng hƣơng, Kim giao…
Về động vật có Bò tót, Hổ, Báo gấm, Vƣợn đen má vàng, Voọc chà vá, Khỉ đuôi
lợn, Khỉ mặt đỏ…
Khu BTTN Nam Nung còn có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu
nguồn, chống xói mòn, điều tiết nguồn nƣớc cho dòng sông Krông Nô, các hồ đập
thủy lợi, thủy điện trên dòng sông này.

N ng”.

c


4

Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Quan điểm về đa

ng sin

c

Không chỉ trong những năm gần đây, mà việc nghiên cứu và bảo vệ ĐDSH
cũng nhƣ nhận thức đƣợc tính ĐDSH đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và
đƣợc cho là một vấn đề quan trọng. Từ lâu, loài ngƣời đã biết khai thác các tài
nguyên sinh vật trong tự nhiên để phục vụ các nhu cầu cuộc sống và sự phát triển
của mình. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với nhu cầu về
kiến thức mà con ngƣời ngày càng tìm hiểu về thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, càng
hiểu biết về thế giới tự nhiên con ngƣời lại càng khai thác tận diệt tài nguyên, vì thế,
nguồn ĐDSH ngày càng suy giảm.
Theo IUCN (1994) đã đƣa ra định nghĩa ĐDSH nhƣ sau: Đa dạng sinh học
là thuật ngữ chỉ sự phong phú của sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật,
động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái mà chúng là
thành viên. Từ đó, đa dạng sinh học được định nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật
từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thuỷ
vực khác và các phức hệ sinh thái mà chúng cấu thành. Đa dạng sinh học bao gồm

dạng hệ sinh thái. Tuy nhiên, định nghĩa trên còn dài dòng, không rõ ràng, dễ nhầm
lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng; còn một điểm không rõ nữa là định nghĩa
trên chỉ nói đến hai nhân tố là động vật và thực vật trong giới sinh vật mà bỏ quên
quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác nhƣ nấm và vi sinh vật.
Định nghĩa về ĐDSH đƣợc sử dụng thông thƣờng nhất, ngắn gọn và đầy đủ
nhất là định nghĩa về ĐDSH trong công ƣớc về bảo tồn ĐDSH đƣợc thông qua tại
Hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (1992): Đa dạng sinh học là sự
biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền,
trên biển và các hệ sinh thái nước khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa
các loài và các hệ sinh thái”. Định nghĩa này tƣơng đối đầy đủ và rõ ràng.
1.1.2. Quan điểm về t

mt

cv t

Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa
học trong và ngoài nƣớc đƣa ra các định nghĩa khác nhau. Theo J.Schmithusen
(1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác
nhau của nó. Thái Văn Trừng (1978) [47] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ
thực vật phủ trên mặt đất nhƣ một tấm thảm xanh. Trần Đình L (1995) [38] cho


6

rằng: thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp
phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất. Thảm thực vật rừng hay lớp phủ cây
cỏ trên mặt trái đất, gồm các quần thể thực vật thân gỗ, không những cung cấp lâm
sản phục vụ cho đời sống con người, mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh
thái, hạn chế tác hại của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão lốc,....

nhận ra tính phong phú, đa dạng giá trị sử dụng và

nghĩa với cuộc sống con ngƣời.

Việc nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới đã có từ rất sớm bằng những công
trình phân loại về thực vật. Ngƣời ta đã tìm thấy các tài liệu mô tả về thực vật xuất
hiện ở Ai Cập khoảng 3600 năm trƣớc Công nguyên và ở Trung Quốc khoảng 5000
năm trƣớc Công nguyên. Các danh y đời Hán (đầu công nguyên) đã soạn ra bộ
“Thần nông bản thảo” sách gồm 365 vị thuốc bổ, thuốc chữa bệnh độc hoặc không
độc. L Thời Trân (1595) trong cuốn Bản thảo cƣơng mục” đã đề cập đến hơn
1000 vị thuốc thảo mộc.
Trong cuốn Lịch sử niên đại cây cỏ ấn hành năm 1878, Charles Pickering đã
chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trƣớc công nguyên ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông


7

đã sử dụng nhiều loài cây (sung, vả, cau dừa…) [59] để làm lƣơng thực và chữa
bệnh. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B. (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng
5.000 năm trƣớc CN cây rừng làm thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi [17]. Cho đến
nay nhiều tài liệu qu ghi chép kinh nghiệm sử dụng của ngƣời xƣa vẫn còn lƣu
truyền tại Trung Quốc-quốc gia có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ
để trị bệnh. Trong tập Thần nông bản thảo chỉ rõ khoảng 5.000 năm trƣớc đây
ngƣời Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa
bệnh. Vào đời nhà Hán (năm 168 trƣớc CN) trong cuốn sách Thủ hậu cấp phương,
tác giả đã thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loại cây cỏ. Tới giữa thế kỷ XVI,
L Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập Bản thảo cương mục” đƣợc Nxb Y
học trích dẫn (1963). Các tài liệu cổ xƣa về sử dụng cây thuốc cũng đƣợc ngƣời Ai
Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3.600 năm trƣớc với 800 cây thuốc và trên
700 bài thuốc. Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus

chỗ rất ít họ chiếm tỷ lệ 10% tổng số loài của hệ thực vật đó và tổng tỷ lệ phần trăm
của 10 họ có số loài lớn nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài (dẫn theo Viện Điều tra
quy hoạch rừng, 2006) số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm
thƣờng là 1500 – 2000 loài [55] (Hoàng Thị Tuyết 2010).
Các nhà thực vật ngƣời Pháp đƣợc coi là những ngƣời đầu tiên của châu Âu
nghiên cứu về thực vật Đông Nam

, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn

tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng trình nghiên
cứu về thực vật Đông Dƣơng, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông
Nam

đã đƣợc kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách

“Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” [66].
Brummitt (1992), chuyên gia của phòng bảo tàng thực vật Hoàng gia Anh,
trong cuốn Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc
cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Khuyết lá thông
(Psilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dƣơng xỉ
(Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó
ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi, 454 họ và đƣợc chia ra 2 lớp là: lớp
Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm
(Monocotyledoneae) bao gồm 2.762 chi, 97 họ [61].
Nguyễn Nghĩa Thìn (2000); “Đến nay đã thống kê được khoảng 90.000 loài
có mặt ở vùng nhiệt đới, 50.000 loài ở vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu – Á. Vùng nhiệt
đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất, chiếm 1/3 tổng số loài trên toàn thế giới, trong
đó, Baxin có thể có tới 55.000 loài, Colombia có khoảng 35.000 loài và Venezuela
có 15.000 – 25.000 loài.Kế tiếp là vùng Đông Nam Á, trong đó Niu Ghinea có


Phân loại theo cấu trúc ngoại mạo: Theo trƣờng phái này quần hợp là đơn vị
cơ bản của lớp phủ thực vật. Dấu hiệu đƣợc dùng làm cơ sở phân loại là hình thái
ngoại mạo của thảm thực vật - đó là dạng sống ƣu thế cùng điều kiện nơi sống. Tiêu
biểu cho trƣờng phái này có Rubel (1930), Mausel (1954), Ellenberg, Mueller và
Dombois (1967). Các tác giả này đã chia ra 7 lớp quần hệ, các lớp lại chia thành lớp
phụ, nhóm quần hệ, quần hệ. Beard J.S. (1955) (Dẫn theo Thái Văn Trừng (1978)
[47] đã đƣa ra một hệ thống 3 cấp: thành phần loài cây là quần hợp, hình thái và cấu
trúc là quần hệ và môi trƣờng sinh trƣởng là loạt quần hệ, hệ thống phân loại này


10

đƣợc xem nhƣ là một trong những hệ thống phân loại tốt nhất ở Châu Mỹ nhiệt đới
thời điểm đó. UNESCO (1973) đƣa ra một khung phân loại chung cho thảm thực
vật thế giới mà có thể thể hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hơn. Tiêu chuẩn cơ
bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc, ngoại mạo. Bậc phân loại cao nhất của
hệ thống này là lớp quần hệ, bậc thấp nhất ở dƣới phân quần hệ.
Phân loại thảm thực vật theo động thái và nguồn gốc phát sinh: Theo trƣờng
phái này, dựa vào các đặc điểm khác nhau của thảm thực vật ở các trạng thái. Đó là
quần xã cao đỉnh, quần xã dẫn xuất, hay là quần xã ở các giai đoạn của quá trình
hình thành quần xã cao đỉnh, các quần xã có sự giống nhau về loài ƣu thế, về trạng
thái của các loài ƣu thế trong cấu trúc của quần xã. Đại diện cho trƣờng phái này là
Ramenski (1938), Sotrava (1972), Clemets (1916), Whittaker (1953). Trƣờng phái
này khẳng định tính liên tục của thảm thực vật. Theo Whittaker lớp phủ thực vật
phức tạp không phải bởi các quần xã mà bởi các quần thể, nghĩa là tập hợp các cá
thể của loài. Hệ thống phân loại thuộc nguồn gốc đƣợc thành lập trên cơ sở xác định
nguồn gốc hệ thực vật - đó là hệ thống phân loại quan trọng nhất của các quần xã
thực vật.
Phân loại thảm thực vật theo thành phần hệ thực vật: Đại diện là Braun Blanquet (1928) và các nhà nghiên cứu của nƣớc Đức, Ba Lan, Rumani,… Nguyên
tắc cơ bản của trƣờng phái này là dựa vào loài đặc trƣng để phân chia quần hợp thực

Với hệ thực vật phong phú về thành phần loài, lịch sử nghiên cứu và sử dụng
cây cỏ ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, có thể chia ra các giai đoạn chính sau:
Các tài liệu thu thập đƣợc cho thấy ngay từ thời Hùng Vƣơng dựng nƣớc
(năm 2900 trƣớc CN) các cƣ dân Lạc Việt đã có kinh nghiệm sử dụng nhiều loài
cây để làm nhà, ăn uống, chữa bệnh. Theo tích cổ lƣu lại, tổ tiên ta đã biết dùng gia
vị kích thích ngon miệng, dùng gừng, riềng làm gia vị, ấm cơ thể; uống nƣớc vối,
nƣớc chè vằng giúp sản phụ thông máu, ăn ngon cơm”. Theo Long Úy, đầu thế kỷ
II trƣớc CN, có hàng trăm vị thuốc đã đƣợc phát hiện và sử dụng ở nƣớc ta nhƣ quả
giun (Sử quân tử); sắn dây (Cát căn)...
Tới thời nhà Trần (1225-1399) cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và có
nhiều kinh nghiệm chữa bệnh qu báu. Cuốn sách thuốc đầu tiên của nƣớc ta ra đời
vào năm 1429 do Chu Tiên biên soạn có nhan đề Bản thảo cương mục toàn yếu.
Cùng thời đó cũng xuất hiện danh y nổi tiếng là Phạm Công Bân (XIII)
Vào thế kỷ XVI, danh y Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh) là ngƣời có công phát
triển nền Y dƣợc học Việt Nam tới đỉnh cao. Cuốn sách thuốc đầu tiên của ông
đƣợc nhiều ngƣời biết tới: Nam dược thần hiệu với 11 quyển, nói tới công dụng của
496 vị thuốc Nam (241 vị thuốc trong đó có nguồn gốc thực vật). Tác phẩm tiếp
theo cũng gây đƣợc tiếng vang đó là: Hồng nghĩa giác tư y thư với hai bài Hán
Nôm, trong đó tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng cách trị 37 chứng sốt
khác nhau (thƣơng hàn tam thập thất trùng pháp) [35] (Đỗ Tất Lợi 1995). Tuệ Tĩnh
đƣợc coi là bậc danh y kỳ tài trong lịch sử y học nƣớc ta, là vị thánh thuốc Nam nổi
tiếng với tuyên ngôn Nam dƣợc trị nam nhân”. Tuệ Tĩnh đƣợc tôn vinh là bậc đại
thiện, đại Nho, đại y, đại dƣợc. Tiếc rằng ông bị nhà Minh mời sang Trung Quốc và
giữ lại không cho về nƣớc. Các bộ sách qu do ông viết đã bị quân Minh thu hết


12

nay chỉ còn lại: Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh y thư, Thập tam phương gia phủ và
Thương hàn thập thất trùng phát [54] .

13

plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê
1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nƣớc Đông Dƣơng.
Ngoài ra, điều tra tài nguyên cây thuốc còn đƣợc nhiều nhà khoa học tham
gia và có nhiều công trình công bố có giá trị. Trong số này đáng lƣu

là các ấn

phẩm Medical plants in Vietnam, Laos and Cambodia của Nguyễn Văn Dƣơng,
1900 loài cây có ích của Trần Đình L và cộng sự [38], Thuốc quý quanh ta của
Vƣơng Thừa Ân, Các cây có hoạt tính sinh học của Lã Đình Mỡi và cộng sự. Võ
Văn Chi (1997), “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [13].
Việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nƣớc ta mới chỉ bắt
đầu vào thời Pháp thuộc. Trƣớc hết phải kể đến các công trình: Thực vật chí Nam
bộ” của Loureiro (1790) [65]; Thực vật chí rừng Nam bộ” của các tác giả Pierre L
(1879-1907). Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng nhƣ giá trị là công trình
nghiên cứu hệ thực vật Đông Dƣơng của các tác giả Pháp Lecomte et al (19071952), kết quả của nghiên cứu này là bộ Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng”,
trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dƣơng có hơn 7.000 loài
[64]. Đây là bộ sách có

nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay, bộ sách này

vẫn còn có giá trị với những ngƣời nghiên cứu thực vật Đông Dƣơng nói chung và
hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H. Lê Khả Kế
(1969-1976) bộ sách gồm 6 tập “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” [26].
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập
Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ [8].
Theo hƣớng nghiên cứu đa dạng phân loại ở các vùng của Việt Nam có công
trình của Phan Kế Lộc (1970) Bƣớc đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc

đủ về các loài thực vật, đóng góp rất nhiều cho khoa học phân loại thực vật Việt Nam.
Năm 1999, trong cuốn Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”,
Lê Trần Chấn đã thống kê đƣợc ở Việt Nam có 10.192 loài, 2.298 chi và 285 họ
thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Khuyết lá thông
(Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đá (Lycopodiophyta) có 54 loài, 4
chi, 2 họ; ngành Thuỷ phỉ (Isoetophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Cỏ tháp bút
(Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dƣơng xỉ (Polypodiophyta) có 632
loài, 138 chi, 28 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ;
ngành Hạt kín có 9.450 loài, 2.131 chi, 244 họ [12].
Trong những năm gần đây, bộ sách thực vật chí Việt Nam tính đến nay có 11
tập. Mỗi tập sách chuyên khảo nghiên cứu về một họ cây tại Việt Nam. Với sự tham
gia của đông đảo các nhà khoa học trong nƣớc đứng đầu trong lĩnh vực nhƣ:
Nguyễn Tiến Bân, Dƣơng Đức Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn
Thị Đỏ. Mỗi tập đƣợc trình bày công phu trong khoảng 300-600 trang sách, có thể
nói đây là một bách khoa toàn thƣ trong ngành thực vật học Việt Nam. 11 tập gồm:
Tập 1: Họ Na - Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân. Tập 2: Họ Bạc hà - Lamiaceae
của Vũ Xuân Phƣơng (2000). Tập 3: Họ Cói - Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi


15

(2000). Tập 4: Họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002). Tập 5:
Họ Trúc đào - Apocynaceae của Trần Đình L (2007). Tập 6: Họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae của Vũ Xuân Phƣơng (2007). Tập 7: Họ Cúc Asteraceae - của Lê Kim
Biên (2007). Tập 8: Bộ Hoa loa kèn - Liliales của Nguyễn Thị Đỏ (2007). Tập 9:
Họ Lan – Orchidaceae của Dƣơng Đức Tuyến (2007). Tập 10: Ngành Rong lục Chlorophyta (Các taxon vùng biển) của Nguyễn Văn Tiến (2007). Tập 11: Bộ Rong
mơ -Fucales của Nguyễn Hữu Đại + Họ Rau răm - Polygonaceae của Nguyễn Thị
Đỏ (2007). Đây là những tài liệu rất qu phục vụ công tác tra cứu, giám định loài,
tuy nhiên số lƣợng các họ đƣợc đề cập tới hiện tại còn quá ít.
Tác giả Trần Hợp (2000), trong cuốn Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” đã mô
tả đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ

Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học” ở Việt Nam của Nguyễn Nghĩa

Thìn... là những tài liệu đƣợc đánh giá cao trong giới nghiên cứu cây cỏ trong và
ngoài nƣớc. Trong các tác phẩm này, các tác giả đã giới thiệu 4200 loài cây của
Việt Nam. Có thể coi đây là tài liệu thống kê khá đầy đủ về các taxons cây có giá trị
của nƣớc ta đƣợc công bố.
Bên cạnh công trình nghiên cứu về thực vật theo hƣớng kiểm kê thành phần
loài trên phạm vi rộng, mang tính chất chung cho cả nƣớc hay cho từng miền, còn
có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật trên phạm vi nhỏ nhƣ Danh lục
thực vật Cúc Phƣơng” của tập thể cán bộ Phân viện nghiên cứu Lâm nghiệp - Tổng
cục Lâm nghiệp (1971). Trong công trình này, tập thể tác giả đã công bố danh sách
1674 loài thực vật bậc cao có mạch trên diện tích khoảng 250 km2 , nằm trọn vẹn
trong cảnh quan địa l

Đồi Kaster xâm thực Cúc Phƣơng”. Nguyễn Tiến Bân,

Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc (1984) đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật Tây
Nguyên với 3.201 loài kiểm kê đƣợc. Trong Danh lục thực vật Phú Quốc” của
Phạm Hoàng Hộ (1985) đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích
592 km2; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1990)
nghiên cứu về hệ thực vật Lâm Sơn, Lƣơng Sơn, Hoà Bình trên diện tích chỉ có 15
km2 đã phát hiện đƣợc 1261 loài thực vật bậc cao có mạch với 698 chi và 178 họ
thực vật; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài
thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sapa,
Phanxipăng. Tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (1992) đã công bố danh lục thực vật Cúc
Phƣơng với 1944 loài, thuộc 228 họ trong 7 ngành thực vật, sau đó đƣợc bổ sung,
chỉnh l và tái bản trong công trình Tính đa dạng hệ thực vật Cúc Phƣơng do các
tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ thực hiện với 1944
loài, 912 chi, 219 họ, 86 bộ trên diện tích 220 km2. Ngoài ra, còn rất nhiều công bố
về thành phần loài thực vật của các Vƣờn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,

1:2.000.000. Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ (Rừng rậm; Rừng thƣa; Trảng cây
bụi; Trảng cây bụi lùn; Trảng cỏ), mỗi một phân lớp quần hệ lại phân thành các
nhóm quần hệ và thấp nhất là phân quần hệ. Bảng phân loại này đã đƣợc một số tác
giả áp dụng để tiến hành phân loại thảm thực vật trong nghiên cứu của mình.
Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phƣơng và
UNESCO đã khẳng định tính đa dạng của hệ sinh thái rừng Việt Nam (Bộ Nông
nghiệp & PTNT, 2006).
Ngoài ra trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về thảm thực vật ở một
số địa phƣơng ở Việt Nam nhƣ: công trình nghiên cứu thảm thực vật Nam Trung bộ
của Schmid (1974). Đặng Ngọc Quốc Hƣng (2009) [25] nghiên cứu sự thay đổi lớp
phủ thảm thực vật rừng ở khu vực diện tích mới mở rộng của Vƣờn quốc gia Bạch
Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vũ Anh Tài và cộng sự (2007) [45] đánh giá sự đa dạng
của thảm thực vật theo tiêu chuẩn và thang phân loại của Thái Văn Trừng (1970)
đƣợc Nguyễn Nghĩa Thìn chỉnh sửa (1997) để khái quát các kiểu thảm đặc trƣng
cho đai cao của VQG.
Ngoài ra, việc phân loại thảm thực vật rừng theo UNESCO, 1973, đã có một
số tác giả tiến hành nhƣ: Trần Văn Thụy và cộng sự (2006) đã phân chia thảm thực
vật tự nhiên ở lƣu vực hồ chứa nƣớc Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam thảm thực vật tự
nhiên gồm 2 quần hệ và thảm thực vật nhân tác. Trần Văn Hoàn và cộng sự (2009)
đã thống kê thảm thực vật khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang có đại diện của 4
lớp quần hệ. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2011) đã thống kê đƣợc thảm thực vật
ở khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam thuộc kiểu quần hệ rừng rậm thƣờng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status