Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm sinh thái, tỷ lệ nhiễm virus của các loài muỗi culicinae và vai trò truyền bệnh viêm não nhật bản ở tây nguyên - Pdf 13


BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN BÁO CÁO
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ

TÊN ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM
SINH THÁI, TỶ LỆ NHIỄM VIRUS CỦA CÁC LOÀI MUỖI
CULICINAE VÀ VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH VIÊM NÃO
NHẬT BẢN Ở TÂY NGUYÊN

CƠ QUAN QUẢN LÝ: BỘ Y TẾ
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN
CƠ QUAN PHỐI HỢP CHÍNH: VIỆN SR – KST – CT TRUNG ƯƠNG

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS. ĐẶNG TUẤN ĐẠT
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. ĐẶNG TUẤN ĐẠT
Cơ quan (tổ chức) chủ trì đề tài: VIỆN VỆ SINH DỊCH TẼ TÂY NGUYÊN
Cấp quản lý: BỘ Y TẾ
Cơ quan phối hợp chính: VIỆN SR – KST – CT TƯ
Mã số đề tài (nếu có):

Thời gian thực hiện: từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 2007
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 225.000.000 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH 225.000.000 triệu đồng

BUÔN MA THU
ỘT -2008 BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1. Tên đề tài: Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm sinh thái, tỷ lệ nhiễm virus
của các loài muỗi Culicinae và vai trò truyền bệnh viêm não Nhật Bản ở Tây
Nguyên.
2. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đặng Tuấn Đạt
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên
4. Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Y tế
5. Thư ký đề tài: CN. Phan Đình Thuận

6. Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):


Ae: Aedes
Ar: Armigeres
Cx: Culex

bq: bẫy quạt
bđ: bẫy đèn
DL : Đắk Lắk
DN : Đắk Nông
GL : Gia Lai
KT : Kon Tum
LĐ : Lâm Đồng
KST- CT : Ký sinh trùng- Côn trùng
M : Mansonia
RT - PCR: Reverse transcription - Polymerase Chain Reaction
TN : Tây Nguyên
TT: Thị trấn
TX: Thị xã
TƯ : Trung Ương
VSDT : Vệ sinh Dịch tễ
VNNB: Viêm não Nhật Bản

4.1.4. Đặc điểm sinh thái một số loài muỗi có khả năng truyền bệnh VNNB ở TN 48
4.2. Kết quả phân lập virus từ một số loài muỗi ở TN ……………… 54
4.2.1. Kết quả phân lập virus từ một số loài muỗi Culex thu thập ở TN, 2006-2007 54
4.2.2. Kết quả phân lập virus VNNB từ một s
ố loài muỗi Culex ở TN, năm 2006 55
4.2.3. Kết quả phân lập virus VNNB từ một số loài muỗi Culex ở TN, năm 2007… 58
4.2.4. Kết quả phân lập chủng virus Nam Định từ muỗi Culex ở Tây Nguyên 60
4.2.5. Kết quả phân lập virus viêm não theo thành phần loài muỗi thuộc giống
Culex ở Tây Nguyên (12/2005 - 12/2007)………………………….

61
4.2.6. Kết quả phân lập virus viêm não theo điểm nghiên cứu ở Tây
Nguyên, (12/2005 - 12/2007)……………………………………………

62
4.3. Tình hình bệnh viêm não tại Tây Nguyên 63
V. BÀN LUẬN………………………………………………………………… 64
VI. KẾT LUẬN………………………………………………………………… 72
VII. ĐỀ NGH
Ị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 1,2 77
Lời cảm ơn


trên địa bàn Tây Nguyên.
- Xác định mật độ các vectơ chủ yếu truyền viêm não Nhật Bản như Culex
tritaeniorhynchus , culex vishnui và culex gelidus ở hầu hết các điểm nghiên cứu
tương đối cao (từ 5-16 con/giờ /người).
- Đã phát hiện thêm loài Culex pseudovishnui có khả năng nhiễm virus viêm não
Nhật Bản tại xã Tâm Thắng, huy
ện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông vào tháng 12 năm
2006.
- Đã phát hiện loài Culex quinquefasciatus dương tinh với chủng virus Nam Định
bằng kỹ thuật di truyền (PCR).
- Đã phân lập được 17 chủng virus viêm não Nhật Bản từ 5 loài muỗi Culex
(Culex tritaeniorhynchus, Cx. gelidus, Cx. vishnui, Cx. pseudovishnui, Cx.
fuscocephala) tại 4 điểm nghiên cứu và chủng virus Nam Định từ 4 loài muỗi
Culex (Culex tritaeniorhynchus, Cx. gelidus, Cx. vishnui, Cx. quinquefasciatus).
Kết quả cụ thể (các sản phẩm cụ thể)
Trong thờ
i gian từ năm 2006-2007, đã tiến hành 20 lượt điều tra thu thập
muỗi Culicinae, tại 13 điểm, thuộc 12 huyện, thị trấn, thị xã của 4 tỉnh ở Tây
Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông. Đã thu thập được 9.557 cá
thể muỗi và 1.991 cá thể bọ gậy, thuộc 44 loài 7 giống. Đã bổ sung cho khu hệ

2
muỗi Culicinae Tây Nguyên 21 loài là: Aedes ceacus, Ae. desmotes, Ae.
lineatopennis, Ae. vexans, Armigeres kucchingensis, Culex hutchinsoni, Cx.
khazani, Cx. malayi, Cx. mimeticus, Cx. minor, Cx. nigropunctatus, Cx.
pallidothorax, Cx. sinensis, Cx. whitei, Heizmannia communis, Lutzia fuscana,
Mansonia annulifera, Masonia ocharacea, Masonia uniformis và Tripteroides
powelli (trong đó 7 loài chỉ thu thập được bọ gậy) và 2 giống là Heizmannia
Ludlow, 1905 và Lutzia Tanaka, 2003.
Thành phần loài muỗi Culicinae hiện biết trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên

- Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, các đơn vị tham gia đã hợp tác nghiên
cứu, trao đổi kỹ thuật chuyên môn và học hỏi chuyên môn lẫn nhau cùng nâng
cao trình độ về phương pháp điều tra, kỹ thuật phân loại muỗi Culicinae, kỹ
thuật phân lập virus viêm não Nhật Bản, kỹ thuật xác định các chủng virus
bằng kỹ thuật sinh học phân tư
(RT- PCR) đáp ứng yêu cầu của đề tài .
- Bổ sung tiêu bản muỗi, bọ gậy Culicinae cho Tây Nguyên nhằm phục vụ đào
tạo và nghiên cứu khoa học cho cán bộ và sinh viên khu vực Tây Nguyên.
- Số liệu đề tài nghiên cứu đã được sử dụng cho việc đào tạo thạc sĩ của 2 cán
bộ Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên.
D. Hiệu quả kinh tế
- Kết quả điều tra, nghiên cứu thành ph
ần loài và phân bố muỗi Culicinae ở Tây
Nguyên đã và sẽ góp phần phục vụ cho chương trình nghiên cứu một số bệnh
do muỗi truyền như giun chỉ Bạch huyết, bệnh viêm não Nhật Bản, bệnh sốt
xuất huyết –Dengue trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.
- Các Trung tâm vệ sinh phòng dịch các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên, Viện vệ
sinh dich tễ Tây Nguyên, Vụ Vệ sinh phòng dịch Bộ Y sẽ tiết kiệm được
nhiều kinh phí, thời gian… nế
u sử dụng, tham khảo các số liệu nghiên cứu cơ
bản của đề tài này khi cần thiết để đặt ra biện pháp phòng chống các bệnh do
muỗi Culicinae truyền.
2. Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được tham khảo và áp dụng rộng rãi bởi
các cơ sở vệ sinh phòng dịch ở Tây Nguyên, của cả dân và quân y. Dựa vào
kết qu
ả nghiên cứu của đề tài để có thể dự báo khả năng xẩy ra một số dịch
bệnh do muỗi Culicinae lan truyền ở một số địa phương trong thời điểm nhất
định, từ đó kịp thời đề ra biện pháp phòng trừ vectơ và dịch bệnh có hiệu quả
nhất.

5

Phần B: BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Muỗi Culicinae có thành phần loài khá phong phú, chúng phân bố rộng ở
khắp nơi trên thế giới. Sự hiện diện các loài thuộc nhóm côn trùng này có khả năng
truyền bệnh ở các địa phương là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ dịch xảy ra khi có xuất
hiện hoặc lưu hành nguồn bệnh. Hiện nay một số bệnh do virus được xác định là
do vector truyền như bệnh sốt Dengue / sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD), viêm
não Nhật Bản (VNNB) trong
đó bệnh Viêm não Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng
ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng ở nhiều quốc gia và khu vực.
Trên thế giới bệnh viêm não Nhật Bản đã biết từ năm 1871, bệnh lưu hành ở
vùng Châu Á, Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, từ năm 1959 đã phát hiện được hội
chứng viêm não ở trẻ em, bệnh đã xảy ra trên địa bàn rộng và trong nhiều năm
nay[28].
Tây Nguyên có địa hình phức tạp, khu hệ động vật, thực vật phong phú nhất cả
nước, khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sự lưu hành nhiều loại dịch bệnh do muỗi
truyền như bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết, và gần đây là bệnh viêm não Nhật

đa dạng. Đặc biệt tình hình bệnh viêm não Nhật Bản ngày càng có xu hướng gia
tăng. Vì vậy việc nghiên cứu vector truyền bệnh và tình hình dịch tễ VNNB cần
được tiế
p tục ở các tỉnh Tây Nguyên là điều cần thiết.
Do đó, chúng tôi xây dựng và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài,
đặc điểm sinh thái của các loài muỗi Culicinae và vai trò truyền bệnh viêm não
Nhật Bản ở Tây Nguyên” với mục tiêu:
1. Xác định thành phần loài, phân bố các loài muỗi Culicinae ở khu vực Tây
Nguyên.
2. Phát hiện virus viêm não Nhật Bản trong một số loài muỗi Culex ở Tây
Nguyên. 7

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Nghiên cứu về thành phần, phân bố các loài muỗi Culicinae và khả năng
truyền bệnh VNNB trên thế giới, Việt Nam và Tây Nguyên.
2.1.1. Vật truyền bệnh hay vector Hình 1 : Muỗi Culex - vật trung gian truyền

Có nhiều loài muỗi Culicinae đã được đã được xác định là trung gian truyền
bệnh viêm não Nhật Bản. Một số nước ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapor,
Indonesia, Philippin, Malaysia việc điều tra nghiên cứu về khu hệ, sinh thái học, vai trò
truyền bệnh và biện pháp phòng chố
ng những loài muỗi Culicinae là trung gian truyền

8
bệnh VNNB đã được nhiều tác giả quan tâm như G.L. Chiang và CS, 1985; I.
Vythilingam và CS., 1992; M.S. Chang và CS., 1993…
Những loài muỗi sau đây đã được xác định là vector của bệnh viêm não
Nhật Bản và đã được nhiều tác giả nghiên cứu:
Culex gelidus Theobald, 1901 có thể truyền viêm não Nhật Bản ở Malaysia
và Thái Lan. Theobald 1901, đã thu thập loài muỗi này ở Taipang, Perak, Malaya
and Quilon, Travancore, Ấn Độ và đặt tên là Culex cuneatus. Năm 1907,Theobald
thu thập được ở Ấn Độ và Sarawak (Borneo), ông đặt tên là Culex bipunctata.
Loài muỗi này phân bố ở khu v
ực châu Á Thái Bình Dương gồm các nước
Mianma, Trung Quốc, Ấn độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nê Pan, Niu Gui Nê,
Pakixtan, Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam. Ấu trùng tìm thấy ở các loại ổ
nước tạm thời khác nhau, ổ nước bán cố định và cố định như ao tù, các vũng nước
nhỏ và những cống rãnh nhỏ. Thỉnh thoảng tìm thấy ấu trùng trong các dụng cụ
nhân tạo như thùng, bể chứa nước. Muỗi cái hút máu nguy hiểm, chúng ưa thích
hút máu gia súc và người (Bram, 1967)[32].
Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901 là vector chủ yếu của bệnh viêm não
Nhật Bản B vùng Đông Phương (Riental region). Theobald 1905, đã thu thập loài
muỗi này ở Bom Bay Ấn Độ và đặt tên là Culex biroi. Dyar 1920, đã thu thập loài
muỗi này ở Los Banos, Philippin và đặt tên là Culex summorosus. Baraud and
Christophers 1931, đã thu thập loài muỗi này ở Chieng Mai, Thái Lan và đặt tên là
Culex siamensis. Loài muỗi này phân bố hầu như khắp thế giới: Angôla, Camerun,
Cộng Hoà Trung Phi, Dahomaey, Ai Cập, Gambia, Gha Na, Ấn Độ, Iran, Iraq,

những mẫu thu thập ở Taghjicht, Morocco. Ấu trùng loài muỗi này đã tìm thấy ở
môi trường nước mặn, nước lợ và nước ngọt đọng trên đất và ở những dụng cụ
nhân tạo chứa nước ở vùng ven biển. Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài chim và
lợn, nhưng sẵn sàng đốt người (Harbach, 1988)[32].
2.1.3. Ở Vi
ệt Nam và khu vực Tây Nguyên:
Đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ, sinh thái, dịch tễ học của
muỗi Culicinae, vector của một số bệnh nguy hiểm như bệnh giun chỉ, sốt xuất
huyết… của các tác giả: Vũ Thị Phan, và CS, 1975; Vũ Đức Hương và CS.,1984,
1992, 1996; Đỗ Sĩ Hiển và CS., 1992; Trần Tiến, 1992. Một số công trình đi sâu
nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh lý, sinh thái của muỗi truyền b
ệnh viêm não
ở miền Bắc Việt Nam của các tác giả: Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Trương Quang
Học, Tạ Huy Thịnh và CS., 1993.v.v…đã được công bố. Những năm gần đây, các

10
công trình nghiên cứu đã quan tâm đến biện pháp phòng trừ muỗi bằng hoá chất,
biện pháp sinh học, biện pháp môi trường… đồng thời tiếp tục đánh giá sự nhạy
cảm của các vector với các hoá chất đang sử dụng ở Việt Nam. Các kết quả nghiên
cứu đó đã góp phần tích cực vào việc phòng chống các bệnh này.
Trước năm 1954, các công trình nghiên cứu về muỗi Culicinae ở Việt Nam
chủ yếu do ngườ
i nước ngoài thực hiện : Borel (1926,1928, 1930), Toumanoff
(1933, 1937, Galiard (1936), Galiard và Dang Van Ngu (1947, 1949, 1950). Vào
những năm 50 của thế kỷ trước, bệnh viêm não Nhật Bản đã được phát hiện ở Việt
Nam (Prevot, 1953, 1954).
Năm 1954-1975, bệnh sốt xuất huyết Dengue đã phát hiện ở Hà Nội (1969),
các công trình nghiên cứu về trung gian truyền bệnh ở miền Bắc Việt Nam được
tiến hành kết hợp với công tác điều tra cơ bản khác như các công trình của Vũ Thị


Hiển và CS. (1992), Trần Tiến (1992), Nguyễn Thị Bạch Ngọc (1993, 1995)…
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái một số loài muỗi có vai trò truyền
bệnh viêm não Nhật Bản của các tác giả đượ
c tóm tắt như sau:
Culex gelidus Theobald, 1901 thường thấy ở những làng mạc thuộc nội,
ngoại thành Hà Nội, nhất là những nơi có nhiều ao hồ. Muỗi thường ở những nơi
bẩn thỉu, có phân súc vật như chuồng trâu bò, chuồng lợn…còn ở trong nhà thì ít
thấy (nhất là những nhà không nuôi súc vật). Muỗi này thường đậu ở những chỗ
thấp có bóng tối như bãi cỏ, bụi rậm chung quanh chuồng nuôi súc vậ
t. Muỗi
Culex gelidus có quanh năm, nhưng phát triển mạnh nhất vào tháng 10, tháng
11[1].
Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901 ở khắp những nơi có hồ ao, bụi rậm,
nhất là những nơi có chuồng nuôi súc vật như trâu, bò, gà, lợn…Trong nhà người ở
ít khi thấy, chỉ có những nhà mà chung quanh có chuồng gia súc mới thấy muỗi.
Nói chung, ở những nơi cao ráo, ít hồ ao, ít bụi rậm thì muỗi này rất hiếm. Muỗi ưa
đậu ở những chỗ thấp, tối. Mu
ỗi này phát triển quanh năm, nhưng nhiều nhất là từ
tháng 10, tháng 11[1].
Culex vishnui Theobald, 1901 có ở khắp mọi làng mạc thuộc nội ngoại thành
Hà Nội, nhất là những nơi ao hồ, bụi rậm, chuồng trâu bò, v.v…Ít khi thấy loài
muỗi này ở trong nhà, chỉ có những nhà chung quanh có hồ ao hoặc nuôi súc vật,
trâu bò…mới có nhiều. Nói chung muỗi ưa những nơi bẩn, bụi rậm, ít ánh sáng,

12
còn những nơi cao ráo thì ít thấy. Muỗi thường đậu ở chổ tối. Quanh năm đều thấy
có loài muỗi này[1].
Culex fuscocephala Theobald, 1907 thường ở những nơi thiếu ánh sáng, bẩn
thỉu nhất là những nơi hồ, ao có nước đọng. Thường thấy đậu ở những bãi cỏ, bụi
rậm quanh hồ ao. Trong nhà người ở và chuồng nuôi gia súc ít có loài muỗi này.


13
sau đó giảm dần. Các tác giả đã nhận xét: số lượng quần thể muỗi có liên quan chặt
chẽ với cảnh quan khu dân cư. Nơi nào nuôi lợn nhiều, mật độ dân cư cao, diện
tích thổ cư chật hẹp làm cho mối liên hệ giữa người và gia súc gần gủi, tạo điều
kiện thuận lợi cho bệnh viêm não Nhật Bản lan truyền thông qua các vector như
Culex tritaeniorhynchus [22].
Ổ bọ gậy: loài Culex tritaeniorhynchus
có liên quan chặt chẽ đến tới đồng
ruộng và việc trồng lúa. Tại ruộng lúa, khi thủy vực mới được hình thành lần đầu
trong năm (tháng 1, tháng 2) và khi nhiệt độ còn thấp (15-16,5
0
C) số lượng bọ gậy
ít. Từ tháng 3 số lượng bọ gậy bắt đầu gia tăng mạnh mẽ, bọ gậy tuổi 3-4 đạt đỉnh
cao vào tháng 4, tháng 5 và tháng 9, phù hợp với mật độ muỗi trưởng thành trong
khu dân cư và với hai mùa lúa trổ bông vào thời điểm cuối vụ chiêm (tháng sáu).
Trong mùa đông khi đồng ruộng khô cạn hẳn thì muỗi đẻ ở các mương dẫn nước
và các hố, vũng còn sót lại trên đồ
ng ruộng. Bằng cách đó chúng duy trì quần thể
qua mùa rét[22].
Điều tra cơ bản muỗi Culicinae ở Việt Nam đã được nhóm tác giả Vũ Đức
Hương và cộng sự tiến hành từ năm 1992 - 1995 trên địa bàn 12 tỉnh, thuộc miền
Bắc, miền Trung, đông Nam Bộ, Tây Nam bộ và Tây Nguyên. Kết quả đã phát
hiện được 86 loài muỗi Culicinae thuộc 11 giống. Tại tỉnh Kon Tum, đã phát hiện
27 loài thuộc 7 giống; Gia Lai 26 loài thuộc 7 gi
ống, Đắk Lắk 27 loài thuộc 5
giống, Lâm Đồng 20 loài thuộc 5 giống[7].
Ở Tây Nguyên, năm 1993 các tác giả Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Ái Phương,
Lý Thị Vi Hương và cộng sự đã xác định có 41 loài muỗi thuộcphân họ Culicinae.
Trong đó giống Aedes có 16 loài, Culex: 9 loài, Armigeres: 8 loài, Mansonia: 1

- Lõi được cấu tạo bởi axit ribonucleic, sợi đơn, là vật liệu di truyền của virus .
- Capsit bao bọc chung quanh lõi được cấu tạo bởi nucleoprotein.
- Vỏ bọc ngoài cấu tạo bởi glycoprotein. Đó là kháng nguyên bề mặt có tính ngưng kết
hồng cầu nên gọi là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu và có hoạt tính trung hoà. Đặc
tính của virus : không b
ị phá hủy ở pH = 7-9, tốt nhất pH = 8. Virus bị bất hoạt nhanh
Hình 2 : Hình ảnh của virus viêm
não Nhật Bản

15
ở nhiẹt độ 50
0
C, vì trên bề mặt virus có lipid nên rất nhạy cảm với các chất dung môi
hoà tan mỡ ête, desoxycholat natri. Ngoài ra, virus còn bị bất hoạt nhanh bởi tia hồng
ngoại.
2.2.2. Ổ chứa (reservoir) virus
Mức độ cảm nhiễm của các loài động vật đối với virus VNNB khác nhau. Tỷ lệ
kháng thể dương tính cao đối với virus VNNB đã được chứng minh ở các súc vật như
lợn, ngựa, các loài chim và tỷ lệ dương tính thấp ở trâu, bò, dê, cừu, chó, khỉ. Lợn và
chim là những vật chủ quan trọng nhất dự trữ, nhân lên và lan rộng virus VNNB, bò
không thể hiện là vật chủ khuyếch đại quan trọ
ng của virus VNNB. Vector chủ yếu có
hút máu bò và có những bằng chứng về huyết thanh học thể hiện bò bị nhiễm virus.
Nhưng bò sống lâu năm nên hàng năm không xuất hiện nhiều quần thể bò cảm nhiễm
mới; ngựa cũng bị nhiễm bệnh VNNB, nhưng nó không đóng vai trò trong việc lan
truyền bệnh. Lợn được coi là nguồn nhiễm virus huyết quan trọng truyền qua muỗi là
vì:
- Chỉ số lợn b
ị nhiễm virus trong tự nhiên cao hơn cả.
- Sự xuất hiện virus trong máu lợn thường xảy ra ngay sau khi lợn bị nhiễm

Việc sử dụng tế bào muỗi Aedes albopictus dòng C6/36 đã phân lập được 6
chủng virus từ dịch não tủy của bệnh nhân có hội chứng não cấp. Định loại virus
bằng kỹ thuật ELISA-Sandwich và kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, đã
xác định 4 chủng virus viêm não Nhật Bản, 2 chủng chư
a xác định. Có 43,26%
(196/453) trường hợp hội chứng não cấp ở miền Bắc do virus viêm não Nhật Bản.
Tỷ lệ mắc VNNB ở trẻ em 1-4 tuổi ở miền Bắc đã giảm từ 37,62 trong năm 1989-
1995 xuống còn 11,22% trong năm 2002, do việc tăng cường sử dụng vacxin
VNNB cho trẻ em từ 1-5 tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng [15].
Việc ứng dụng kỹ thuật ức chế hồng cầu để
nghiên cứu sự chuyển đổi kháng
thể virus VNNB ở lợn tại Hoài Đức - Hà Tây của nhóm tác giả: Phan Thị Ngà, Vũ
Sinh Nam, Masahiro Takagi (2002) cho thấy rằng, sự chuyển đổi kháng thể ở lợn
xảy ra quanh năm. Đã phân lập được 7 chủng virus VNNB từ 83 mẫu muỗi và 4
chủng virus VNNB từ 30 mẫu máu lợn. Các chủng virus VNNB phân lập từ muỗi
và từ máu lợn vào thời điểm trong và ngoài mùa dịch. Kết quả nghiên cứu đ
ã xác
định có sự lưu hành của virus VNNB thuộc nhóm genotyp I ở miền Bắc Việt Nam
trong năm 2000[16].

17
Nghiên cứu hình thái cấu trúc virus viêm não Nhật Bản trong các loạt vacxin
sản xuất tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, 28 loạt vacxin viêm não do Viện Vệ sinh
dịch tễ Trung Ương sản xuất có độ tinh khiết cao, các hạt virus có hình khối cầu
đều đặn, nguyên vẹn, giữa có lõi, bên ngoài là vỏ bọc, ngoài cùng là các lông
chiếu. Đường kính trung bình của các hạt này 45-50nm. Đôi khi quan sát thấy các
mảnh, các cấu tử nhỏ, đó là thành phần của hạt virus đang trong quá trình hoàn
chỉnh[11].

ng dụng kỹ thuật MAC-ELISA để xác định tần suất nhiễm virus viêm não

được phân lập từ bệnh nhân hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam năm 2002, sự
lưu hành của virus này
đã được ghi nhận ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.
Đã xác định sự nhân lên của virus Nam Định trên tế bào Aedes albopictus dòng
C6/36 bằng phương pháp lát cắt siêu mỏng sau gây nhiễm 48 giờ. Đã xác định
virus Nam Định nhân lên trong bào tương tế bào, là đặc trưng điển hình của virus
có vật liệu di truyền ADN .v.v…[21]. Những năm sau đó, virus Nam Định đã được
phân lập ở Gia Lai [19].

2.3. Tình hình bệnh VNNB trên thế giới, Việt Nam và Tây Nguyên

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh nhiễm virus cấp tính làm tổn thương
hệ thống thần kinh trung ương, có ổ bệnh trong thiên nhiên. Bệnh gây ra do virus
VNNB lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Cơ chế lưu hành, tác nhân
gây bệnh, sinh lý bệnh, ổ chứa virus, vector truyền bệnh, cách lây truyền đã được
nghiên cứu khá đầy đủ .
Bệnh viêm não Nhật Bản đã được biết năm 1871, nhưng mãi đến nă
m 1935 người
ta mới phân lập được virus từ não của người bệnh ở Tokyo, Nhật Bản.
Năm 1938, Mitamura đã phân lập được virus viêm não Nhật Bản ở muỗi Culex
tritaeniorhynchus.
Đến năm 1959, những nghiên cứu ở Nhật Bản đã xác định ổ chứa virus chủ yếu là
lợn, chim, và muỗi Culex tritaeniorhynchus là vector chính truyền bệnh VNNB giữa
các động vật có xương sống và từ đó truyền sang người.
Bệ
nh VNNB lưu hành rộng rãi ở châu Á, bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
Loan, Hàn Quốc, Philippin, vùng viễn đông nước Nga, tất cả các nước Đông Nam Á
và Ấn Độ. Ở Ấn Độ, bệnh xẩy ra hàng năm với số lượng bệnh nhân nhiều, có năm đến
10.000 trường hợp. Ở miền Bắc Thái Lan, hàng năm tỷ lệ mắc bệnh từ 10-20/100.000
dân. Hầu hết những nước này đều có nhiệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status