NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA ĐẾN SINH TRƯỞNG – PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG DƯA CHUỘT BẢN ĐỊA H’MÔNG TRỒNG TRONG VỤ XUÂN – HÈ 2012 TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI - Pdf 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA NÔNG HỌC
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA
ĐẾN SINH TRƯỞNG – PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG DƯA CHUỘT BẢN ĐỊA H’MÔNG TRỒNG
TRONG VỤ XUÂN – HÈ 2012 TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
Người hướng dẫn : TS. Trần Thị Minh Hằng
: ThS. Phạm Quang Thắng
Bộ môn : Rau - Hoa - Quả- ĐHNNHN
Người thức hiện : Trịnh Thị Huyền
Lớp : KHCT D - Khóa 53
Hà Nội – 7/2012
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, cũng như bạn bè cùng với gia đình.
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị
Minh Hằng – Phó khoa Nông Học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Cô
đã luôn đi cùng tôi trong suốt thời gian qua, tận tình hướng dẫn, đóng góp
những ý kiến quý báu và truyền thụ cho tôi kiến thức cùng tinh thần làm việc
hết mình giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, cán bộ Bộ môn Rau Hoa Quả -
Khoa Nông Học đã giúp đỡ, chỉ bảo kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi được học tập và làm việc thực sự trong thời gian thực tập.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành của tôi tới những người bạn đã cùng tôi
sống, học tập và lao động tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Những người
bạn đã sát cánh cùng tôi, giúp tôi đạt được kết quả như ngày hôm nay.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè, gia đình tôi đã giúp đỡ, khích lệ tôi

2.4 Tình hình nghiên cứu về biện pháp tỉa nhánh dưa chuột 10
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 10
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước: 12
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu 14
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 14
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14
3.3.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc 15
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 17
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1. Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các giai đoạn sinh trưởng của giống dưa chuột
H’mông 20
4.1.1. Thời gian từ trồng đến khi bắt đầu phân nhánh 20
4.1.2 Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa đực và hoa cái đầu tiên 22
4.1.4. Thời gian từ trồng đến đậu quả đầu tiên 23
4.1.5. Thời gian từ trồng đến khi thu hoạch lần đầu tiên 24
4.1.6. Thời gian thu hoạch 24
iii
4.1.7. Tổng thời gian sinh trưởng 25
4.2. Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm sinh trưởng, phát triển chủ yếu của
giống dưa chuột H’mông. 26
4.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển thân của giống dưa chuột H’mông 26
4.2.2. Đặc điểm sinh trưởng bộ lá của giống dưa chuột H’Mông. 31
4.3. Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của giống dưa chuột
H’mông 34

trưởng chủ yếu
của giống dưa chuột H’mông 21
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số đặc điểm sinh trưởng thân,
cành của giống dưa chuột H’mông 26
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số đặc điểm sinh trưởng bộ lá
của giống dưa chuột H’mông 32
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến vị trí xuất hiện hoa đực, hoa cái của
giống dưa chuột H’mông 35
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm ra hoa, đậu quả của
giống dưa chuột H’mông 38
v
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tình hình sâu bệnh hại chủ yếu của
giống dưa chuột H’mông 42
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống dưa chuột H’mông 46
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến đặc điểm cấu trúc và chất lượng quả
thương phẩm của giống dưa chuột H’mông 51

vi
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang

Hình 4.1. Dưa chuột H'mông thời kỳ xuất hiện hoa cái ở các công thức cắt tỉa
khác nhau 30
Hình 4.2: Triệu chứng bệnh phấn trắng ở CT6 44
Hình 4.3: Triệu chứng bệnh giả sương mai ở CT1(đối chứng) 45
Hình 4.4. Khối lượng quả dưa chuột H'mông ở các công thức cắt tỉa khác nhau.47
Hình 4.5: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất thực thu và năng suất lý
thuyết của giống dưa chuột H’mông 50
Hình 4.6. Kích thước quả dưa chuột H'mông ở các công thức cắt tỉa khác nhau. 52

(Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đời
trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước. Ngoài ra hiện
nay dưa chuột còn được sử dụng là một vị thuốc, một loại mỹ phẩm thiên nhiên
cho phái đẹp. Ở Việt Nam dưa chuột được trồng rộng rãi từ Bắc vào Nam, là
một cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.
Dưa chuột H’mông (dưa Mèo) là giống dưa chuột đặc sản bản địa do cộng
đồng dân tộc H’mông thuộc các tỉnh vùng cao Tây Bắc như Sơn La gây trồng và
giữ giống từ lâu đời. Quả có đặc điểm rất to, ruột trắng, cùi dày, khả năng chịu
bảo quản cao, nhiều hạt, vỏ quả trơn bóng, màu xanh sáng xen lẫn những vết sọc
xanh mờ, ăn giòn, ngọt mát và có mùi rất thơm đặc trưng của dưa chuột. Đây là
lợi thế của dưa Mèo so với các loại dưa chuột hiện đang được sản xuất rộng rãi.
Tại Sơn La bà con nông dân thường trồng dưa này xen với nương ngô, nương
lúa vào đầu mùa mưa tháng 2 – 3 để thu hoạch cùng với ngô vào tháng 6 – 7
nhằm tăng thu nhập. Tuy nhiên, do người dân tự để giống từ lâu đời, biện pháp
canh tác thô sơ, trồng xen với ngô, lúa nương, không được chăm bón nên quả
không đồng đều, nhiều quả dị dạng, sâu bệnh hại làm cho năng suất không cao,
chất lượng bị giảm sút. Để góp phần mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, việc nghiên cứu các biện
pháp kỹ thuật sản xuất dưa chuột bản địa H’mông là điều rất cần thiết.
Trong các biện pháp kỹ thuật trồng trọt thì cắt tỉa là một biện pháp quan
trọng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng cũng
như hiệu quả kinh tế của cây dưa chuột. Giống dưa chuột bản địa của đồng bào
H’mông có tập tính phân nhánh mạnh, nên cắt tỉa giúp cho cây có số nhánh hợp
lý nhằm tập trung dinh dưỡng cho cây sinh trưởng - phát triển thuận lợi và nuôi
1
quả. Không những vậy, cắt tỉa còn tạo điều kiện cho việc tăng mật độ góp phần
nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích. Xuất phát từ những phân tích và
nhận định trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng
của biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng – phát triển và năng suất của giống dưa
chuột bản địa H’mông trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Gia Lâm – Hà Nội

thấy họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể là 2n = 14. Loài hoang dại
Cucumis hardiwickii Royle là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả
cứng và được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya (De Candolle,
1984) [24]. Khi lai tự do giữa loài này với loài trồng (Cucumis sativus L.),
Dekin và cộng sự (1971) đã phát hiện thấy độ hữu thụ của thế hệ F2 không bị
giảm đi và ông cho rằng Cucumis hardiwickii R. rất có thể là tổ tiên của loài dưa
chuột trồng [2]. Theo De Candolle (1912) thì vùng xuất xứ dưa chuột là Tây Bắc
Ấn Độ, từ đây nó được phát triển lên phía Tây (Trung Đông) và sau đó sang
phía Đông Nam Á [24].
Vavilop (1926), G. Taracanov (1968) lại cho rằng khu vực miền núi phía
Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột vì ở đây còn tồn tại dạng
dưa chuột hoang dại (dẫn theo Nguyễn Văn Hiển [5]).
Do các giống dưa chuột địa phương của Trung Quốc mang nhiều tính trạng
lặn có giá trị như: quả dài, hình thành quả không cần qua thụ phấn
(parthernocarpic), gai quả màu trắng, quả không chứa chất đắng (cucurbitaxin),
3
từ kết quả nghiên cứu qua các chuyến thám hiểm thực địa, nhà thực vật Vavilop
N. (1926) [33] đã cho rằng Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ hai của
loài dưa này. Các tài liệu cổ khác của Trung Quốc cho rằng ngay từ thế kỷ thứ
IV ở đây đã có trồng cây dưa chuột. Từ việc phát hiện ra dạng cây dưa chuột
hoàn toàn hoa cái trong tập đoàn giống từ Trung Quốc, giống như các dạng cây
này của Nhật Bản được phát hiện trước đó, Merezhko A.F. (1984) [30] cho rằng
dưa chuột Trung Quốc được trồng từ lâu ở những vùng có điều kiện khí hậu mát
mẻ của Nhật Bản. Tác giả cũng khẳng định rằng dưa chuột Nhật và Trung Quốc
có cùng một nguồn gốc.
Ở nước ta, việc phát hiện ra các dạng cây dưa chuột dại, quả rất nhỏ mọc tự
nhiên ở các vùng Đồng bằng Bắc bộ và các dạng dưa chuột quả to, đang mọc
hoang dại ở các vùng núi cao phía bắc Việt Nam đã khẳng định nguồn gốc
phát sinh khác của loại cây này (Phan Đình Phụng, 1975; Taracanov, Dgiôn,
Trần Khắc Thi, 1977; Trần Khắc Thi, Vũ Tuyên Hoàng, 1979) [17]. Lịch sử

0 - 30 cm, hầu hết tập trung ở phần đất 15-20cm [1].
Khối lượng rễ dưa chuột xấp xỉ 1,5% trọng lượng toàn bộ cây, phân bố
rộng khoảng 60 – 90cm. Do vậy mức độ phát triển bộ rễ ban đầu là tiền đề cho
năng suất sau này [1].
2.2.2. Đặc điểm sinh trưởng của thân và khả năng phân nhánh:
Thân dưa chuột thuộc loại thân leo bò, có nhiều tua cuốn để bám khi leo.
Chiều cao và đường kính thân phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh cũng như kỹ
thuật chăm sóc. Thân phân thành các đốt, mỗi đốt mang một lá đặc biệt có thể
mang 2 lá. Dưa chuột là một cây có tập tính phân nhánh mạnh có thể có từ 3 - 8
nhánh trên thân tuỳ vào giống và điều kiện canh tác trong đó giống là yếu tố
quyết định. Trên thân có cạnh, có lông cứng và ngắn, ngoài ra đường kính thân
là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình sinh trưởng của cây, đường kính
thân quá lớn hoặc quá nhỏ đều không có lợi. Đối với những giống trung bình và
5
ging chớn mun ng kớnh t gn 1cm l cõy sinh trng tt.
Cn c vo chiu cao cõy cú th phõn chia thnh 3 nhúm:
- Loi lựn: chiu cao cõy 0,6 - 1m
- Loi trung bỡnh: chiu cao cõy > 1 1,5m.
- Loi cao: chiu cao cõy > 1,5 n 2 - 3m, cú loi ti 4 - 5m.
c im sinh trng cú th vụ hn, bỏn hu hn, hu hn v dng bi
gn. Nhóm vô hạn thân có thể sinh trởng mãi cho đến khi cây chết với độ dài t-
ơng đối cố định. Nhóm sinh trởng hữu hạn cng cú chiu di t tng t nh
nhúm vụ hn nhng chiu di ca thõn c kt thỳc bi chựm hoa. Nhúm cú
dng thõn bi cú chiu di t ngn hn 2 nhúm kia (Swiader J.M., 1997)
[31].
2.2.3. Lỏ:
Lỏ da chut cú lỏ mm v lỏ tht. ln, s cõn i v thi gian duy trỡ ca
lỏ mm ph thuc vo cht lng ging, khi lng ht ging, cht dinh dng
trong t, m t, nhit t. Lỏ tht cú 5 cỏnh, chia thu nhn hoc cú dng
chõn vt; cú dng lỏ trũn, trờn lỏ cú lụng cng, ngn. Mu sc lỏ thay i theo ging

Khi hoa cái xuất hiện thông thường sau 2 ngày, quá trình thụ phấn thụ tinh
được diễn ra thì sẽ thấy cánh hoa héo đi, bầu hoa phát triển, đó được tính là thời
điểm quả đậu.
2.3. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của dưa chuột
2.3.1. Nhiệt độ:
Nhiệt độ là một trong yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình sinh trưởng, phát triển của các cây trong họ bầu bí cũng như cây dưa
chuột.
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, rất mẫn cảm với sương giá. Theo số
liệu của nhiều nhà nghiên cứu, nhiệt độ bắt đầu cho cây sinh trưởng ở khoảng 12
- 15
0
C, nhiệt độ tối thích 25 - 30
0
C. Vượt khỏi ngưỡng nhiệt độ này, các hoạt
động sống của cây bị dừng lại, còn nếu hiện tượng này kéo dài cây sẽ bị chết ở
nhiệt độ 35 - 40
0
C (Alexanyan S.M. 1994) [20]. Theo Benett P.J. et al. 2001 [22]
nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển là 18,3 - 23,9
0
C; nhiệt
độ tối thấp là 15,6
0
C và tối cao là 32,2
0
C. Theo Mai Thị Phương Anh và cs
(1996) [1] thì nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng phát triển là 25 -
30
0

thích hợp cây ra hoa cái ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm. Nhiệt độ càng thấp,
thời gian này càng kéo dài [12].
Sự nở hoa cùng với quá tŕnh thụ phấn thụ tinh cũng chịu tác động bởi nhiệt
độ. Theo Yoshihari Ono (Takya Ama seed Co. Ltd Kyoto, Nhật Bản) hoa bắt
đầu nở ở nhiệt độ 15
0
C (sáng sớm) và bao phấn mở ở nhiệt độ 17
0
C. Nhiệt độ
thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn là 17 - 20
0
C, nhiệt dộ quá cao hay quá
thấp so với ngưỡng nhiệt độ này đều làm giảm sức sống hạt phấn, dẫn đến giảm
năng suất của giống.
2.3.2. Ánh sáng:
Cũng như các cây trồng khác có nguồn gốc từ phía Nam, dưa chuột thuộc
nhóm cây ưa ánh sáng ngày ngắn. Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh
trưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ ngày. Nắng chiếu có tác dụng tốt đến hiệu
suất quang hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn của
quả.
8
Cường độ và số giờ chiếu sáng có tương quan thuận với quá trình lớn của
quả. Theo Lin W.C Jollife P.A. (1997) [28] thì hiệu quả của việc tỉa thưa cành
và che bóng cho quả đã cải thiện được tốc độ tăng trưởng quả, màu sắc quả và
diệp lục của vỏ quả. Không những thời gian chiếu sáng mà cường độ cũng ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây dưa chuột. Nhiều tác giả đã chứng
minh rằng nếu giảm cường độ chiếu sáng cây sẽ sinh trưởng kém, do đó giảm
lượng chất khô, năng suất và chất lượng quả dưa chuột đều giảm. Cường độ ánh
sáng 15.000 - 17.000 Klux thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển giúp
cho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn

Dưa chuột là cây ưa thích đất đai màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, độ
pH từ 5,5 – 6,8 và tốt nhất từ 6,0 – 6,5. Đất trồng thích hợp là đất có thành phần
cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ sẽ cho năng suất và chất lượng quả tốt.
Về hiệu suất sử dụng phân khoáng, ở dưa chuột sử dụng kali với hiệu suất
cao nhất tiếp đến là đạm rồi đến lân. Khi bón 60 N : 60 P
2
O
5
: 60 K
2
O thì dưa
chuột sử dụng khoảng 92% đạm, 33% lân và 100% kali. Dưa chuột không chịu
được nồng độ phân cao nhưng lại phản ứng rõ rệt với hiện tượng thiếu dinh
dưỡng. Phân hữu cơ, đặc biệt là phân chuồng làm tăng năng suất dưa chuột [2].
Bên cạnh đạm, lân, kali các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn, Mn, Cu, Mo có vai
trò hết sức quan trọng, làm thay đổi tỷ lệ hoa đực, cái.
2.4 Tình hình nghiên cứu về biện pháp tỉa nhánh dưa chuột
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Cây dưa chuột là cây có tập tính phân nhánh mạnh, thân cành phát triển tốt
bởi vậy cắt tỉa để tạo ra cây có ít thân giúp tập trung dinh dưỡng nuôi quả là cần
thiết. Nhờ đó, quả to hơn vì các chất dinh dưỡng của cây không được chuyển
đến cho các nhánh khác.
Khi sản xuất dưa chuột trong điều kiện nhà lưới, việc cắt tỉa tạo tán hợp lý
10
cho dưa chuột sẽ giúp quần thể sử dụng ánh sáng một cách hiệu quả, tạo tiền đề
cho việc thu được năng suất cao. Gobeil, G. and Gosselin, A. (1990) [25] đã
nghiên cứu việc sử dụng ánh sáng bổ sung kết hợp với 4 phương pháp cắt tỉa
dưa chuột khác nhau, đều hướng đến việc loại bỏ bớt số quả/cây và các nhánh
trên thân chính, cụ thể như sau:
- Phương pháp cắt tỉa 1: để bốn quả trên thân chính (mỗi nách lá một quả),

quả dài hơn (32 - 42 ngày). Phương pháp cắt tỉa 2 cho phép chồi nách phát triển,
do đó cung cấp bổ sung một nguồn auxin đến cây dưa chuột, để kích thích quả
phát triển. Ngoài ra, một phần quang hợp cho cây là từ các lá trên nhánh thứ cấp,
hiệu quả quang hợp của các lá này có thể khác với lá trên thân chính [25]. Năng
suất dưa chuột khi áp dụng phương pháp cắt tỉa 2 là cao nhất (280 quả/m
2
) với
12 cây kế tiếp, trong khi phương pháp cắt tỉa 1 đạt 240 quả/m
2
với 15 cây kế tiếp
và các phương pháp cắt tỉa 3, 4 còn cho năng suất thấp hơn.
Tác giả Qian Hong (Trung Quốc), khi nghiên cứu trên giống Amata 765
cho thấy, chiều dài quả bị ảnh hưởng lớn bởi biện pháp cắt tỉa. Khi ngắt toàn bộ
nhánh trên thân chính từ đốt thứ 10 trở xuống và ở đốt thứ 10 chỉ để 1 lá và 1
quả trên nhánh thì chiều dài quả cao nhất và cao hơn hẳn các phương pháp cắt
tỉa khác (dẫn theo Trần Thị Lệ, Nguyễn Hồng Phương, 2009) [9].
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam khi diện tích trồng dưa chuột ngày càng tăng cùng với lợi ích
mà nó mang lại thì cũng đã có những nghiên cứu về biện pháp cắt tỉa nhằm nâng
cao năng suất cũng như hiệu quả kinh tế.
Nghiên cứu của Đào Xuân Thảng với giống dưa chuột Poung trồng ngoài
đồng (Dao Xuan Thang, 1996) [23] cho thấy công thức không ngắt cành ở
thân chính nhưng tỉa các cành ở đốt thứ 4 cho năng suất thương phẩm cao
nhất. Việc tỉa bớt nhánh không ảnh hưởng tới kích cỡ quả và khối lượng cây.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Thắng, 2010 trên cây dưa Mèo
12
được tạo hình, tỉa nhánh chỉ để 2 thân (gồm 1 thân chính và 1 nhánh cấp 1)
thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất thực thu cao [11].
Khi nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật trồng trọt phục vụ sản xuất dưa
chuột Hưng Yên, Nguyễn Văn Tráng, 2011 [19] cho rằng

suất của giống dưa chuột bản địa H’mông vụ xuân - hè tại Hà Nội.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
nhiên đầy đủ (RCB), 7 công thức, 3 lần nhắc lại.
CT1: Không tỉa nhánh (đối chứng)
CT2: Để lại 1 thân chính + 1 thân phụ
CT3: Để lại 1 thân chính + 2 thân phụ
CT4: Để lại 1 thân chính + 3 thân phụ
CT5: Để lại 2 thân phụ
CT6: Để lại 3 thân phụ
CT7: Để lại 4 thân phụ
14
- Từ CT5, CT6, CT7 bấm ngọn thân chính khi thân chính cao 1m.
- Với CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7 để thân phụ từ nách lá thứ 2.
Số ô thí nghiệm: 7CT × 3 lần nhắc lại = 21 ô thí nghiệm.
- Diện tích thí nghiệm:
+ Diện tích ô thí nghiệm là: 7 m
2
.
+ Tổng diện tích ô thí nghiệm là: 7 m
2
× 21 = 147 m
2
.
+ Diện tích bảo vệ: 100 m
2
+ Tổng diện tích thí nghiệm: 247 m
2
- Sơ đồ thí nghiệm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status