Đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng hóa- Quảng trị - Pdf 13

ĐẶC ĐIỂM ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN BẮC HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Khổng Trung
1
, Phạm Bình Quyền
2
1
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Trị,
2
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa được thành lập theo Quyết định số
479/QĐ-UBND tỉnh Quảng Trị phê duyệt Dự án quy hoạch, đầu tư bảo vệ và xây
dựng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa.
Khu BTTN Bắc Hướng Hóa có diện tích khoảng 25.000 ha rừng và đất rừng, thuộc địa
bàn của 5 xã: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh,
thuộc huyện Hướng Hóa. Nhiệm vụ của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa là bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, bao gồm quần thể các động, thực vật quý
hiếm như: Gà lôi lam mào trắng, Voọc Hà Tĩnh, Sao la, Mang lớn, Thỏ vằn và Đinh
tùng, Lan hài, Trầm hương , trong đó, có nhiều loài động, thực vật đang bị đe dọa
diệt chủng. Ngoài ra, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa còn thực hiện nhiệm vụ duy trì giá
trị dịch vụ sinh thái và chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn cho các con sông Bến Hải,
Rào Quán, sông Hiếu và sông Sê Păng Hiêng (CHDCND Lào), giữ nguồn nước cho
lưu vực hồ Rào Quán của công trình thủy lợi, thủy điện Quảng Trị.
2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ-XÃ HỘI
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1. Địa hình
Địa hình Khu BTTN Bắc Hương Hóa là vùng núi thấp ở phía Nam của dãy Trường
Sơn Bắc. Là khu vực duy nhất của Việt Nam có cả Đông và Tây Trường Sơn với dãy
núi cao trên 1.000 m chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dọc ranh giới hai tỉnh

C ở Khe Sanh vào tháng 12 và
tháng 1. Ngược lại, mùa hè do có sự hoạt động của gió Tây nên rất nóng và khô. Có
tới 3-4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25
o
C,
tháng nóng nhất thường là tháng 4 hoặc tháng 5 có nhiệt độ trung bình lên tới 29
o
C.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 39-40
o
C. Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rất
thấp, dưới 30%.
Khu BTTN Bắc Hướng Hóa có lượng mưa rất lớn, trung bình năm đạt tới 2.400-2.800
mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa, hai tháng có lượng mưa lớn
nhất là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưa hàng năm. Mưa ít bắt đầu từ
tháng 5, kết thúc vào tháng 11. Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85-90%, trong đó,
trong mùa mưa độ ẩm lên tới 91%. Mặc dù vậy, những giá trị cực đoan thấp vẫn đo
được trong thời kỳ khô nóng kéo dài.
Trong Bảng 2.1 là số liệu khí tượng cơ bản lấy từ ba trạm khí tượng, trong đó, trạm
Khe Sanh và Tuyên Hóa là những trạm nằm ở vùng giáp ranh và có điều kiện tự nhiên
gần với Khu Bảo tồn.
Bảng 2.1. Số liệu khí tượng trung bình nhiều năm một số trạm có liên quan đến
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (2010)
Các số liệu khí hậu Khe Sanh Quảng Trị Tuyên Hóa
Tổng lượng mưa trung bình/năm (mm) 2.262,0 2.563,8 2.266,5
2
Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất (mm) 469,6 (IX) 620,5 (X) 582,0
Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất (mm) 17,3 (II) 66,2 (IV) 24,9
Số ngày mưa trung bình trong năm 161,1 151,2 -
Nhiệt độ trung bình năm 22,4 25,0 24,3

Kết quả ở Bảng 2.2 cho thấy, tổng số hộ đói nghèo của 5 xã là 751 hộ (chiếm 39,2%
tổng số hộ của 5 xã). Trong đó, xã có tổng số hộ đói nghèo của 5 xã là 751 hộ (chiếm
39,2% tổng số hộ của 5 xã). Trong đó, xã có tổng số hộ đói nghèo nhiều nhất là xã
Hướng Linh với tổng số hộ đói nghèo là 234 hộ, chiếm 66,5% tổng số hộ. Tổng diện
tích đất tự nhiên của 5 xã là 665.914 ha, trong đó, xã Hướng Việt có diện tích tự nhiên
là nhỏ nhất (6.520 ha), xã Hướng Sơn có diện tích tự nhiên lớn nhất (20.456 ha). Dân
cư các xã trong vùng có mật độ dân số là tương đối thấp (19,1 người/km
2
), trong đó,
xã có mật độ phân bố dân cư thấp nhất là xã Hướng Lập với 7,4 người/km
2
, xã có mật
độ dân số cao nhất là xã Hướng Phùng với 28,2 người/km
2
.
Bảng 2.2. Thống kê dân số, diện tích và mật độ dân số trong khu vực năm 2008
Hạng mục
Hướng
Lập
Hướng
Việt
Hướng
Phùng
Hướng
Sơn
Hướng
Linh
Cộng
Tổng số hộ 188 185 928 262 352 1.915
+ Kinh 6 5 576 8 11 606

Trong xuất bản phẩm gần đây "Các vùng chim đặc hữu thế giới", một số khu vực
thuộc miền Trung Việt Nam, đặc biệt các khu thuộc các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế được xếp vào đơn vị 143. Vùng này bao gồm vùng đất thấp, vùng đới chuyển tiếp
Bắc Trung Bộ và một phần phụ cận thuộc Trung Lào (Stattersfied và cs., 1998, dẫn
theo Đào Văn Tiến (1985), Lekagul và Round (1991); Tordoff và cs., 2003).
Từ các quan điểm về địa sinh học nêu trên, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa nằm gần ranh
giới phía Đông giữa vùng Đông Á và cổ Bắc Cực, nhưng chủ yếu thuộc vùng Đông Á.
Lekagul và Round (1991) xác định vị trí địa lý sinh học Khu BTTN Bắc Hướng Hóa
là:
+ Vùng Đông Á;
+ Tiểu vùng Đông Dương;
+ Vùng đất thấp Bắc Trung Bộ (Stattersfied và cs., 1998, dẫn theo Lekagul và Round
(1991)).
Tuy nhiên, về địa lý động vật học Việt Nam, xác định khu vực này là một phần của
khu hệ động vật Bắc Trường Sơn (Đào Văn Tiến, 1985; Võ Quý, 1981; Võ Quý và
Nguyễn Cử, 1999; Phạm Bình Quyền và cs., 2011).
3.2. Thảm thực vật
Toàn bộ khu vực theo như phân loại của Thái Văn Trừng (1978), được bao phủ bởi
các kiểu rừng kín thường xanh. Ở độ cao dưới 600 m là rừng kín thường xanh mưa ẩm
nhiệt đới và từ 600 m trở lên là kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới. Nhưng trải qua
quá trình tác động lâu dài của con người như đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản và
ảnh hưởng của chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hóa học đã làm thay đổi nhiều diện
mạo của rừng thường xanh ở khu vực Bắc Hướng Hóa. Hiện nay ở khu vực Bắc
Hướng Hóa dễ dàng nhận thấy dạng thảm thực vật nguyên sinh và dạng thảm thực vật
thứ sinh phục hồi sau tác động.
5
Bảng 3.1. Diện tích các loại đất đai Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
Kiểu sử dụng đất Diện tích Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích 25.200,0 100
Rừng tự nhiên 20.646,2 81,93

rô (Acanthaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cau dừa
(Arecaceae), họ Dương xỉ mộc (Cyatheaceae). Trong tầng cỏ quyết: phổ biến gặp là
các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae), họ Gai
(Urticaceae), họ Dứa gai (Pandanaceae), họ Đao dong (Maranthaceae), họ Riềng
(Zingiberaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae). Ở những
khoảng trống nhiều ánh sáng có thể có sự có mặt nhiều loài của chi Hedyotis thuộc họ
Cà phê (Rubiaceae), nhiều loài cỏ thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), một số loài thuộc họ
Cúc (Asteraceae). Trên các khe, vách nơi ẩm gặp một số loài họ Thu hải đường
(Begoniaceae).
Đặc trưng về tầng tán thể hiện rõ sự phân tầng với 5 tầng:
– Tầng 1 (tầng vượt tán/tầng nhô). Trên khu vực núi đất trong tầng vượt tán có
chiều cao 20-25 m đôi chỗ có thể có cây cao trên 25 m. Các loài thường gặp trong tầng
này là các cây gỗ cao to, đường kính dao động từ 40-80 cm. đôi chỗ có thể có cây đạt
tới đường kính 1-1,2 m. Tuy nhiên độ phủ của tầng này không cao, chỉ ở mức 15-20%,
nghĩa là số cây gỗ cao to vượt tán không nhiều, các loài thường gặp trong tầng này là
loài Cà ná mũi nhọn (Canarium subulatum) và Trám trắng (Canarium album) thuộc họ
Trám (Burceraceae).
– Tầng 2 (tầng ưu thế sinh thái). Thường cây gỗ có chiều cao tương đối đồng đều
10-15 m, tán tròn tạo ra một màn có độ che phủ cao đạt tới 50-60%. Cây gỗ có đường
kính trung bình 30-40 cm; Tầng này là sự đan xen, có tính đa dạng cao của các họ thực
vật nhiệt đới ẩm, lá rộng thường xanh. Xét về số lượng cá thể của các họ khó có thể
khẳng định độ ưu thế thuộc về họ nào; có thể ở vị trí này ưu thế thuộc về họ Dẻ
(Fagaceae) thì ở vị trí khác lại thuộc về họ De (Lauraceae) và có thể ở các vị trí khác
ưu thế lại thuộc về những họ khác nhau như họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae),
họ Bồ hòn (Sapindaceae). Tầng này chứa đựng tính đa dạng thực vật cao, có ý nghĩa
lớn về mặt sinh thái và giá trị môi trường.
– Tầng 3 (tầng dưới tán/tầng cây bụi và gỗ nhỏ). Có chiều cao 7-10 m. Thường gặp
các cây tái sinh của hai tầng trên và những loài cây gỗ nhỏ thuộc họ Trúc đào
(Apocynaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ba mảnh vỏ
(Euphorbiaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Dâu tằm

(Syzygium) họ Sim (Myrtaceae), thuộc chi Thị rừng (Diospyros) họ Thị (Ebenaceae);
chi Bứa (Garcinia) họ Măng cụt (Guttiferae); thuộc chi Cóc rừng (Spondias), Dâu gia
xoan chi Allospondias; Xuyên cóc chi Choerospondias, Sưng đào chi Semecarpus họ
Đào lộn hột (Anacardiaceae); chi Bình linh (Vitex) họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Một số loài thuộc họ Gai (Ulmaceae); chi Sếu (Celtis); nhiều loài họ Đay (Tiliaceae).
Đặc biệt phải kể đến cây Phay rất thường gặp ở các thung lũng ven suối núi đá vôi
(Duabanga sonneratoides) họ Bần (Sonneratiaceae) và một số loài thuộc chi Đùng
đình (Caryota) họ Cau dừa (Arecaceae). Nhiều loài thuộc chi Lụi (Rhapis), loài Đùng
8
đình (Caryota bacsonensis) cây to đường kính tới 50 cm, cao 10-15 m rất đặc trưng
cho vùng núi đá vôi. Đặc biệt ở kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi
đá vôi thảm thực vật bò leo trên đá rất nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae) và họ
Hồ tiêu (Piperaceae); cũng trong tầng thảm tươi là sự có mặt rất đặc trưng của các loài
Lá han: Han trâu (Dendrocnide urentissima), Han tím (Laportea interrupta), Han bò
(Laportea thorelli) khi bị cọ xát vào da gây rất ngứa và các loài khác thuộc họ Gai
(Urticaceae). Trên những thành vách đá có rất nhiều loài chi Đa sung (Ficus) nhóm
cây có nhựa mủ chịu khô hạn. Những nơi ẩm thường gặp một số loài chi Ngũ gia bì
(Schefflera) họ Nhân sâm (Araliaceae) chịu khô hạn tốt, rễ nổi bám vào các khối hay
thành vách đá phát triển mạnh.
(b) Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp (phân bố từ độ cao 600 m trở lên):
Tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, kiểu thảm thực vật thường xanh á nhiệt đới núi thấp
phân bố từ độ cao 600 m trở lên chỉ gặp trên núi đất (khu vực núi đá vôi ít, không có
các đỉnh cao). Kiểu thảm này có diện tích khá, phần lớn giữ được tính tự nhiên ít bị tác
động. Về cấu trúc tầng không đồng nhất ở các khu vực: vùng thung lũng, nơi bằng có
dạng điển hình 5 tầng gần giống với kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới
trên núi đất, cũng thể hiện rõ 5 tầng (tầng 1: tầng vượt tán; tầng 2: tầng ưu thế sinh
thái; tầng 3: tầng cây gỗ nhỏ và cây bụi; tầng 4: tầng dưới tán – tầng cây bụi; tầng 5:
tầng cỏ quyết – thảm tươi). Nhưng ở những triền núi dốc hay ở các đỉnh dông, đỉnh
núi, do bị bào mòn tầng đất mặt mỏng (có nhiều đá lộ đầu), yếu tố ánh sáng mạnh
cộng với tác động của gió đã ảnh hưởng mạnh tới hệ thực vật: Không có cây to cao, ít

thảm thực vật nguyên sinh bị hủy diệt do chất độc hóa học (trước năm 1975) và một số
nơi khác là những căn cứ quân sự (nơi đóng quân, hầm hào, lô cốt), đó là nguyên nhân
dẫn đến thảm thực vật nguyên sinh bị mất đi. Cây gỗ, cây bụi, cây thảo tái sinh phát
triển trở lại tạo nên các thảm thực vật thứ sinh. Tùy thuộc vào mức độ tác động nhiều
hay ít mà thảm thực vật thứ sinh có những nét đặc trưng về ngoại mạo, về cấu trúc, về
thành phần loài thực vật.
(a) Rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy
Phần lớn phân bố từ độ cao 600 m trở xuống. Khác với vùng núi phía Bắc và các vùng
khác, tại khu vực Khu BTTN Bắc Hướng Hóa chỉ có dân tộc Vân Kiều với dân số ít;
sống ở các khu vực thấp ven suối; nương rẫy canh tác cũng không xa bản. Trình độ
dân trí thấp, chưa biết sản xuất hàng hóa: Canh tác nương rẫy chỉ là lúa, ngô, nhằm
giải quyết nhu cầu lương thực tại chỗ nên rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy không
nhiều, vùng thấp quanh khu vực bản làng. Những khu vực sau canh tác nương rẫy,
được bỏ hoang từ 8-10 năm, rừng thứ sinh hình thành. Cấu trúc và thành phần loài
thực vật cũng như hình thái ngoại mạo khác biệt rõ rệt so với rừng nguyên sinh.
Thường không có tầng tán rõ rệt.
+ Tầng 1 (tầng ưu thế sinh thái). Tầng này với các cây gỗ ưa sáng phát triển trở lại
từ chồi hay hạt, cùng tuổi có chiều cao dao động từ 8-10 m, đường kính dao động từ
10
10-15 cm. Phổ biến ở tầng này là các loài Bời lời chi Bời lời (Litsea); Kháo
(Machilus), Nang trứng (Lindera) họ Long não (Lauraceae); một số loài chi Ba soi
(Macaranga spp.), chi Ba bét (Mallotus spp.), chi Sòi tía (Sapium spp.), chi Bi điền
(Bridelia spp.), Vạng trứng (Endospermum sinensis) thuộc họ Ba mảnh vỏ
(Euphorbiaceae). Một hai loài Trám chi Canarium, Ba gạc lá xoan (Euodia melifolia),
Bưởi bung (Acronychia pedunculata) họ Cam chanh (Rutaceae); Ngát lông
(Gironniera subaequalis), Hu đay (Trema orientalis), Sếu (Centis sinensis) họ Sếu
(Ulmaceae). Một số loài họ Đậu (Fabaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đào lộn hột
(Anacardiaceae). Những khu vực ẩm là các loài thuộc chi Sung vả (Ficus) họ Dâu tằm
(Moraceae).
+ Tầng 2 (tầng gỗ nhỏ cây bụi). Có chiều cao 5-7 m. Thường gặp các loài thuộc họ

giống nhau ở cả đai cao và đai thấp.
Đặc trưng của kiểu thảm thứ sinh trảng cây bụi, cỏ cao là các loài cỏ cao thuộc họ Hòa
thảo (Poaceae): Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Lách
(Saccharum spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ lau (Imperata conferta).
Cấu trúc đơn điệu, những loài cỏ cao có chiều cao từ 1-2 m, độ phủ đạt 70-80%, rất ít
những khoảng trống, rải rác có những cụm cây bụi, cây gỗ nhỏ, những loài ưa sáng
cao 5-8 m.Thành phần cây bụi có sự khác biệt ít nhiều phụ thuộc vào nguyên nhân làm
mất rừng nguyên sinh và kiểu thảm nguyên sinh vốn có tại đó.
Ở những khu vực thấp (dưới 600 m), đất sau nương rẫy bỏ hoang, trảng cây bụi cỏ cao
là trạng thái bắt đầu của diễn thế thứ sinh. Cây bụi cỏ cao phát triển nhanh, ưu thế là
những cây ưa sáng phát triển nhanh: Hu đay (Trema orientalis, Trema cannabina), Ba
soi (Macaranga spp.), Ba bét (Mallotus spp.). Một số loài Bời lời chi Bời lời (Litsea),
Vối thuốc (Schima wallichii), Ba gạc lá xoan (Euodia melifolia), Bưởi bung
(Acronychia paniculata), Trám (Canarium spp.), Vạng trứng (Endospermum sinensis),
một số loài họ Dẻ (Fagaceae) và do đất ẩm xốp, Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít
(Thysanolaena maxima), Cỏ lau (Imperata conferta) phát triển mạnh, tạo nên các bụi,
cụm lớn độ phủ cao. Có nơi độ phủ cao đạt tới 70-80%.
Những diện tích rừng nguyên sinh bị rải chất độc hóa học trước đây và sau đó cháy đi
cháy lại nhiều lần: ưu thế tuyệt đối thuộc những loài cỏ cao họ Hòa thảo (Poaceae)
Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ tranh (Imperata
cylindrica), Lau (Imperata conferta) phát triển kém hơn, cằn cỗi, cao 1-1,5 m, rải rác
có cây bụi gỗ nhỏ, thường là những loài chịu khô, chịu cháy, sống trên đất thoái hóa
nghèo mùn. Phổ phiến là các loài họ Dẻ (Fagaceae), họ Óc chó (Juglandaceae), họ Chè
(Theaceae), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae), một số loài họ Long não (Lauraceae), họ
Côm (Eleocarpaceae).
(c) Trảng thứ sinh tre nứa (Trúc sặt) phân bố ở độ cao 600 trở lên
12
Ở độ cao 700-1.200 m, có khá nhiều diện tích trảng thứ sinh Trúc sặt (Arundiunria
peteloti). Cây cao từ 3-5 m, có mật độ khá dầy, mọc tản (không hình thành bụi cụm),
ưu thế tuyệt đối 60-70% độ phủ. Rải rác có cây gỗ thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè

13
vài loài họ Hoa mõm chó (Scrophuliaceae) chi Lindernia, thường gặp loài Cam thảo
Nam (Seoparia dulcis).
Những khu vực đất chua, cây bụi ưu thế là các loài Mua (Melastoma spp.) và cỏ thấp.
Đơn điệu về cấu trúc, nghèo nàn về thành phần. Một vài loài cỏ thấp thuộc chi cỏ
Đắng (Paspalum spp.) hay thuần loại Cỏ may (Chrysopogon aciculatus), Cỏ gà
(Cynodon dactylon), Cỏ chỉ (Digitaria spp.).
3.2.3. Thành phần loài thực vật
Kết quả điều tra ghi nhận được 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 518 chi và
130 họ. Trong số đó có 17 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và 23 loài trong Sách
Đỏ Thế giới (IUCN, 1996). Về giá trị sử dụng, đã thống kê được 125 loài cây cung cấp
gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh và 89 loài cây làm thực phẩm.
Kết quả ở Bảng 3.2 cho thấy, 13 họ có tính đa dạng cao về số lượng chi và loài, trong
số đó, 12 họ có số chi từ 7-20 chi. Họ Cà phê (Rubiaceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ
Lan (Orchidaceae) có số lượng chi cao nhất từ 16-20 chi. Họ Long não (Lauraceae) và
họ Cam chanh (Rutaceae) có số lượng lớn hơn 10 chi (14 và 11). Còn 7 họ khác: họ
Mua (Melastomataceae), Dâu tằm (Moraceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Chè (Theaceae),
Gai (Urticaceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) và Cau dừa (Arecaceae) có số chi dao
động từ 7 đến 9 chi (Gagnepain, 1909-1950; Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và
Môi trường, 2001).
Bảng 3.2. Thành phần thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
Ngành thực vật Họ Chi Loài
Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) 2 2 6
Ngành Mộc tặc (Equisetophyta) 1 1 1
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 11 31 68
Ngành Thông (Pinophyta) 4 6 9
Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) 112 478 836
Lớp Mộc lan (Magnoliopsida) 91 388 707
Lớp Hành (Liliopsida) 21 90 129
Tổng số 130 518 920

12 Orchidaceae Lan 18 26
13 Poaceae Hòa thảo 20 23
Tìm hiểu so sánh về cấu trúc thành phần loài thực vật tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa
với các khu bảo tồn khác trong khu vực Bắc Trường Sơn như Khu BTTN ĐaKrông,
Vườn Quốc gia Bạch Mã (Bảng 3.4), nhận thấy có sự khác biệt ít nhiều về số lượng
15
các taxon (bậc họ, bậc chi, bậc loài). Cả ba khu bảo tồn này đều có những nét tương
đồng về cấu trúc thành phần loài, có tới 90% các họ giống nhau, còn sự khác biệt về
mặt số lượng các loài có thể lý giải là do khác nhau về mức độ nghiên cứu.
Bảng 3.4. So sánh tính đa dạng thực vật Bắc Hướng Hóa với
các khu bảo tồn khác trong vùng
Họ Chi Loài
BHH Đak BM BHH Đak BM BHH Đak BM
Ngành Thông đất
(Lycopodiophyta)
2 2 2 2 2 3 6 3 16
Ngành Mộc tặc
(Equisetophyta)
1 0 1 1 0 1 1 0 1
Ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta)
11 11 24 31 15 68 68 30 162
Ngành Hạt trần
(Gymnospermae)
4 3 7 6 6 11 9 10 20
Ngành Hạt kín
(Angiospermae)
112 114 156 487 505 669 836 1.009 1.448
- Lớp hai lá mầm
(Dicotyledones)

Gội đỏ VU
8 Aquilaria crassna Pierre ex Lec Dó trầm E CR
9 Ardisia silvestris Pit. Lá khôi V
10 Chukrasia tabularis A. Jus. Lát hoa K CR
11 Cinnamomum balansae Lec. Vù hương R EN
12 Cinnamomum parthenocylon Meissn. Cửu mộc K DD
13 Coscinium fenestratum (Gagn.) Colebr. Dây vằng đắng K
14 Cratoxylon cochinchinensis (Lour.) Bl. Thành ngạnh
Nam
CR
15 Croton touranensis Gagn. Cu đèn Đà Nẵng VU
16 Dalbergia entadoides Pierre ex Gagn. Bàm bàm DD
17 Dipterocarpus grandiflorus Blco Dầu hoa to CR
18 Dipterocarpus hasseltii Bl. Dầu CR
19 Dipterocarpus kerrii King Dầu cà luân CR
20 Engelhartia spicata Lesch. ex Bl. Chẹo bông CR
21 Erythrophleum fordii Oliv. Lim EN
22 Knema globularia (Lamk.) Warb. Máu chó cầu CR
23 Mangifera foetida Lour. Xoài hôi CR
24 Melientha suavis Pierre Rau sắng K
25 Rauvolfia cambodiana Pierre ex Pit Ba gạc Căm bốt T
26 Rhodoleia championii Hook.f. (Rhoiptelea) Hồng quang V CR
27 Smilax glabra Roxb. Thổ phục linh V
17
28 Sindora tonkinensis A. Chev. ex K. & S. S.
Lars.
Gõ dầu V VU
29 Anoectochilus cetaceus Blume Lan gấm E
30 Calamus poilanei Conr. Mây bột K
31 Dendrobium amabile (Lour.) O'brien Thủy tiên hường R

có 26 loài đã chắc chắn phát hiện có mặt trong khu vực và 16 loài được ghi nhận qua
thông tin phỏng vấn. Trong số đó, loài Voọc Hà Tĩnh, loài đặc hữu của Việt Nam, lần
đầu tiên được phát hiện ở Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị (Geissmam và
Vu Ngoc Thanh, 1998; Phạm Nhật, 2002).
Trong số 26 loài phát hiện chắc chắn, 11 loài có tên trong Sách Đỏ các loài bị đe dọa
của IUCN (IUCN, 1996) ở các cấp bị đe dọa, gần bị đe dọa hoặc chưa đủ thông tin để
xếp vào các nhóm loài bị đe dọa. Mười một trong số này có tên trong Sách Đỏ Việt
Nam (Bộ KH&CN và Viện KH&CN Việt Nam, 2007), bao gồm 5 loài nguy cấp: Voọc
vá chân nâu, Voọc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng, Gấu ngựa và Sao la; 6 loài sắp nguy
cấp là Tê tê Java, Khỉ mặt đỏ, Rái cá vuốt bé, Mang lớn (Megamuntiacus
vuquangensis), Bò tót và Sơn dương (Bảng 3.7).
Bảng 3.7. Các loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế hiện có ở
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, Quảng Trị (2010)
TT Tên phổ thông Tên khoa học
Cấp đe dọa
Quốc gia Thế giới
1 Tê tê Java Manis javanica V NT
2 Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides V VU
3 Voọc vá chân nâu Pygathrix nemaeus E EN
4 Voọc Hà Tĩnh Semnopithecus laotum
hatinhensis
E DD
5 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenis E DD
6 Gấu ngựa Ursus thibetanus E VU
7 Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea V NT
8 Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis V
9 Sơn dương Naemorhedus sumatraensis V VU
10 Sao la Pseudoryx nghetinhensis E EN
11 Bò tót Bos gaurus V VU
12 Thỏ vằn Nesolagus timminsi DD

3 Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi EN, RRS En
4 Gà lôi hông tía L. diardi NT T
5 Trĩ sao Rheinardia ocellata VU T
6 Gõ kiến xanh cổ đỏ Picus rabieri NT, RRS
7 Thầy chùa đít đỏ Megalaima lagrandieri RRS
8 Niệc nâu Anorrhinus tickelli NT T
9 Hồng hoàng Buceros bicornis NT T
20
10 Bồng chanh rừng Alcedo hercules NT T
11 Sả hung Halcyon coromanda R
12 Bói cá lớn Megaceryle lugubris T
13 Diều cá bé Ichthyophaga humilis NT
14 Đuôi cụt bụng vằn Pitta elliotii T
15 Mỏ rộng xanh Psarisomus dalhousiae T
16 Chim khách đuôi cờ Temnurus temnurus T
17 Khướu đầu xám Garrulax vassali RRS T
18 Khướu mỏ dài Jabouilleia dangjoui VU, RRS T
19 Chích chạch má xám Macronous kelleyi RRS
Ghi chú: Cấp đe dọa quốc gia: E: Nguy cấp; V: Sắp nguy cấp; T: Bị đe dọa; R: Loài
hiếm, theo Sách Đỏ Việt Nam (Bộ KH&CN và Viện KH&CN Việt Nam, 2007).
Cấp đe dọa toàn cầu: EN: Nguy cấp; VU: Sắp nguy cấp; NT: Gần bị đe dọa; DD: Chưa
đủ dữ liệu, theo IUCN (1996). En: Loài đặc hữu của Việt Nam; RRS: Loài có vùng
phân bố hẹp.
3.3.3. Khu hệ Bò sát và Ếch nhái
Khu hệ Bò sát và Ếch nhái tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa theo kết quả khảo sát thực
địa do các chuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Viện Động vật St.
Petersburg tiến hành trong những năm gần đây cho thấy, có tính đa dạng sinh học cao.
Tổng số 61 loài Bò sát và Ếch nhái đã được phát hiện, trong số đó 30 loài Ếch nhái
thuộc 5 họ và 1 bộ; 31 loài Bò sát thuộc 8 họ và 2 bộ. Kết quả nghiên cứu cũng ghi
nhận mới một số loài cho Khu Bảo tồn: 2 loài Ếch cây thuộc giống Theloderma spp.,

9. MacKinnon, J. (Ed.), 1997. Protected Areas Systems Review of the Indo-Malayan
Realm. World Bank. The Asian Bureau for Conservation Limited: 198 pages.
10. MacKinnon, J., K. MacKinnon, C. Graham and J. Thorsell, 1986. Managing
Protected Areas in the Tropics. IUCN. Gland, Switzeland: 313 pages.
11. Mahood, S.P. and Tran Van Hung, 2008. The Biodiversity of Bac Huong Hoa
Nature Reserve, Quang Tri Province, Vietnam. BirdLife International Vietnam
Programme.
12. Nghị định 32/2006/NĐ-CP, ký ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
13. Phạm Nhật, 2002. Thú Linh trưởng của Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
14. Phòng Thống kê huyện Hướng Hóa, 2009. Niên giám thống kê huyện Hướng Hóa
năm 2008. Hướng Hóa, Quảng Trị.
15. Võ Quý, 1981. Chim Việt Nam. Hình thái và phân loại. NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội: 393 trang.
16. Võ Quý và Nguyễn Cử, 1999. Danh lục Chim Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà
Nội.
17. Phạm Bình Quyền và cs., 2011. Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn. NXB
Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
22
18. Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc, 1996. Danh lục Bò sát và Ếch nhái Việt Nam.
NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 264 trang.
19. Đào Văn Tiến, 1985. Khảo sát Thú ở miền Bắc Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
20. Timmins, R.J., Đỗ Tước và Trịnh Việt Cường, 1999. Điều tra đánh giá đa dạng
sinh học Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Viện Điều tra và Quy hoạch
Rừng.
21. Tordoff, A., R. Timmins, R. Smith và Mai Kỳ Vinh, 2003. Đánh giá sinh học khu
vực Trung Trường Sơn. WWF. Hà Nội.
22. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2001. Danh lục các loài thực
vật Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

in the World Red Data Book (IUCN, 1996). Concerning their use value, 125 timber
supply species, 161 herbal medicine species, 44 ornamental species and 89 food
species have been listed. New species can be potentially found among the wild fauna
in this area. This is a place of high biodiversity and meeting exchange between faunal
species of west and east of Truong Son, faunal species of north and south of Truong
Son. In this area, seasonal migration and change of food seeking behavior of fauna,
especially big annimals has been recorded. Concerning species composition, 42 animal
species (not including Bats) of 17 families and 6 orders. Concerning bird fauna, 171
species have been discovered, belonging to 14 orders and 32 families. Reptiles and
amphibians include 30 emphibian species of five families, one order and 31 reptile
species of 8 families and 2 orders; some new species have been found in the area: 2
Hymalayan species of genus Theloderma spp., Hymalayan species (Rhacophorus
bipunctatus), Homalogis buccata, Lycodon ruhstrati, Trimeresurus mucrosquamatus,
Bungarus bungaroides, etc. In addition, 3 species have been found, possibly the new
ones belonging to genera of Philautus, Amphiesma and Oligodon.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status