Ảnh hưởng các loại phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô rau LVN 23 vụ xuân 2010 tại hợp tác xã nông nghiệp hương long – TP huế - Pdf 22

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây lương thực
quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp của nhiều quốc gia trên
thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.Ở các nước thuộc
Trung Mỹ, Nam Á và Châu Âu người ta sử dụng ngô làm lương thực
chính cho con người với phương thức rất đa dạng theo từng vùng địa
lý và tập quán từng nơi.
Theo lịch sử phát triển nông nghiệp, từ khi con người chuyển
việc tìm kiếm thức ăn bằng hái lượm sang trồng trọt để chủ động sản
xuất lấy thức ăn cho mình thì sản xuất nông nghiệp ra đời.Cũng qua
việc sản xuất nông nghiệp con người đã nhận thức được tầm quan
trọng của độ phì nhiêu đất. Chính vì thế mà từ nền nông nghiệp du
canh, chặt đốt cây lấy tro bón, đến việc luân canh cây họ đậu để
nâng cao độ phì của đất, làm cho đất tốt hơn, rồi dùng phân hữu cơ
để bón, con người đã nhận thức được vai trò của phân bón ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng. Và bắt đầu từ sự nhận thức đó con
người đã biết chủ động dùng phân bón để cải tạo đất nhằm ổn định
và nâng cao năng suất và phẩm chất cây trồng.
Bón phân là một biện pháp nằm trong hệ thống các biện pháp
liên hoàn nhưng lại là tác nhân quan trọng phát huy tác dụng của các
biện pháp liên hoàn khác. Nó là yếu tố quyết định lớn đến năng suất và phẩm
chất cây trồng. Từ nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng phân bón có
khả năng làm tăng năng suất lên khoảng 30-35%.
Tổng kết trên phạm vi toàn thế giới, năm 1989 tổ chức Nông lương
Liên Hợp Quốc (FAO) đưa ra nhận xét :“Mỗi tấn chất dinh dưỡng sản xuất
được 10 tấn ngũ cốc”.Nhận xét này khẳng định vai trò hàng đầu của phân bón
đối với việc sản xuất lương thực trên thế giới. Riêng ở châu Á Thái Bình
Dương phân bón đóng góp trên 75% trong việc tăng sản lượng lương thực
trong 100 năm qua.

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng các loại phân hữu cơ
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô rau LVN 23 vụ
xuân 2010 tại hợp tác xã nông nghiệp Hương Long – TP Huế ”.
1.2. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống
ngô rau LVN 23 ở các loại phân hữu cơ khác nhau, từ đó tìm ra loại phân hữu
cơ thích hợp nhất cho năng suất cao và phẩm chất tốt để đưa vào quy trình kỹ thuật
bón phân cho ngô rau tại Thừa Thiên Thiên Huế.

2
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Vai trò và giá trị dinh dưỡng của ngô rau
2.1.1. Vai trò của ngô rau:
Ngô bao tử là loại rau cao cấp được thị trường quốc tế rất ưa chuộng,
bởi vì nó không chỉ là loại rau có chất lượng thương phẩm tốt mà ngô bao tử
còn là loại rau an toàn nhất trên thế giới hiện nay. Do đó nó đã trở thành một
mặt hàng xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều nước trên thế giới
đã xem mặt hàng này như là một mặt hàng xuất khẩu chính yếu của họ mà
điển hình là Thái Lan.
Ở Thừa Thiên Huế, hiện nay việc trồng và sản xuất ngô rau mặc dù
chưa thật sự phổ biến nhưng xét về tiềm năng phát triển thì đây là một nơi có
tiềm lực phát triển mạnh mẽ. Bởi lẽ Thừa Thiên Huế là một thành phố có
3
ngành du lịch phát triển, có nền văn hóa ẩm thực phong phú đa dạng. Lượng
khách du lịch đến Huế hàng năm đang ngày càng nhiều. Do vậy nhu cầu sử
dụng các loại thực phẩm sạch, an toàn và có chất lượng ngày một tăng. Ngô
bao tử là một mặt hàng đang được thế giới ưa chuộng mặt khác nó lại đảm
bảo chât lượng, sạch và an toàn. Vì vậy việc xây dựng các vùng chuyên canh
sản xuất các loại thực phẩm phong phú, đa dạng, có chất lượng và có hiệu

độ đồng đều cao, có màu vàng sáng và ở trạng thái giòn Sau khi thu hoạch
sản phẩm chính năng suất thân lá xanh của ngô rau có thể lên đến 13,6 tấn/ha
4
– 30,4 tấn/ha, lá bi 3-4 tấn/ha. Bên cạnh đó ngô rau được thu hoạch vào giai
đoạn cây đang sinh trưởng mạnh cho nên thân lá của ngô rau còn chứa một
lượng lớn chất dinh dưỡng. Đây là nguồn phế phụ phẩm quan trọng trong
chăn nuôi. Hơn nữa ngô rau có thể trồng quanh năm, đặc biệt là vào vụ đông
muộn, điều này đã đóng góp một phần khá lớn thức ăn cho gia súc vụ đông,
là vụ thường khan hiếm thức ăn cho gia súc
2.2. Vai trò của phân bón cho cây ngô
2.2.1. Vai trò các loại phân nói chung
Phân bón cho ngô có tác dụng tăng năng suất rõ rệt, do đó muốn có
năng suất cao cần phải bón nhiều phân. Khác với một số cây trồng khác, thời
kỳ đầu ngô sinh trưởng chậm , sau khi gieo độ 1 tháng ngô mới sinh trưởng
nhanh, vì vậy nhu cầu về dinh dưỡng tăng nhiều. Việc tích lũy chất khô chỉ
ngừng khi cây đã chín hoàn toàn.
Khi ngô hình thành bắp, sử dụng tới 90% nhu cầu về kali, 75% nhu cầu
về đạm, 50% nhu cầu về lân. Riêng về lân thì cần nhất khi hình thành hạt.
Nói chung phân bón cho ngô có tác dụng làm tăng năng suất rõ rệt. Theo
Berzeny (1996) phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tố
khác như mật độ trồng, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, đất trồng thì có ảnh
hưởng ít hơn .
Để tạo thành chất hữu cơ, ngoài nhiệt độ, ánh sáng, nước và khí cacbonic,
cây còn cần nhiều các chất khoáng. Các chất dinh dưỡng như: Mangan, sắt, lưu
huỳnh, bo…đều có lượng chứa và vai trò khác nhau.
Xayơ (1955) cho rằng cây ngô hút hầu hết các chất dinh dưỡng trong
lớp đất canh tác của vỏ trái đất và nguồn dinh dưỡng chủ yếu của ngô là lấy
từ đất trồng. Do vậy để thu được năng suất cao, ổn định thì hàng năm cần bổ
sung một lượng lớn chất dinh dưỡng thông qua việc bón phân từ đất. Bón
phân vào đất có tác dụng khôi phục lại các chất dinh dưỡng đã bị mất (do cây

phân xanh/ha hoặc vùi 9 – 10 tấn thân lá cây họ đậu trên 1 ha có thể thay thế được 60
– 90 N kg/ha. Vùi thân lá lạc, rơm rạ, thân lá ngô của cây vụ trước cho cây vụ sau
làm tăng 0.3 tấn lạc xuân, 0.6 tấn thóc, 0.4 tấn ngô hạt/ha.
- Phân chuồng:
Loại phân do gia súc thải ra. Trung bình mỗi đầu gia súc nuôi nhốt trong chuồng, sau
mỗi năm có thể cung cấp một lượng phân chuồng (kể cả độn) như sau:
Lợn 1.8 – 2.0 tấn/con/năm
Dê 0.8 – 0.9 tấn/con/năm
Trâu bò 8.0 – 9.0 tấn/con/năm
Ngựa 6.0 – 7.0 tấn/con/năm
Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc,
nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân.
Phân chuồng tốt thường có các thành phần dinh dưỡng như ở bảng sau:
6
Thành phân dinh dưỡng của phân chuồng
Đơn vị %
Loại phân H
2
O N P
2
O
5
K
2
O CaO MgO
Lợn 82.0 0.80 0.41 0.26 0.09 0.10
Trâu bò 83.1 0.29 0.17 1.00 0.35 0.13
Ngựa 75.7 0.44 0.35 0.35 0.15 0.12
Gà 56.0 1.63 1.54 0.85 2.40 0.74
Vịt 56.0 1.00 1.40 0.62 1.70 0.35

* Phân than bùn:
Than bùn được tạo thành từ xác các loài thực vật khác nhau. Xác thực vật
được tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong
nhiều năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than
bùn.
Trong than bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18 – 24%, phần còn lại là các chất
hữu cơ. Theo số liệu điều tra của các nhà khoa học, trên thế giới trữ lượng than bùn
có khoảng 300 tỷ tấn, chiếm 1.5% diện tích bề mặt quả đất. Than bùn được sử dụng
trong nhiều ngành kinh tế khác nhau. Trong nông nghiệp than bùn được sử dụng để
làm phân bón và tăng chất hữu cơ cho đất
• Phân tro, phân dơi:
Tro các loại được sử dụng làm phân bón rất có hiệu quả ở những loại đất thiếu
kali hoặc trong trường hợp bón quá nhiều phân đạm.
Trong tro có 1 – 30% K
2
O và 0.6 – 19% P
2
O
5
. Tro có thể dùng bón trực tiếp
cho cây hoặc dùng làm chất độn, chất trộn với phân chuồng, phân bắc, nước tiểu…
Kali trong tro dễ hoà tan. Trong tro còn có silic, lân, magiê, vi lượng với hàm
lượng tương đối cao. Tro có tính kiềm nên phát huy tác dụng tốt trên các loại đất
chua.
Phân dơi có hàm lượng lân rất cao. Nhiều gia đình nông dân đã vào các hang
động trong núi đá, thu gom phân dơi về bón ruộng, bón cho cây trồng và đã thu được
kết quả tốt. Nhiều hộ nông dân đã nuôi dơi để lấy phân bón ruộng.
8
- Phân bón Sông Gianh
* Các chủng loại phân bón của Công ty Sông Gianh

không bón đạm, năng suất ngô chỉ đạt 1193 kg/ha, có bón đạm năng suất tăng lên
7338 kg/ha (Smit, 1973).
Velly (1973) nghiên cứu bón đạm cho ngô cho kết quả: bón đạm 40 kg N/ha,
năng suất đạt 12,11 tạ/ha; bón đạm 80 kg N/ha, năng suất đạt 15,6 tạ/ha; bón 120 kg
N/ha, năng suất đạt 32,12 tạ/ha; bón 160 kg N/ha, năng suất đạt 41,47 tạ/ha; bón 200
kg N/ha, năng suất đạt 52,18 tạ/ha.
Kết quả nghiên cứu của Geus (1967) bón đạm quá cao cho cây ngô làm tăng sự
phát triển thân lá, hạn chế năng suất hạt ngô.
Duque (1998) nghiên cứu bón phân cho ngô trên đất đồi chua ở Philippin cho
rằng phân bón ở mức 100 kg P
2
O
5
/ha cho năng suất ngô đạt 7016 kg/ha.
Theo Evangelista (1999) năng suất ngô tăng lên cùng với tăng liều lượng lân,
năng suất chỉ bắt đầu giảm xuống khi bón đến mức 152 kg P
2
O
5
/ha.
Bón phân NPK cân đối kết hợp với phân hữu cơ là biện pháp hữu hiệu làm
tăng năng suất và phẩm chất ngô, giúp cải tạo đất, chống xói mòn và bảo vệ môi
trường sinh thái. Theo FAO (1993) sau hơn 20 năm nghiên cứu và thực nghiệm nếu
chỉ sử dụng phân chuồng và tàn dư thực vật để trả lại cho đất mà không sử dụng phân
hóa học (NPK) thì năng suất cây trồng giảm đi ít nhất là 30%, cân bằng dinh dưỡng
bị phá vỡ, đất bị bạc màu và nạn đói đe dọa, sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về môi
trường sinh thái.
Theo hiệp hội phân bón quốc tế (1998) lượng phân bón cho ngô lai (kg/ha) của
một số nước như sau:
Inđônêxia: (120-180) N – (45-60) P

2
O
5
; 17,2 kg K
2
O. Hiệu suất 1 kg N: 4,5- 9,2 kg ngô hạt. 1 kg P2: 4,5 - 7,2 kg ngô
hạt. 1 kg K
2
O 2,5 - 5,2 kg ngô hạt. Tỷ lệ nhu cầu N:P:K = 1:0,35:0,45.
Kết quả nghiên cứu phân bón cho ngô của Đào Thế Tuấn cho thấy ở đồng bằn
sông Hồng với mức bón đạnm 90 kg N/ha, hiệu suất bón đạm đối với ngô địa phương
là 13 kg ngô hạt/1kg N và ngô lai là 18 kg ngô Bắc cần 25 – 28 kg N; vụ xuân 28 –
32 kg N; vụ hè thu 32 – 35 kg N.
10
Vũ Hữu Yêm (1995) nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng
suất ngô như sau: không bón đạm, năng suất đạt 40,0 tạ/ha; bón 40 kg N/ha, năng
suất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N/ha năng suất đạt 70,8 tạ/ha, bón 120 kg N/ha
năng suất đạt 76,2 tạ/ha, bón 160 kg N/ha năng suất đạt 79,9 tạ/ha.
Nguyễn Thế Hùng (1996) bón đạm đã làm tăng năng suất ngô trên đất bạc
màu, nhưng lượng tối đa là 225 kg N/ha và ngưỡng bón đạm kinh tế là 150 kg N/ha
trên nền đã cân đối PK.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thi, Nguyễn Văn Bộ 1999) cho thấy:
trên đất bạc màu hiệu quả bón phân kali từ 15 -20 kg ngô hạt/kg K
2
O; liều lượng bón
kali cho ngô trên đất phù sa sông Hồng từ 60 – 90 kg K
2
O/ha; trên đất bạc màu 120
kg K
2

2
O
5
kg/ha.
Theo Lê Quý Tường, Trần Văn Minh (2003) lượng phân bón thích hợp cho
ngô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ đông xuân là 10 tấn phân
chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O (tỷ lệ NPK là 1,7:1.0:0,7) tiêu tốn
lượng đạm từ 27,9- 28,4 kg N/1 tấn ngô hạt.
Bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ cho ngô đã làm tăng năng suất ngô và
giúp cải thiện độ phì trông đất. Theo Bùi Đinh Dĩnh (1988, 1994) để đảm bảo cho cây
trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng,
còn 75% phân hóa học.
Hiệu quả phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ bón phân hợp lý,
bón cân đối giữa các nguyên tố. Bón phân cho ngô để đạt hiệu quả cao phải căn cứ
vào giống, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tính chất đất,
đặc điểm laọi phân bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện thời tiết.
2.4. Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngô rau trên thế giới và trong nước .
2.4.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngô rau trên thế giới
11
Sản phẩm ngô bao tử là một mặt hàng rất được ưa chuộng trên thị
trường thế giới. Hiện nay trên thế giới đã có nhiều quan tâm, chú trọng đầu tư
sản xuất mặt hàng này như là một mặt hàng xuất khẩu chính yếu của họ. Các
nước xuất khẩu ngô rau nhiều trên thế giới đó là: Thái Lan, Ấn Độ, Indonexia,
Zambia, Nicaragua, Zimbabue và Nam Phi và trong đó Thái Lan là một quốc gia

đóng hộp đến gần 100 nước. Ngô bao tử là một loại cây trồng có giá trị kinh
12
tế và giá trị xuất khẩu cao của Thái Lan. Hằng năm nó đem về cho đất nước
này hơn 1 tỷ bạt. Nước Mỹ là thị trường lớn nhất của Thái Lan về ngô rau
đóng hộp, chiếm 47,25% tổng khối lượng xuất khẩu và giá trị ngô rau của
Thái Lan. Về ngô rau tươi thì Malaysia là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếm
gần 20,70% tổng lượng xuất khẩu.
2.4.2. Tình hình sản xuất ngô rau ở Việt Nam.
Ở Việt Nam việc trồng và sử dụng ngô làm lương thực đã có từ 300
năm trước, mặc dù là một trong những cây lương thực chính nhưng cây ngô
chưa được chú trọng phát triển, nên chưa phát huy được tiềm năng của nó. Chỉ
trong những năm gần đây nhờ có chính sách khuyến khích và áp dụng những tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất, cây ngô đã có những bước tiến về cả 3 mặt diện tích,
năng suất và sản lượng.
Sản xuất ngô rau ở nước ta là một ngành còn rất mới so với lịch sử sản
xuất ngô từ 3000 năm nay. Những năm gần đây ngô rau cũng đã được sản
xuất làm thức ăn cao cấp trong nhà hang, siêu thị và xuất khẩu Nhu cầu mặt
hàng này càng tăng lên.
Hiện nay ở các vùng ngoại thành Hà Nội đang có xu hướng đầu tư chăn
nuôi bò sữa, nên đã kết hợp trồng ngô bao tử vừa sản xuất thực phẩm cho
người, vừa cung cấp thức ăn cho chăn nuôi. Ở đồng bằng sông Hồng và đồng
bằng sông Cửu Long ngô rau đã dần xen vào hệ thống độc canh cây lúa và đã
mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm đa dạng hóa cây trồng, cải thiện môi
trường sinh thái. Hiện nay nhiều khách hàng quốc tế đã quan tâm và đặt mua
đồ hộp ngô bao tử. Kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc Sáu và Nguyễn Công
Hoan cho thấy so sánh với đồ hộp ngô bao tử của Thái Lan và Trung Quốc
sản xuất được nhập vào Việt Nam trong mấy năm nay thì đồ hộp sản xuất
theo quy trình công nghệ Việt Nam hoàn toàn đảm bảo mọi yêu cầu về chất
lượng và cảm quan, giá thành trong nước rẻ hơn.
Tuy nhiên nhìn chung trong cả nước thì việc sản xuất ngô rau còn đang

- Hiệu quả kinh tế và chỉ số VCR của các công thức được bón với các loại
phân hữu cơ khác nhau.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (kiểu RCB) gồm 4
công thức và 3 lần nhắc lại.
- Diện tích 1 ô: 10 m
2
- Diện tích thí nghiệm (12 ô): 120 m
2
14
- Diện tích bảo vệ và rãnh: 25 m
2
- Tổng diện tích toàn thí nghiệm: 145 m
2
.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
:
Bảo
vệ
Bảo vệ
Bảo
vệ
I a III a II a IV a
II b IV b III b I b
III c II c IV c I c
Bảo vệ
Trong đó: I, II, III, IV là công thức
a, b, c: là lần nhắc lại
* Các công thức thí nghiệm: (Lượng phân bón/ha)

0
C) Ẩm độ (%)
Lượng mưa
Số giờ
TB Max Min TB Min
1 21,0 28,7 15,6 93 64 111,5 85
2 23,2 35,3 14,5 90 47 12,7 147
3 22,9 36,0 16,5 91 49 47,2 140
4 25,0 30,0 22,0 90 50 10 50
(Nguồn: Trung Tâm KTTV tỉnh Thừa Thiên - Huế)
Trong tháng 02/2010 thời tiết tại khu vực Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chịu ảnh
hưởng 02 đợt của rìa Tây Nam lưỡi áp cao lạnh tăng cường và tăng cường yếu vào
các ngày 13 -17/02 và 22 - 23/02. Nên có mưa, mưa rào rải rác, gió Đông Bắc cấp 3 -
4, trời rét. Riêng vào ngày 24 - 28/2 do ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía Tây,
nên đã gây ra 01 đợt nắng nóng trên diện rộng, sớm hơn so với nhiều năm.
Nhìn chung thời tiết trong tháng 02/2010 có nền nhiệt độ khá cao, lượng mưa
thấp hơn rất nhiều so với TBNN, lượng bốc hơi cao.
Tháng 3 có nền nhiệt độ khá cao và có vài đợt nắng nóng, nhưng chỉ vài ngày
thời tiết dịu lại
Trong 10 ngày đầu tháng 4 năm 2010, thời tiết tỉnh Thừa Thiên - Huế vào thời kỳ
đầu và giữa còn chịu ảnh hưởng của không khí lạnh với 02 đợt tăng cường yếu. Trong 1 –
2 ngày cuối có khả năng ảnh hưởng áp thấp phía Tây.
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
- Thời gian sinh trưởng, phát triển của giống ngô rau LVN 23 ở các công thức
thí nghiệm.
+ Ngày gieo.
+ Ngày mọc mầm (50% số cây mọc)
+ Ngày 3- 4 lá (50% số cây đạt 3- 4 lá)
+ Ngày 7- 9 lá (50% số cây đạt &- 9 lá)
+ Ngày xoắn ngọn (50% số cây xoắn ngọn)

* Sâu đục thân: Theo dõi từ lúc 7-9 lá đến lúc thu hoạch bắp 1. Tính số cây bị
đục thân trong ô. Tính phần trăm số cây bị hại, cho điểm.
Số cây bị hại
Tỉ lệ hại (%) = x 100
Tổng số cây theo dõi
Cách cho điểm:
+ Điểm 1: không bị hại
+ Điểm 2: dưới 15% cây bị hại
+ Điểm 3: từ 15%- 30% cây bị hại
+ Điểm 4: từ 30%- 50% cây bị hại
+ Điểm 5: trên 50% cây bị hại
Bệnh hại: Mỗi ô thí nghiệm điều tra 5 mẫu chéo góc, mỗi điểm 1m
2
.
* Bệnh đốm lá: theo dõi từ lúc xoắn ngọn đến lúc thu hoạch bắp. Tính tổng số
lá bị bệnh và tổng số lá điều tra của 5 mẫu. Tính phần trăm tỉ lệ bệnh, cho điểm tùy
theo mức độ bệnh.
* Bệnh khô vằn: theo dõi từ lúc nhú cờ đến lúc thu hoạch bắp lần 1. Tính tỉ lệ
bệnh, cho diểm.
17
Số lá bị bệnh
Tỉ lệ hại (%) = x 100
Tổng số lá theo dõi
Cách cho điểm:
+ Điểm 1: dưới 5% cây bị hại
+ Điểm 2: từ 5%- 10% cây bị hại
+ Điểm 3: từ 10%- 30% cây bị hại
+ Điểm 4: từ 30%- 50% cây bị hại
+ Điểm 5: trên 50% cây bị hại
- Đổ rễ: Tính phần trăm số cây bị nghiêng một góc 30% so với chiều thẳng

Thí nghiệm được tiến hành vào vụ xuân 2010, gieo ngày 03/02/2010. Trong
các năm trước đây là khoảng thời gian có các yếu tố khí hậu, thời tiết thích hợp cho
gieo trồng, thời gian này có nền nhiệt độ, độ ẩm thích hợp nên sự nảy mầm của hạt
thuận lợi.
3.6.3. Phân bón:
- Lượng phân bón theo công thức thí nghiệm.
- Cách bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ, vôi, lân, 1/3 đạm
Bón thúc: 2 đợt
+ Đợt I: Lúc ngô 3-4 lá: bón 1/3 đạm+ 1/2 kali
+ Đợt II: lúc ngô 7-9 lá: bón 1/3 đạm+1/2 kali
3.6.4. Kỹ thuật chăm sóc
- Lúc ngô 3- 4 lá: Kiểm tra lại ruộng để tiến hành dặm tỉa nhằm bảo đảm mật
độ. Nếu mặt luống có cỏ và đóng váng thì tiến hành phá váng và diệt cỏ kết hợp vun
gốc nhẹ và bón thúc đợt 1.
- Lúc ngô 7- 9 lá: Vun cao gốc kết hợp bón thúc đợt 2. Cây ngô giai đoạn này
đã xuất hiện sâu bệnh nên cần theo dõi thường xuyên để có biện pháp phòng trừ.
- Rút cờ: Khi cờ nhú lên khỏi nách lá cuối cùng.
- Thu hoạch bắp: Bắp được bẻ cả lá bi khi râu phun dài từ 1- 1,5 cm.
19
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến thời gian hoàn thành các giai đoạn
sinh trưởng phát triển của giống ngô rau LVN23
Sinh trưởng và phát triển thể hiện quá trình biến đổi sinh lý, sinh hóa tổng hợp
diễn ra trong cây. Nó liên quan đến khả năng tích lũy chất khô để hình thành nên hình
thái của cây như thân, lá, hạt… Sinh trưởng và phát triển có mối quan hệ hữu cơ với
nhau và xảy ra đồng thời. Sinh trưởng, phát triển tốt sẽ cho năng suất cây trồng cao.
Thời gian sinh trưởng, phát triển phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện đất đai,
giống, thời vụ trồng, kỹ thuật canh tác, mật độ trồng, liều lượng phân chuồng,…
nghiên cứu thời gian sinh trưởng của cây ở các liều lượng phân chuồng khác nhau

* Thời kỳ mọc mầm:
Thời kỳ này được tính từ khi gieo đến khi mọc mũi chông. Quá trình nảy mầm
xảy ra sau khi hạt hút nước và trương lên. Lúc này, bên trong hạt các phản ứng sinh
lý, sinh hoá diễn ra mạnh, các chất hữu cơ phức tạp qua quá trình oxy hoá đã chuyển
thành các chất đơn giản và tạo ra năng lượng kích thích hạt nảy mầm. Thời kỳ này
cây mầm chưa hút chất dinh dưỡng từ đất mà chủ yếu sử dụng nguồn dinh dưỡng
20
chứa trong nội nhũ của hạt giống. Sức nảy mầm và tỉ lệ nảy mầm phụ thuộc vào chất
lượng hạt giống, điều kiện ngoại cảnh, độ tơi xốp đất, độ sâu lấp hạt. Nhiệt độ thích
hợp thời kỳ này 25 - 30
o
C, độ ẩm 70 – 80%. Do điều kiện thời tiết thuận lợi nên các
công thức trong thí nghiệm hoàn thành giai đoạn này khá sớm, thời gian từ gieo đến
mọc của các công thức thí nghiệm đều là 5 ngày.
Thời kỳ từ gieo đến 3-4 lá
Thời kỳ này cây sống chủ yếu nhờ vào các chất dinh dưỡng dự trữ trong hạt.
Cây bắt đầu sinh trưởng nhanh hơn, thân mầm dài ra và được bao bọc trong lá bao,
sau đó phân hóa đốt và xuất hiện các lá đầu tiên. Do ảnh hưởng của không khí lạnh
nên tốc độ ra lá còn chậm, diện tích lá nhỏ. Cuối thời kỳ này cây chuyển từ sống nhờ
chất dinh dưỡng trong hạt sang sống nhờ vào chất dinh dưỡng trong đất. Đây là thời
kỳ khủng hoảng chất dinh dưỡng trong cây. Ở giai đoạn này các bộ phận trên mặt đất
phát triển có nhanh hơn, rễ xuất hiện 2 - 3 lớp rễ đốt. Cây con rất mẫn cảm với điều
kiện ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt độ đất. Đó là cở sở khoa học của việc bố trí thời vụ,
bón thúc lần 1 để cung cấp dinh dưỡng cho các giai đoạn sau phát triển. Trong thời
gian từ sau nảy mầm đến khi cây được 3 - 4 lá, thời tiết thuận lợi cho sự phát triển
của cây con, yêu cầu độ ẩm 70 – 80%, nhiệt độ 22 – 30
0
C, đất thoáng.
Qua theo dõi chúng tôi thấy giữa các công thức vẫn chưa có sự chênh lệch về
thời gian sinh trưởng, tất cả các công thức đều đạt 3 – 4 lá với thời gian là 14 ngày.

- Từ thời kỳ gieo đến nhú cờ
Thời kỳ này bắt đầu khi bông cờ nhú lên khỏi lá cuối cùng. Cây ngô kết thúc
quá trình phân hóa tế bào sinh dục, chiều cao cây, số lá gần như phát triển tối đa. Cây
ngô đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng, khoáng và nước để cho quá trình hình thành bắp
được tốt. Nếu không đáp ứng đầy đủ sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất vì đây là thời kỳ
cây ngô tập trung dinh dưỡng từ thân lá về nuôi bắp, hình thành năng suất cây ngô.
Đây cũng là lúc các rễ chân kiềng đã bắt đầu phát triển to và dài, ăn sâu vào vùng đất
được vun cao giúp cho cây đứng vững.
Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy, ở các công thức với các loại phân bón
khác nhau đã có sự sai khác nhau về thời gian hoàn thành giai đoạn này của cây ngô.
Thời gian từ gieo đến nhú cờ của các công thức giao động từ 47 - 51 ngày, thấp nhất
vẫn là ở công thức đối chứng. (47 ngày). 3 công thức còn lại đều cao hơn đối chứng
từ 1-3 ngày. Dài nhất là công thức III (52 ngày)
- Thời kỳ từ gieo đến thu hoạch bắp: do thời kỳ này gặp nắng nóng nên đã rút
ngắn thời gian thu hoạch bắp.
Sau thời kỳ nhú cờ khoảng 3-5 ngày, cây ngô bắt đầu phun râu, đầu tiên ta thấy
một vài râu ngô xuất hiện trên đầu lá bi của bắp. Thông thường cần khoảng 2 - 3 ngày
để tất cả râu trên 1 bắp phun hết. Giai đoạn này cây ngô gần như ngừng sinh trưởng,
tuy nhiên cây vẫn hút dinh dưỡng để nuôi cây và cung cấp cho quá trình hình thành
bắp non. Do tốc độ ra bắp rất nhanh nên quá trình thu hoạch cần phải tiến hành trong
từng ngày để đảm bảo giá trị dinh dưỡng và giá trị thương phẩm cho bắp. Việc thu
hoạch bắp bao tử được tiến hành khi râu ngô phun dài từ 0,5-1,5 cm, tương ứng với lá
bi nhú khỏi nách là 1-1,5 cm. Tuy thời gian bắp phun râu rất ngắn nhưng lại có vai
trò quyết định đến phẩm chất ngô bao tử. Bởi vì, lúc này ngô đang tập trung dinh
22
dưỡng tạo bắp, sự tích lũy các chất đồng hóa ở mức cao nhất lại là giai đoạn cho thu
hoạch.
Qua theo dõi thí nghiệm chúng tôi nhận thấy: Việc thu hoạch bắp diễn ra liên
tục. Thời gian từ gieo đến thu hoạch lần đầu, sớm nhất là ở công thức I; cao nhất là ở
công thức III (55 ngày); công thức IV cao hơn đối chứng 1 ngày (53 ngày), công thức

Bảng 4.2. Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến sự tăng trưởng về chiều cao
cây của giống ngô LVN23 qua các thời kỳ theo dõi
(Đơn vị tính: cm)
Chỉ tiêu Thời kỳ theo dõi
3 lá 8 lá Xoắn
ngọn
Nhú cờ Thu hoạch
I(đ/c) 14,35 63,59 136,25 175,49 176,43
II 17,23 68,64 146,55 182,42 184,35
III 15,49 65,57 138,65 177,23 179,55
IV 17,57 69,75 149,51 184,75 188,79
:
- Giai đoạn ngô 3 lá
Giai đoạn này sự phát triển chiều cao cây còn rất chậm, chất dinh dưỡng được
tập trung để phát triển bộ rễ, cây lớn chậm do chưa tận dụng được nguồn dinh dưỡng
tự nhiên.
Chiều cao cây ở thời điểm này dao động ít, đạt từ 14,35-17,57 cm. Chiều cao
cây ở công thức IV đạt cao nhất là 17,57 cm, cao hơn công thức đối chứng 3,22 cm
(công thức đối chứng chỉ đạt 14,35 cm), công thức IV và công thức II có chiều cao
tương đương nhau(17,23 cm và 17,57cm), công thức III đạt 15,49 cm. Như vậy ở thời
kỳ này việc bón các loại phân hữu cơ khác nhau ảnh hưởng không lớn đến sự sinh
trưởng chiều cao cây.
- Giai đoạn ngô 8 lá
Thời kỳ này cây sinh trưởng và phát triển nhanh dần, quang hợp của cây xảy ra
mạnh hơn. Cây ngô chuyển hẳn sang sống nhờ chất dinh dưỡng trong đất. Lúc này bộ
rễ cây đã phát triển hoàn chỉnh và được cung cấp chất dinh dưỡng khá đày đủ nhờ lần
bón thúc thứ nhất. Hiệu suất quang hợp đã đạt đến chỉ số cao nên cây sinh trưởng và
phát triển tốt. Chiều cao cây thời kỳ này biến động từ 63,59 - 69,75 cm. Chiều cao
cây công thức IV đạt cao nhất là 69,75 cm cao hơn 6,16 cm so với công thức đối
chứng (công thức I đạt 63,59 cm). Như vậy kết quả thí nghiệm cho thấy việc bón các

182,42 cm, cao hơn đối chứng 6,93 cm. Công thức III đạt 177,23 cm, cao hơn đối
chứng không đáng kể
Như vậy việc sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt
đến tăng trưởng chiều cao của cây ngô rau. Trong đó bón phân hữu cơ sinh học sông
Gianh có hiệu quả rõ rệt nhất; tiếp đến là phân ủ + vi lượng Bio Quảng Nam. Thấp
nhất là phân chuồng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status