LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn các giảng viên, cán bộ Bộ môn Động vật - Sinh thái, Ban Chủ
nhiệm khoa Sinh - Hóa trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện tốt nhất về
không gian cũng như trang thiết bị, hóa chất trong thời gian đề tài được thực
hiện.
Trong quá trình thực hiện đề tài, em cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của các đơn vị như: Trung tâm thư viện, Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng
giáo dục, Phòng đào tạo - Trường Đại học Tây Bắc… Qua đây, em xin được cảm
ơn tất cả các đơn vị trong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để đề tài của em
được hoàn thành đúng thời gian và đạt kết quả cao.
Em cũng xin được chân thành cảm ơn nhân dân địa phương ở các xã Mường
Bám, Co Mạ, Long Hẹ, Chiềng Bôm đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thu mẫu,
cung cấp thông tin về điều kiện tự nhiên và xã hội, về mẫu vật.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, tập thể lớp K51 ĐHSP
Sinh học, các nhóm sinh viên tham gia làm đề tài, khóa luận năm học 2013 - 2014
và bạn bè đã ủng hộ nhiệt tình cũng như đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình
thực hiện đề tài.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS. Đỗ Đức Sáng,
người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho em trong công tác định loại, phân tích
mẫu và định hướng các nội dung nghiên cứu để em có thể hoàn thành đề tài.
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Huyền MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Nội dung nghiên cứu 3
5. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 3
6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài 4
7. Khái quát về tình hình nghiên cứu ốc cạn 4
7.1. Ở Việt Nam 4
7.2. Ở Sơn La 8
7.3. Ở KBTTN Copia 9
8. Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội KVNC 9
8.1. Điều kiện tự nhiên 9
8.2. Điều kiện xã hội 13
9. Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 13
9.1. Phương tiện nghiên cứu 13
9.2. Phương pháp nghiên cứu 13
PHẦN 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. ĐA DẠNG THÀNH PHẦN ỐC CẠN Ở KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN COPIA
1. Thành phần loài ốc cạn ở KVNC 17
2. Một số nhận định về thành phần loài ốc cạn trong KVNC 40
3. So sánh mức độ đa dạng thành phần loài giữa KBTTN Copia với một số khu vực
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí các điểm thu mẫu 10
Bảng 1. Thời gian và các nội dung thực hiện 4
Bảng 2. Tổng hợp số loài ốc cạn ở Việt Nam đã thống kê được 6
Bảng 3. Thành phần chất dinh dưỡng trong thịt ốc núi (%) 7
Bảng 4. Thành phần loài, độ phong phú (%) của ốc cạn theo sinh cảnh, địa điểm thu
mẫu ở KBTTN Copia 17
Bảng 5. Cấu trúc thành phần ốc cạn giữa các phân lớp ở KVNC 40
Bảng 6. Thành phần loài ốc cạn ở KBTTN Copia và một số KV khác 44
Bảng 7. Mức độ tương quan về thành phần loài ốc cạn giữa KBTTN Copia với một
số KV khác 49
Bảng 8. Số lượng giống, họ, loài ốc cạn phân bố theo sinh cảnh ở khu vực nghiên
cứu 51
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Độ phong phú của các họ ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 42
Biểu đồ 2. Tương quan số lượng loài trong các họ ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 43
Biểu đồ 3. Số lượng loài ốc cạn giữa các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu… ….49
Biểu đồ 4. Số lượng giống và loài của các họ ốc cạn tại sinh cảnh rừng 52
ở khu vực nghiên cứu 52
Biểu đồ 5. Số lượng giống và loài các họ ốc cạn tại sinh cảnh rừng trên núi đá vôi ở
khu vực nghiên cứu 53
Biểu đồ 6. Số lượng giống, loài các họ ốc cạn tại sinh cảnh đất trên nền rừng ở khu
ở Tây Ninh: Cyclophorus anmiticus và Cyclophorus martensianus, có hàm
lượng protein lên tới 57,94%, 34,34% [6].
Trong y học, ốc còn được dùng làm dược liệu, chữa được rất nhiều bệnh
như: chữa mụn, chữa vết cắn [34].
Bên cạnh những lợi ích mà ốc cạn mang lại, nhiều loài ốc cạn cũng là sinh
vật gây hại. Ốc sên (Achatina fulica) là kẻ thù lớn của ngành nông nghiệp,
2
chúng phá hoại nghiêm trọng cây trồng, rau màu… làm giảm thu nhập của bà
con nông dân. Ngoài ra, kí sinh trùng Angiostrongylus cantonensis trong ốc sên
đã tấn công vào não, gây biến chứng viêm màng não nặng khiến 2 người dân ở
TP. Hồ Chí Minh phải nhập viện trong tình trạng hôn mê sâu [35].
Tuy có số lượng lớn, ý nghĩa thực tiễn lớn như thế, nhưng nghiên cứu về
ốc cạn ở nước ta vẫn còn rất hạn chế, một số công trình nghiên cứu của các tác
giả nước ngoài được tiến hành từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX như
Bavay, Dautzenberg và một vài công trình lẻ tẻ gần đây như của Maassen và
E. Gittenberger (2001), Vermeulen và Maassen (2003), Maassen (2006),
Maassen và Gittenberger (2007) [18,24,25].
Các kết quả điều tra thống kê cho thấy ở Việt Nam đến nay đã phát hiện
776 loài ốc cạn thuộc 2 phân lớp: ốc Mang trước (Prosobranchia) và ốc Có phổi
(Pulmonata) [18]. Với thành phần loài ốc cạn đã biết, hầu như chỉ thu thập được
ở một số vùng núi phía Bắc, một phần vùng núi phía Nam và một số đảo. Trong
các hệ sinh thái mà các tác giả trước đây đã từng nghiên cứu, phần lớn là các hệ
sinh thái rừng trên núi đá vôi có độ đa dạng cao, tuy nhiên cho đến nay những
nghiên cứu về ốc cạn ở hệ sinh thái này còn rất ít. Như vậy chắc chắn số lượng,
thành phần loài còn lớn hơn nhiều.
KBTTN Copia là khu vực núi đá vôi điển hình ở phía Bắc Việt Nam, còn giữ
được nhiều đặc điểm của rừng tự nhiên và là môi trường sống lí tưởng của nhiều
loài ốc cạn. Các nghiên cứu và dẫn liệu về ốc cạn ở KV này sẽ góp phần quan
trọng trong thống kê thành phần loài, điều tra đa dạng sinh học. Tuy nhiên cho tới
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của ốc cạn tại KBTTN Copia.
5. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này được tiến hành ở KBTTN Copia, tỉnh Sơn La.
KBTTN Copia có diện tích khá rộng, tuy nhiên đề tài cứu ở tập trung nghiên
cứu ở 3 sinh cảnh chính là: rừng, rừng trên núi đá vôi, đất trồng trên nền rừng.
Đề tài sắp xếp các đơn vị theo hệ thống phân loại của Schileyko (2011) [27].
Tổng số mẫu nghiên cứu gồm 2.688 cá thể. Ngoài ra đề tài còn sử dụng và
đối chiếu với các mẫu ốc cạn của Đỗ Đức Sáng thu tại KBTTN Copia từ tháng
5/2009 đến tháng 3/2013.
4
Các số liệu trong đề tài được tổng kết trên cơ sở những dẫn liệu nghiên cứu từ
06/2013 đến 05/2014. Thời gian thực hiện đề tài được phân bố cụ thể như sau:
Bảng 1. Thời gian và các nội dung thực hiện
Thời gian
Nội dung thực hiện
06/2013
Thu thập, nghiên cứu tài liệu
06/2013 - 01/2014
Tiến hành các đợt thu mẫu
Phân tích và định loại mẫu vật
Phân tích và xử lý số liệu
02, 03/2014
Phân tích và xử lý số liệu
Kiểm tra lại danh sách thành phần loài
03/2014 - 05/2014
Viết và báo cáo đề tài
6. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài
- Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học mới có tính hệ thống về thành
(1848, 1863); Morlet (1886, 1891, 1892); Dautzenberg et Hamonville (1887);
Ancey (1888); Dautzenberg (1893); Bavay et Dautzenberg (1899, 1908, 1909);
Mollendroff (1901), nghiên cứu một số địa danh ở vùng núi phía Bắc nước ta
như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn [18].
Từ những năm 1900 đến hết chiến tranh Việt Nam 1975, việc nghiên cứu
ốc cạn ở Việt Nam và các vùng Đông Dương hầu như bị ngừng trệ, trừ một
số ít công trình khảo sát kết hợp địa chất ở các đảo Hoàng Sa (Paracel), đảo
Bạch Long Vĩ (Saurin, 1950; Varga, 1963). Các công trình này đã thống kê
được 103 loài, trong đó bổ sung 82 loài cho khu hệ ốc cạn ở Việt Nam với
nhiều loài mới [18].
Sau chiến tranh rất lâu, ốc cạn ở phía Bắc tiếp tục được nghiên cứu với một
số công trình của các tác giả người nước ngoài. Năm 2003, Vermeulen và
Maassen đã khảo sát thành phần loài và KV phân bố của ốc cạn ở một số KV
phía Bắc như Pu Luông (Thanh Hóa), Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ Lý (Hà
Nam), Hạ Long, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng); đã công bố 259
loài, trong đó có 246 loài bổ sung cho số loài đã được công bố, phân lớp Mang
trước có 73 loài, ốc Có phổi 186 loài [28]. Đáng chú ý là có 120 loài còn chưa
6
xác định được vị trí phân loại, có thể là loài mới cho khoa học. Năm 2006, Wim
J. M. Maassen công bố 4 loài ốc mới (Arinia angduensis, Arinia loumboensis,
Eotrobilops infrequens, Hemiplecta esculenta) [24].
Năm 2007, W. J. M.
Maassen và E. Gittenberger đã công bố 3 loài ốc cạn mới (Leotacme cuongi,
Oospira duci, Atraophaedusa smithi) thuộc họ Clausiliidae ở phía Bắc Việt
Nam [25]. Năm 2010 - 2011, Đỗ Văn Nhượng và cộng sự đã bước đầu cung cấp
dẫn liệu ốc cạn tại KV Tam Đảo, Vĩnh Phúc (29 loài) [2, 8]; xóm Dù thuộc
vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ (44 loài) [4]; núi đá vôi Sài Sơn, Quốc Oai,
259
246
Vermeulen et Maassen, 2003 [18]
Tổng số
810
776 7.1.2. Nghiên cứu về hệ thống phân loại
Nghiên cứu về ốc cạn ở Việt Nam theo hướng này còn rất hạn chế, nổi bật
nhất có công trình của Schileyko (2011). Schileyko khi tu chỉnh về hệ thống
7
phân loại của Phân lớp Có phổi đã thống kê được ở Việt Nam có 477 loài và
phân loài, 96 giống, 20 họ [27]. Mỗi loài (phân loài) được thống kê gồm mô tả
gốc, synonymy, kích thước vỏ và dữ liệu vùng phân bố, kèm theo bản đồ và tọa
độ địa lý. Đây là tài liệu rất có giá trị trong việc sắp xếp các đơn vị theo hệ
thống phân loại mới. Theo tài liệu này, có 1 số giống mới được hình thành từ
phân giống, nhiều loài mới được hình thành.
Với những phương pháp nghiên cứu hiện đại, đặc biệt là sự đổi mới rất
nhiều về tiêu chuẩn phân loại cũng như danh pháp phân loại của ốc cạn thế giới,
những kết quả thu được cho thấy triển vọng nghiên cứu về thành phần ốc cạn ở
Việt Nam.
7.1.3. Nghiên cứu ứng dụng
Các nghiên cứu về ứng dụng của ốc cạn đã và đang được tiến hành, tuy
nhiên số lượng nghiên cứu theo hướng này còn hạn chế. Một trong những
nghiên cứu nổi bật, được đánh giá cao là nghiên cứu của các tác giả Nguyễn
Xuân Đồng, Nguyễn Quý Tuấn, Hoàng Đức Đạt. Năm 2005, các tác giả đã đề
cập đến 2 loài ốc núi: Cyclophorus anmiticus, Cyclophorus martesianus đang
được dùng làm thực phẩm ở núi Bà Đen, Tây Ninh. Qua quá trình phân tích các
chỉ tiêu vi sinh vật thì chưa tìm thấy một loài kí sinh nào kí sinh trên cơ thể ốc
hoa, thêm ít nước, phết lên giấy, để chừa một lỗ nhỏ, đắp chữa mụn, lở mọc ở
da. Dùng thịt 2 con ốc sên hoa, nướng vàng, thái nhỏ, nấu lấy nước đặc, trộn với
măng tre (50g) đã giã nát, ép lấy nước cốt, uống 1- 2 lần/ngày để chữa hen
suyễn, thấp khớp. Có thể làm dạng viên ngậm: gồm thịt ốc sên hoa và ô mai,
lượng hai thứ bằng nhau, dùng trong cổ họng sưng đau, khó nuốt. Dùng nhớt ốc
sên hoa (đó là lớp chất nhày bao bọc toàn thân ốc sên trong vỏ cứng) để chữa
vết cắn, do chất nhày này có tính kiềm nên trung hòa tính acid của nọc rết, làm
dễ chịu, giảm đau [33].
Như vậy, ốc cạn không những có giá trị dinh dưỡng rất lớn mà còn có giá
trị cao về mặt y học. Ngoài những giá trị đó, chắc chắn ốc cạn còn có nhiều giá
trị ứng dụng khác mà chúng ta chưa khai thác hết. Vì vậy cần có nhiều nghiên
cứu sâu hơn về ứng dụng của ốc cạn trong đời sống cũng như sản xuất.
7.2. Ở Sơn La
Dẫn liệu về ốc cạn ở KV Tây Bắc, trong đó có tỉnh Sơn La được đề cập
đến trong một số ít công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như:
Morlet (1886, 1891, 1892), Dautzenberg et Hamonville (1887), Mabille (1887),
Dautzenberg (1893), Bavay et Dautzenberg (1899, 1900, 1901, 1903, 1908,
1909)… Một số địa điểm được nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Sơn La như: Mường
Bú (Mường La), Gia Phù (Phù Yên), Nhà tù Sơn La (thành phố Sơn La) [5]…
Schileyko đã xác định được 15 loài và phân loài thuộc các KV khảo sát:
Cao Pha (Mường La), Gia Phù (Phù Yên), Pa Khà (Mộc Châu), Chiềng Khoong
(Sông Mã) [27].
Đỗ Văn Nhượng và Trần Thập Nhất (2012) đã xác định được ở TP. Sơn La
có 74 loài và phân loài thuộc 49 giống, 19 họ, 2 phân lớp phân bố ở 3 sinh cảnh
chính là: rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đá granit và rừng trên đồi. Trong đó
9
sinh cảnh núi đá vôi có số loài và số cá thể phong phú nhất, chiếm 92,3% số
loài và 71% số cá thể; ít nhất là sinh cảnh đồi với số loài chỉ có 14,8% và 4,9%
số cá thể [16]. Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài ốc cạn ở khu vực
Sơn La khoảng 70 km về phía Tây với tổng diện tích 19.745 ha, gồm các xã Co
Mạ, Long Hẹ, Chiềng Bôm và Nậm Lầu (thuộc huyện Thuận Châu).
+ Phía Bắc giáp tiểu khu 245a, 242 và 243 thuộc xã Long Hẹ và Chiềng
Bôm. Phía Nam giáp 2 xã Chiềng Phung và Nậm Ti của huyện Sông Mã. Phía
Đông giáp tiểu khu 256, 265, 279 thuộc xã Nậm Lầu. Phía Tây giáp tiểu khu
246, 259, 271a thuộc xã Co Mạ [3, 7].
- Tọa độ địa lý:
KVNC có tọa độ địa lý là:
21
0
17
‟
30
‟‟
đến 21
0
25
„
54
‟‟
vĩ độ Bắc.
103
0
32
‟
00
‟‟
đến 130
0
44
ẩm trung bình 85% (bình quân tối cao 90%, bình quân tối thấp 70%).
KBTTN Copia do ảnh hưởng của gió mùa Đông - Bắc nên nhiệt độ bị khô
hanh, vào tháng 3 - 4 còn bị ảnh hưởng gió Lào nóng và rất khô [7].
- Sinh vật
Về thực vật: Theo kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Huệ và những người
khác, 2009 đã xác định được tại KBTTN Copia có 609 loài thực vật bậc cao
thuộc 406 chi của 149 họ trong 5 ngành thực vật [7].
KBTTN Copia trước đây
có các thảm thực vật nguyên sinh đặc trưng: rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá
kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp (phân bố từ 1.700m trở lên); rừng kín lá rộng
thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp (phân bố từ 700 - 1.700m); rừng kín
thường xanh mưa nhiệt đới (phân bố từ 700m trở xuống).
Nhưng tất cả các kiểu rừng này đã bị tác động mạnh, diễn ra liên tục, lâu
dài đã làm cho hệ thực vật ở đây thay đổi hoàn toàn, ngay cả những KV trên
1.700m cũng bị mất dần tính nguyên sinh. Có thể khẳng định sự thay đổi này
chịu sự tác động nặng nề bởi yếu tố con người [3].
Tuy nhiên thành phần thực vật đặc trưng vẫn còn thể hiện ở các kiểu thảm
thực vật khác nhau. Từ độ cao 800m trở lên tới 1.821m ta vẫn gặp 2 kiểu rừng
12
kín vùng cao: Rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp
và Rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp [7].
Ngoài hai kiểu rừng trên còn có các kiểu rừng sau:
+ Rừng thứ sinh: kiểu rừng này chiếm diện tích lớn, là thảm thực vật có
giai đoạn phát triển khác nhau của diễn thế thứ sinh, gồm những KV canh tác
nương rẫy hay do cháy rừng, có thành phần thực vật phát triển lại từ 7 - 10 năm.
Có thể phân thành 3 loại rừng thứ sinh: rừng thứ sinh nghèo kiệt do khai thác;
13
8.2. Điều kiện xã hội
- Dân số
Theo thống kê của các xã trong khu bảo tồn, trong năm 2011 dân số cụ thể
như sau:
+ Xã Long Hẹ có 19 bản trong đó có 14 bản là dân tộc Mông, 4 bản là dân
tộc Kháng và 1 bản là dân tộc Thái, tổng dân số là 3.646 nhân khẩu thuộc 615
hộ (chiếm 21,4%); dân tộc Thái 104 hộ (16,9%); dân tộc Khơ Mú 1 hộ (0,16%).
Trong năm 2011 toàn xã có 355/615 hộ nghèo, chiếm 57,72% [3].
+ Xã Co Mạ có 963 hộ với 5.608 nhân khẩu, có 3 dân tộc sinh sống là
Mông, Mường và Kháng. Tổng số hộ nghèo là 564/963 hộ, chiếm 58,5% [3].
+ Xã Chiềng Bôm có 1.081 hộ với 5.692 nhân khẩu, tỷ lệ gia tăng dân số
tự nhiên là 1,6%. Tổng số hộ nghèo là 507/1.081 hộ, chiếm 44,28% [3].
- Đời sống
Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp, nguồn thu chủ yếu là lương
thực và chăn nuôi. Tại KBTTN Copia thu nhập bình quân cho 1 người/năm
khoảng 240 kg (50% thóc và 50% cây lương thực khác) [3].
9. Phƣơng tiện và phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương tiện nghiên cứu
- Khi tiến hành nghiên cứu ngoài thực địa, cần chuẩn bị một số dụng cụ sau:
đèn pin, túi bóng các cỡ, ống nghiệm loại nhỏ, máy GPRS, rổ có lỗ kích thước
khác nhau, giấy can, bút chì, máy ảnh.
- Một số dụng cụ cần thiết khi nghiên cứu trong PTH như: kính hiển vi, thước
palme, panh kẹp, khay nhựa, kính lúp.
- Hóa chất: Dung dịch Ethanol 70
0
nhau. Sau đó mỗi phenon được tập trung phân tích ở đặc điểm hình thái ngoài.
Mẫu ốc được đo các chỉ số (chiều cao vỏ, chiều rộng vỏ, chiều rộng miệng,
chiều cao miệng, tỉ lệ chiều cao tháp ốc so với chiều cao vỏ ốc) bằng thước
palme, đơn vị tính bằng mm và tiến hành đếm số vòng xoắn của mẫu đem phân
tích. Sau đó mô tả mẫu về màu sắc, hình dạng, chiều xoắn, lỗ rốn, miệng ốc,
một số dặc điểm biến dị khác.
Các thông tin thu được sau khi phân tích mẫu được ghi lại trong nhật kí. 15
Phương pháp định loại
Đối với các mẫu ốc cạn, có rất nhiều dấu hiệu để định loại như: dựa vào đặc
điểm hình thái vỏ (màu sắc, kích thước, hình dạng, vòng xoắn, ) và đặc điểm
giải phẫu (cơ quan sinh sản, lưỡi bào). Tuy nhiên đề tài chỉ mới tập trung phân
tích, định loại dựa vào các dấu hiệu hình thái vỏ.
Mẫu được định loại dựa vào nguồn tài liệu của Schileyko (2011) [27], G.W.
Tryon (1885) [23, 24, 25]. Ngoài ra, mẫu được so sánh với bộ sưu tập của
Vermeulen (2003) thu ở Việt Nam, hiện được lưu tại Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật [28].
Để đảm bảo độ chính xác, kết quả định loại được kiểm tra lại dựa vào các
thông tin trên Internet và các chuyên gia (đặc biệt là các loài còn nhiều nghi
ngờ, có nhiều biến dị lớn).
Phương pháp xử lý số liệu điều tra
Các công thức áp dụng để xử lý số liệu [26]:
- Độ ưu thế: D = n
a
/ N
Trong đó: D: Độ ưu thế, n
a
: Số lượng cá thể của loài a, N: Tổng số cá thể
đới núi thấp; kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ẩm núi vừa; kiểu rừng thưa
cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp; quần hệ khô vùng cao; quần hệ lạnh
vùng cao [19].
Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng khi nghiên cứu đặc điểm phân bố của
các loài ốc cạn ở KBTTN Copia đã tiến hành phân chia theo 4 sinh cảnh chính:
rừng trên núi đá vôi, rừng thông, rừng trên đồi đất, đất canh tác [12].
Căn cứ vào cách phân chia của Vũ Tự Lập, Thái Văn Trừng, Đỗ Đức Sáng
và Đỗ Văn Nhượng cũng như mức độ tác động của con người đến môi trường
sống cùng với điều kiện thực tế thu mẫu, đề tài đã tiến hành phân chia sự phân
bố của ốc cạn ở KBTTN Copia theo 3 sinh cảnh chính: rừng, rừng trên núi đá
vôi, đất trồng trên nền rừng.
17
PHẦN 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. ĐA DẠNG THÀNH PHẦN ỐC CẠN Ở
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN COPIA
1. Thành phần loài ốc cạn ở KVNC
Tổng hợp kết quả nghiên cứu, đề tài đã xác định được 89 loài, 52 giống,
19 họ, 2 phân lớp. Các dẫn liệu trên được thể hiện trong bảng 4, 5:
Bảng 4. Thành phần loài, độ phong phú (%) của ốc cạn theo sinh cảnh, địa điểm
thu mẫu ở KBTTN Copia
TT
Taxon
Sinh cảnh (%)
Các điểm thu mẫu
Nguồn tư
Cyclophoridae Gray, 1847
19,47
19,6
17,94 1.
Alycaeus anceyi Mabille, 1887
0,33
0,39
x
M
2.
Alycaeus vanbuensis Smith, 1896
M
6.
Cyclophorus diplochius Mol., 1894
0,54
10,29 x
x
M
7.
Cyclotus sp.
0,12
1,55
x
M
8.
Dioryx pocsi Varga, 1972
0,65
0,90
x
x
x
TL
12
Japonia mariei (Morelet, 1886)
TL
13
Japonia scissimargo (Benson, 1856)
TL
14
Pterocyclos danieli Morlet, 1886
M
Diplommatinidae Pfeiffer, 1857
2,44
0,39
18.
Diplommatina electa (Fulton, 1905)
1,95
0,39
x x
M
19.
Diplommatina rotundata Saurin, 1935
0,49 x
x
M
Pupinidae Pfeiffer, 1853
1,95
8,37
21.
Pseupomatias sp.
0,65
5,8
x
x
M
22.
Pseupomatias fulvus Mol., 1901
0,05
1,03
x
x
Bộ STYLOMMATOPHORA Aschmidt, 1855
Achatinellidae 25.
Elasmias manilanse (Dohrn, 1863)
27.
Elaphroconcha hageni (Weber, 1966)
2,44
2,58
2,94 x
x
M
28.
Euplecta acuducta (Benson, 1850)
TL
29.
Hemiplecta humphreysiana (Lea, 1841)
TL
33.
Macrochlamys despecta (Mabille, 1887)
15,02
7,35
x
M
34.
Macrochlamys dovillei D. & Fischer, 1906
TL
35.
Mac. hippocastaneum (Godwin-Austen, 1918)
x
M
39.
Microcystina tongkigensis Moll, 1901
0,11 x
M
Bradybaenidae Pilsbry, 1939
4,34
11,47
5,88 40.
Aegista packhaensis (Bavay et Daut., 1908)
0,49
x
M
44.
Plectotropis gitaena (Bavay et Daut., 1908)
1,52
0,26
x
x
M
45.
Plectotrppis subinflexa (Mabille, 1889)
2,17
8,25
x x
M
Buliminidae
x
x
M
48.
Amphidromus pervariabilis B. et D., 1909
TL
49.
Camaena vanbuensis Smith, 1896
2,49
17,91
10,29
x
x
x
M
50.
Chloritis deliciosa Pfeiffer, 1862 TL
54.
Camaena sp.
0,11 x
M
55.
Coniglobus albidus (H. Adam, 1870)
TL
56.
Ganesella sp.
0,05
x
M
Clausilidae Morch, 1864
1,90
60.
Hemiphaedusa billeti Fischer, 1898
0,11 x x
M
61.
Heudiella olivieri Annandale, 1924
x
M
Enidae Wood ward, 1903
0,27
65.
Buliminus tenuistrianus Daut. Et Fischer, 1908
0,27 x x
M
Euconulidae Baker, 1928
0,05
TL
Glessulidae Godwin - Austen, 1920
2,55
2,45
69.
Glessula paviei Morlet, 1892
2,55
2,45
x
x
x
M
Hypselostomatidae Zilch, 1959
0,54
x
M
Streptaxidae J. Gray, 1860
0,97
1,55
72.
Sinoennea hippocrepis (B. et D., 1912)
TL
73.
Haploptychius diespiter (Mabille, 1887)
0,27
1,03
M
76.
Allopeas gracile (Hutton, 1834)
TL
77.
Opeas javanicum (Reeve, 1849)
TL
78.
Leptinaria unilamellata (D Orbiny, 1835) TL
82.
Lamellaxis clavulimus (Potier et Michaud, 1838)
0,16 x
M
83.
Lamellaxis gracillis (Hutton, 1834)
0,11
0,26
x
x
M
84.
Stenogyra sp.
10,75
5,12
x 87.
Videna sapeca Heude, 1890
TL
88.
Videna timorensis (Martens, 1867)
1,13
1,80
x
x
M
89.
Videna sp.
0,49
0,77
x