BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI PHÙNG THỊ THANH CHÀ
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ XÍT BẮT MỒI
TRÊN ðẬU RAU; ðẶC ðIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA LOÀI SYCANUS CROCEOVITTATUS
DOHRN VỤ XUÂN HÈ 2010
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số :60.62.10
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành luận văn trước hết tôi xin chân thành cảm ơn GS. TS. Hà
Quang Hùng ñã trực tiếp hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và viết luận văn tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các
cán bộ công nhân viên khoa Nông học, Viện ðào tạo sau ðại học trường ðHNN
Hà Nội, những người ñã giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS. Trương Xuân Lam, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật, và nhiều bạn ñồng nghiệp khác ñã giúp ñỡ tôi trong suốt quá
trình hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia ñình, bạn bè, những người ñã ñộng viên, giúp ñỡ
tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian hoàn thành báo cáo.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2010
Học viên
Phùng Thị Thanh ChàTrường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
iii
MỤC LỤC
Chương 1 MỞ ĐẦU........................................................................................... 1
4.5.1 Trứng ...................................................................................................... 37
4.5.2 Ấu trùng .................................................................................................. 37
4.5.3 Trưởng thành........................................................................................... 38
4.6 Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài BXCNĐBM (S. croceovittatus Dohrn)
tại Gia Lâm, Hà Nội vụ xuân – hè 2010 ........................................................... 41
4.6.1 Vòng ñời bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn)............. 41
4.6.2 Sức ñẻ trứng của bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn). 43
4.6.3 Tỷ lệ trứng nở của bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn).........43
4.6.4 Tỷ lệ giới tính của bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn)46
4.6.5 Tỷ lệ sống sót của bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn)46
4.6.6 Sự lựa chọn thức ăn của trưởng thành BXCNðBM (S. Croceovittatus Dohrn) .47
4.6.7 Khả năng tiêu thụ vật mồi của bọ xít cổ ngỗng ñen bắt mồi S.
croceovittatus Dohrn........................................................................................ 48
4.7 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi S.
croceovittatus Dohrn........................................................................................ 51
4.8. Bước đầu đề xuất biện pháp bảo vệ, lợi dụng các loài bọ xít bắt mồi trong
phòng chống sâu hại đậu rau vùng nghiên cứu ................................................. 53
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................... 55
5,1. Kết luận.................................................................................................... 55
5.2. ðề nghị...................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ 57
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 63
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 6: Diễn biến mật độ sâu khoang và bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi trên đậu
trạch tại Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội vụ xuân hè 2010...................................... 36
Bảng 7: Kích thước cơ thể các pha phát dục loài bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi
(S. croceovittatus Dohrn) ................................................................................. 41
Bảng 8: Vòng đời của bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi (S. croceovittatus Dohrn).. 42
Bảng 9: Khả năng đẻ trứng của trưởng thành loài bọ xít cổ ngỗng đên bắt mồi
(S. croceovittatus Dohrn) ................................................................................. 44
Bảng 10: Tỷ lệ trứng nở của BXCNĐBM S. croceovittarus Dohrn .................. 45
Bảng 11: Tỷ lệ giới tính của bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi S. croceovittarus Dohrn.......46
Bảng 12: Tỷ lệ sống sót của bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi S. croceovittarus Dohrn.......47
Bảng 13: Sự lựa chọn thức ăn của trưởng thành BXCNĐBM S. Croceovittatus Dohrn48
Bảng 14: Khả năng chích hút sâu khoang của bọ xít cổ ngỗng đen S. croceovittatus Dohrn.50
Bảng 15: Khả năng chích hút vật mồi của trưởng thành bọ xít cổ ngỗng đen bắt
mồi với các loại vật mồi khác nhau. ................................................................. 50
Bảng 16: Ảnh hưởng của 3 loại thuốc bảo vệ thực vật đến tỷ lệ sống sót của
BXCNĐBM ..................................................................................................... 52
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1:Quan hệ giữa giai đoạn sinh trưởng – sâu khoang – 5 loài BXBM trên
đậu trạch tại Gia Lâm, Hà Nội vụ xuân – hè 2010............................................ 32
Hình 2: Quan hệ giữa sâu khoang và 5 loài BXBM phổ biến trên đậu trạch..... 32
tại Đa Tốn vụ xuân – hè 2010........................................................................... 32
Hình 3: Quan hệ giữa sâu khoang và 5 loài BXBM phổ biến trên đậu trạch tại
Đặng Xá vụ xuân – hè 2010 ............................................................................. 33
thương phẩm và hạn chế diện tích gieo trồng.
Để phòng trừ các loài sâu hại đậu đỗ nói chung, sâu hại đậu rau nói riêng chúng
ta đã sử dụng rất nhiều biện pháp như: kỹ thuật canh tác, vật lí cơ giới, sử dụng giống
chống chịu, sinh học…. Đặc biệt biện pháp hoá học được sử dụng rộng rãi và thể hiện
tính ưu việt cao, nó dập tắt nhanh chóng số lượng sâu hại nguy hiểm trên đậu rau và
cây trồng. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thuốc hoá học lại có tác dụng tiêu cực
là gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng có hại đến sức khoẻ con người. Quan trọng hơn
thuốc trừ sâu còn có thể tiêu diệt nhiều loài thiên địch, một mắt xích quan trọng của
các hệ sinh thái nông nghiệp dẫn đến sự đảo lộn làm mất những mối cân bằng sinh thái
trong tự nhiên, tạo ra tính kháng thuốc của nhiều loài dịch hại, gây ra hiện tượng tái
phát quần thể của một số loài sâu hại dẫn đến một số loài sâu hại thứ yếu trở thành chủ
yếu. Để khắc phục những vấn đề nêu trên, ở nước ta cuối thế kỷ XX các nhà khoa học
đã nghiên cứu và khuyến cáo việc sử dụng biện pháp quản lí cây trồng tổng hợp
(IPM), trong đó bảo vệ cây trồng bằng cách sử dụng các loài thiên địch để khống chế
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
2
số lượng các loài dịch hại được chú trọng hơn cả. Lấy biện phát sinh học làm nòng cốt
những năm gần đây, có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu sử dụng các
loài thiên địch trong phòng trừ sâu hại nói chung và sâu hại đậu rau nói riêng và tìm ra
những những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm tối thiểu ô nhiễm môi trường mà vẫn
đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo sản phẩm nông nghiệp an toàn.
Xuất phát từ xu hướng trên, được sự phân công của Khoa Nông học, Viện Đào
tạo Sau đại học và hướng dẫn của GS.TS.NGUT. Hà Quang Hùng chúng tôi tiến hành
đề tài: "Nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi trên ñậu rau, ñặc ñiểm sinh học,
sinh thái của loài Sycanus croceovittatus Dohrn vụ xuân hè 2010 tại Gia Lâm, Hà
Nội"
1.2 Mục ñích và yêu cầu
+ Cung cấp những dẫn liệu về hình thái, sinh học, sinh thái học của loài
BXCNĐBM (Sycanus croceovittatus Dohrn) cho người nông dân, cán bộ kỹ thuật và
nhà quản lý nhận biết chúng, hiểu vai trò của chúng trong điều hòa số lượng sâu hại
trên đậu rau.
+ Cơ sở khoa học để đề suất biện pháp duy trì, bảo vệ, lợi dụng chúng trong quản
lý tổng hợp sâu hại trên cây đậu rau nói riêng và trên hệ sinh thái nông nghiệp nói
chung ở vùng nghiên cứu.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
4
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1 Thành phần BXBM trên rau và ñậu rau
Việc nghiên cứu về thành phần loài các loài bọ xít bắt mồi như: phân loại, mô
tả, xây dựng khoá định loại và ghi nhận những loài mới, cũng như những nghiên cứu
về hình thái, sinh học và sinh thái học đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên
cứu và đề cập .
Theo G. Giacchi J. et al., (1983) [28] loài mới Oncocephalus quadrivittatus ở
Nicaragua đã được mô tả, minh họa và so sánh với những loài có quan hệ ở nhóm đã
được phân loại. Khóa định loại của 43 loài thuộc 11 giống của họ phụ Harpactorinae
(Heteroptera: Reduviidae) đã được đưa ra. Những sự biến đổi có ý nghĩa ở râu đầu,
chuỷ, đầu, mảnh lưng trước, mảnh mai và chi kiểu xếp lông cứng đã được quan tâm
trong khi xây dựng khoá định loại. (G. Ravichandran et al.,) (1992) [41]. Ở Hàn Quốc
đã bổ sung và sửa chữa trong danh sách những loài thuộc phụ bộ côn trùng Cánh khác
(Heteroptera) (Lee et al., 1991). Trong những loài đã được ghi nhận có 35 loài là mới
ở Hàn Quốc và 63 loài là mới ở Nam Hàn Quốc, 2 loài là synonym như Oncophalus
assimilis Reuter, 1882 = O. misellus Dispons, 1968; O. simillimus Reuter, 1888 = O.
có 3 loài mới là: Sphedanolestes rubripes, S. quadrinotatus và S. xiongi được thu thập
tỉnh Yún Nán và được mô tả, minh họa (Wanzhi Cai et al.,) (2004) [24]. Giống một
kiểu mới Cosmosycanus được công nhận là Agriosphodrus perelegans Breddin, 1903.
Giống này có thể tách ra từ giống Agriosphodrus Stal, 1867 bởi đầu dài hơn nhiều so
với mảnh lưng trước và thuỳ sau thuộc mảnh lưng trước không có chỗ lõm ở giữa,
giống mới này cũng được phân biệt từ giống Sycanus Amgot và Serville, 1843 bởi
mảnh lưng trước nhẵn không xương sống và không có mấu nhỏ ở mảnh mai (Tadashi
Ishikawa et al.,) (2004) [31].
Tadashi Ishikawa et al., (2005) [29] công bố 6 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ
Reduviidae lần đầu tiên ở Nhật Bản đó là: Ploiaria zhengi Cai et Yiliyar, 2002
(Emesinae), Peirates atromaculatus (Stồl, 1871) (Peiratinae), Caunus noctulus Hsiao,
1977, Oncocephalus impudicus Reuter, 1882, Sastrapada robustoides P. V. Putshkov,
1987 (Stenopodainae) và Coranus spiniscutis Reuter, 1881 (Harpactorinae). Các loài
thuộc giống Duriocoris Miller, 1940 ở Trung Quốc được nghiên cứu lại với 2 loài
được công nhận, mô tả và minh họa, loài Duriocoris geniculatus được mô tả như một
loài mới và khoá định loại cho 3 loài của giống này đã được xây dựng. (Yonglin Han, et
al.,) (2005) [48]. Ping Zhao et al., (2006) [40] phát hiện loài Maldonadocoris annulipes
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
6
Zhao, Yuan & Cai, là loài mới thuộc họ phụ Harpactorinae ở Trung Quốc và mô tả, minh
họa với mẫu chuẩn được lưu giữ ở bảo tàng côn trùng học của trường Đại Học Nông
Nghiệp Bắc Kinh, Trung Quốc. Loài Platerus pilcheri Distant, 1903 được công bố lần đầu
tiên ở Trung Quốc và mô tả, minh họa với một khoá định loại xây dựng cho giống này
(Ping Zhao et al.,) (2006) [39].
Theo Ishikawa T. et al., (2006) [34] loài mới thuộc họ Reduviidae của giống
Oncocephalus được mô tả ở Nhật Bản dưới cái tên O. heissi. Loài này rất dễ phân biệt
với nhóm cùng giống của nó bởi sự kết hợp của những đặc điểm dưới đây: màu nâu
những quả trứng đầu tiên là 11,66 ± 0,88 ngày sau khi lột xác thành dạng trưởng
thành. Một con cái đẻ trung bình 50,0 ± 5,4 quả trứng. Số % trứng nở là 81,45 ± 4,66.
Thời kỳ thiếu trùng biến đổi từ 42 - 68 ngày. Khoá định loại cho số tuổi của thiếu
trùng được chuẩn bị cho sự giám định của chúng. Tỷ lệ chết cao nhất ở thiếu trùng
được quan sát là ở thiếu trùng tuổi 2. con cái trưởng thành sống lâu hơn con đực. Tỷ lệ
giống thì con cái có độ lệch ổn định.
Vật mồi ưa thích của con trưởng thành Rhynocoris kumarii Ambrose và
Livingstone là dịch hại trên cây bông, như sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner,
sâu khoang Spodoptera litura Fabricius và sâu róm Euproctis mollifera Thunberg
được phân tích bởi các thí nghiệm lựa chọn. Mức độ ưa thích là con mồi H. armigera ,
sau đó đến S. litura và cuói cùng là E. mollifera. Cỡ vật mồi hay giai đoạn ưa thích của
các giai đoạn sống của loài R. kumarii đến các gian đoạn của 3 loài dịch hại côn trùng
trên cây bông được nghiên cứu dưới điều kiện phòng thí nghiệm bởi các thí nghiệm
cho thấy: Tuổi 1 ưa thích vật mồi là loài H. armigera có kích thước dài hơn 0,1 - 0,5
cm. Tuổi 2 và 3 thích vật mồi có kích thước 0,1 - 0,5 cm và 0,6 - 1,0 cm, trong khi đó
tuổi 4 và con trưởng thành đực thì thích vật mồi là ấu trùng của loài H. armigera cỡ
1,1 - 1,5 cm. Tuy nhiên, trưởng thành cái lại ưa thích ấu trùng ở nhóm có chiều dài 1,5
- 2,5 cm và cả ấu trùng ở các cỡ khác của loài H. armigera. Tuổi 1 thích ấu trùng của
loài S. litura ngắn hơn 1,0 cm, trong khi tuổi 2 thích ấu trùng dài 0,1 - 1,0 cm cho đến
1,1 - 1,5 cm. Tuổi 3 và 4 thích ấu trùng dài 0,1 - 2,0 cm và cỡ ưa thích của tuổi 5 và
trưởng thành là nhóm từ 0,6 - 2,5 cm. Tuổi 1 thích ấu trùng của loài E. molifera ở nhóm
có chiều dài 0,6 - 1,0 cm trong khi tuổi 2 và 3 thích từ 0,6 - 1,0 cm cả các nhóm 1,1 - 1,5,
0,1 - 0,5 và 1,6 - 2,0 cm. Tuy nhiên trưởng thành đực và cái thì thích ấu trùng cỡ 1,6 - 2,0
cm và 2,1 - 2,5 cm của loài E. molifera. (M. Anto Claver et al.,) (2002) [34 ].
Theo Luis Cervantes Peredo (2002) [38] chu kỳ sống của loài Pachycoris klugii
trên vật mồi của chúng là loài Cnidoscoulus multilobus (Euphorbiaceae) đã được công
bố chi tiết lần đầu tiên. Mô tả và minh hoạ bằng hình ảnh được trứng, ấu trùng và con
trưởng thành. Sự biến đổi tổng quát được quan sát trên màu sắc mẫu của con trưởng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
8
al., (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của 5 loại thuốc hoá học (Monocrotophos,
Dimethoate, Methylparathion [Methyl- Parathion], Quinalphos và Endosulfan) lên loài
bọ xít bắt mồi Rhynocoris kumarii (họ Reduviidae). Kết quả cho biết loại thuốc hoá học
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
9
Methylparathion ảnh hưởng đến thiếu trùng tuổi 3 và trưởng thành của loài bọ xít
Rhynocoris kumarii. So với các loại thuốc kể trên thì thuốc Endosulfan làm ảnh hưởng ít
nhất tới số lượng thiếu trùng cũng như con trưởng thành của loài bọ xít bắt mồi này [54].
2.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm bọ xít bắt mồi trong nước
2.2.1 Thành phần BXBM trên rau và ñậu rau
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu côn trùng bắt mồi có ích trên các cây trồng đã
được thực hiện trong nhiều năm qua. Nhưng những nghiên cứu có tính chất hệ thống
và đầy đủ về nhóm bọ xít bắt mồi thì chưa được quan tâm đúng mức. Những nghiên
cứu về thành phần loài được một số tác giả quan tâm như:
Giống bọ xít bắt mồi Sycanus ở Việt Nam khá phong phú về thành phần loài,
chúng đã được ghi nhận 9 loài thuộc. trong đó có 2 loài Sycanus bifidus Fabr., Sycanus
pyrrhomelas Walk. được nhắc tới lần đầu tiên và loài Sycanus sp. (thu được ở Hoà
Bình chưa được định tên) được mô tả chi tiết lần đầu ở Việt Nam. (Đặng Đức Khương
và cộng sự ) (2001) [11]. Trên cây đậu tương và đậu rau họ bọ xít bắt mồi Reduviidae
khá phong phú về thành phần loài (12 loài). Riêng 2 tỉnh miền núi Hoà Bình và Sơn La
có số loài bọ xít bắt mồi nhiều nhất. Còn ở Bắc Ninh mới chỉ điều tra được có 2 loài.
Trong 12 loài thu được trên cây đậu tương 4 loài có tần xuất bắt gặp cao nhất bao gồm:
Coranus fuscipennis, Coranus obscurus, Sycanus croceovittatus và Sycanus falleni. ở
Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh không thấy xuất hiện 2 loài thuộc giống Sycanus, trong khi
đó ở 2 tỉnh miền núi là Hoà Bình và Sơn La vị trí số lượng của 2 loài này khá cao
nhưng có mối liên hệ ngược. (Trương Xuân Lam và cộng sự) (2001) [19].
Theo Vũ Quang Côn và cộng sự (2001) [2], trong nghiên cứu bước đầu về
Sirthenea nigra cũng được mô tả. (Wanzhi Cai et al.,) (2004) [26]. Theo Tadashi
Ishikawa et al., (2004) [30], Parendochus gracilis là một loài mới thuộc họ phụ
Harpactorine thuộc giống bọ xít bắt mồi Parendochus được mô tả ở Việt Nam như là
thành viên thứ 2 của giống này. Bốn loài thuộc giống Epidatus Stal ở Việt Nam được
công nhận và định tên. Loài Epidatus sexspinus Hsiao và Epidatus longispinus Hsiao
được công bố lần đầu tiên ở Việt Nam. Loài mới Epidatus bachmanensis Truong,
Zhao & Cai được mô tả. Vẻ ngoài của lưng, đầu và mảnh lưng trước, bộ phận sinh dục
đực và những đặc điểm hình thái đặc trưng của những loài mới này được minh hoạ
bằng hình ảnh. (Truong Xuan Lam et al.,) (2006) [43].
Tại các điểm nghiên cứu thuộc Vườn Quốc Gia Tam Đảo đã thu thập được 38
loài bọ xít ăn sâu Reduviidae thuộc 9 phân họ, trong đó: Harpactorinae có 22 loài,
Stenopidainae có 4 loài, Reduviidae có 3 loài; Echtrichodiinae, Peiratinae và
Salyaratinae có 2 loài, các phân họ còn lại có 1 loài. Trong đó có tới 34 loài có mặt ở
VQG Tam Đảo. (Vũ Quang Côn và cộng sự) (2004) [4].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
11
Có 19 loài bọ xít đỏ (Pyrrhocoridae - Heteroptera) thuộc 10 giống ở nước ta
công bố, trong đó bổ sung thêm 7 loài và 3 giống cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam.
Họ Pyrrhocoridae chỉ có 2 phân họ là Larginae và Pyrrhocoridae, thì ở Việt Nam có cả
2 phân họ này. (Đặng Đức Khương) (2005) [10]. Trong thành phần loài của nhóm bọ
xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae (Heteroptera) ở huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh ghi
nhận 7 họ bọ xít trong đó có 28 loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae thuộc 15 giống.
Trong đó ghi nhận mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam 4 loài gồm: Sirthenea
dimidiate Horvath, Lestomerus sp., Peirates leturoides Wolff và Ectomocoris
biguttulus Stal. (Trương Xuân Lam) (2005) [14]. 12 loài bọ xít ăn sâu thuộc phân họ
Peirarinae (Hemiptera: Reduviidae) được ghi nhận và có khoá định loại. 3 loài bao
gồm Sirthenea dimidiate Horvath, Peirates leturoides Wolff và Ectomocoris biguttulus
tuổi 4 là 10,93 ngày; tuổi 5 là 13,27 ngày; tỷ lệ sống trong quá trình nuôi trung bình
đạt được là 69,62 %.
Trương Xuân Lam (2002) [16], nghiên cứu bước đầu về loài bọ xít cổ ngỗng đỏ
Sycanus falleni Stal cho thấy: trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 28,5 - 30
0
C,
ẩm độ 79 - 82%): sau khi đạt đến tuổi 5 thiếu trùng của loài Sycanus falleni lột xác
thành con trưởng thành, sau đó con cái bắt đầu đẻ trứng sau 8 - 18 ngày. Một con cái
có thể đẻ từ 71 - 406 quả (trung bình: 173,77 ± 10,75 quả) trong suốt thời gian sống.
Trứng của loài Sycanus falleni phát triển từ 15 - 21 ngày (trung bình: 18,27 ± 0,52
ngày) thì nở và đạt tỷ lệ nở từ 68,38 – 80,51 % (trung bình: 73.,8 ± 1,01%). Thiếu
trùng của Sycanus falleni có 5 tuổi. Kích thước trung bình của thiếu trùng tuổi 1 là
2,79 ± 0,02 mm, tuổi 2 là 3,75 ± 0,01 mm, tuổi 3 là 5,81 ± 0,03 mm, tuổi 4 là 10,55 ±
0,06 mm và tuổi 5 là 14,11 ± 0,18 mm. Thời gian phát triển trung bình của thiếu trùng
tuổi 1 là 6,39 ± 0,44 ngày, tuổi 2 là 8,01 ± 0,42 ngày, tuổi 3 là 9,85 ± 0,41 ngày, tuổi 4
là 10,89 ± 0,56 ngày và tuổi 5 là 13,64 ± 0,62 ngày. Vòng đời của Sycanus falleni từ
61 - 89 ngày (trung bình: 79,09 ± 3,05 ngày).
Theo Vũ Quang Côn và cộng sự (2002) [1] thì trên vùng trồng bông ở Tô Hiệu
- Sơn La loài bọ xít ăn sâu nâu viền trắng A. spinidens có tần xuất bắt mồi sâu đo xanh
cao nhất (40,90%), sau đó đến sâu khoang (27,27%) và sâu xanh, sâu đo nâu và sâu cuốn
lá bông tương ứng là 18,18%; 9,09%; 4,57%. Một ngày loài A. spinidens (từ thiếu trùng
tới con trưởng thành) tiêu thụ sâu khoang trung bình là: 23,32 ± 2,54 con (tuổi 1,2); 17,55
± 2,60 con (tuổi 3), tiêu thụ sâu đo xanh (tuổi 2,3) trung bình 25,93 ± 2,71 con và giai
đoạn trưởng thành tiêu thụ thức ăn nhiều nhất trung bình 10,98 ± 1,12 con.
Sự xuất hiện và phát triển theo mùa của các loài bọ xít ăn sâu phổ biến trên một
số cây trồng tại vùng Tây Bắc Việt Nam xác định được: 3 loài bọ xít ăn sâu cổ ngỗng
đen Sycanus croceovittatus, bọ xít ăn sâu cổ ngỗng đỏ S. falleni và loài bọ xít đỏ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
13
0,15 ở Hoà Bình và 0,14 - 0,32 ở Sơn La). ở Sơn La loài Sycanus falleni có thời gian
phát triển đạt tới đỉnh cao trước loài Sycanus croceovittatus trung bình từ 20 - 25 ngày
và ở Hoà Bình thì muộn hơn trung bình từ 15 - 20 ngày. (Vũ Quang Côn và cộng sự)
(2007) [5].
Nghiên cứu về bọ xít hoa gai vai nhọn Cantheconidae furcellata (Wolff, 1801)
(Heteroptera: Pentatomidae) cho thấy nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
14
và sự sinh trưởng, phát triển của bọ xít hoa gai vai nhọn Cantheconidae furcellata
(Wolff): ở 200C, 82%RH, vòng đời là 46 - 53 ngày; ở 280C, 73%RH: 27 - 30 ngày, ở
điều kiện phòng thí nghiệm: 20 - 23 ngày. Chúng có phổ thức ăn rộng, chúng sử dụng
16 loài sâu hại thuộc 6 họ của 3 bộ côn trùng làm thức ăn. Thức ăn ưa thích nhất của
chúng là sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ và sâu róm bốn u vàng, trung bình 1
ngày 1 cá thể bọ xít hoa gai vai nhọn tiêu diệt từ 3 - 7 con sâu. Khả năng sinh sản của
chúng rất cao, từ một cặp bọ xít ban đầu sau 30 - 40 ngày sinh ra 200 - 389 bọ xít
trưởng thành. (Mai Phú Quý và cộng sự) (2008) [21].
Trong điều kiện thí nghiệm (nhiệt độ từ 28,5
0
C - 30
0
C và ẩm độ từ 79% - 82%)
2 loài bọ xít ăn sâu Sycanus falleni và Sycanus croceovittatus được nuôi bằng sâu
khoang Spodoptera litura cho thấy: trung bình 1 ngày loài S. falleni pha thiếu trùng ăn
từ 3 - 8 con, pha trưởng thành ăn từ 8 - 14 con; loài S. croceovittatus trung bình 1 ngày
pha thiếu trùng ăn từ 2 - 9 con, pha trưởng thành ăn từ 9 - 13 con. Khi nuôi bằng ngài
gạo Corcyra cephalonica cho thấy: trung bình 1 ngày loài S. falleni pha thiếu trùng ăn
trung bình hết 7,04 con/ngày, pha trưởng thành ăn trung bình hết 16,01 con/ngày; loài
[6].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...............
16
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU
3.1 ðịa ñiểm, thời gian nghiên cứu
+ ðịa ñiểm nghiên cứu:
- Phòng thí nghiệm Sinh thái Côn trùng Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông
học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Phòng côn trùng học thực nghiệm- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh
vật
- Cánh đồng trồng đậu rau xã Đa Tốn, Đông Dư, Đặng Xá - Gia Lâm -
Hà Nội
+ Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ vụ Xuân đến vụ Hè năm
2010.
3.2 ðối tượng, vật liệu nghiên cứu
+ ðối tượng nghiên cứu:
- Các loài BXBM trên đậu rau, đặc biệt là loài bọ xít cổ ngỗng đen bắt
mồi Sycanus croceovittatus Dohrn
- Các loại đậu rau được trồng ngoài sản xuất: đậu trạch, đậu cove xanh,
cove vàng, đậu đũa, ….
+ Vật liệu nghiên cứu:
+ Vợt côn trùng D = 35 cm, L = 70-80 cm.
+ Giá đựng ống nghiệm kích thước 40x30x15 cm.
+ Các khay to đựng hộp nuôi.
+ ống nghiệm với kích cỡ từ Φ =0.5 tới Φ = 5 cm.
- Xác định thành phần loài BXBM trên đậu rau tại điểm nghiên cứu và tần
suất xuất hiện các loài này trên đồng ruộng
- Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Sycanus
croceovittatusDohrn
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa 5 loại BXBM phổ biến và loài Sycanus
croceovittatus Dohrn với vật mồi là sâu khoang trên đậu trạch.
-Tìm hiểu ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến
BXCNĐBM.
- Bước đầu đề xuất biện pháp bảo vệ, lợi dụng các loài bọ xít bắt mồi
trong phòng chống sâu hại rau vùng nghiên cứu.