BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐẶNG VĂN CÔNG
ẢNH HƢỞNG CỦA BIỆN PHÁP TRỒNG XEN VÀ CHE PHỦ ĐẾN
SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ
LVN145 TẠI MỘC CHÂU - SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THẾ HÙNG
HÀ NỘI - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Đặng Văn Công
iii
MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục bảng vii
1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 3
2.2. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam và tỉnh Sơn La 5
2.2.1. Tình hình sản xuât ngô của Việt Nam 5
2.2.2. Tình hình sản xuất tiêu thụ ngô ở Sơn La 7
2.3. Những hạn chế và tiềm năng của đất dốc 9
4.1.2. Lƣợng mƣa 39
4.1.3. Độ ẩm không khí 41
4.1.4. Số giờ nắng 42
4.2. Kết quả thí nghiệm 43
4.2.1. Các chỉ tiêu về sinh trƣởng của ngô 43
4.2.2. Các chỉ tiêu về chống chịu và sâu bệnh hại 54
4.2.3. Các chỉ tiêu về xói mòn và dinh dƣỡng trong đất 57
4.2.4. Các chỉ tiêu về năng suất ngô 61
4.2.5. Các chỉ tiêu về cây trồng xen 66
4.2.6. Hiệu quả kinh tế 73
5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
5.1. Kết luận 77
5.2. Đề nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
MỤC LỤC iii
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt
Tên gọi đầy đủ
IPRI
Viện nghiên cứu chƣơng trình lƣơng thực thế giới
NL, KP
Ngô, lạc, không phủ
NL, P
Ngô, lạc, phủ
NĐT, KP
Ngô, đậu tƣơng, không phủ
NĐT, P
Ngô, đậu tƣơng, phủ
GĐ
Giai đoạn
A
0
Độ ẩm
RAVC
Hiệu quả kinh tế
vi
GR
Tổng thu
TVC
Tổng chi
CC
Chiều cao
∆
Biến động
CT
Công thức
TLNM
Tỷ lệ nảy mầm
Bảng 4.2: Tỷ lệ nảy mầm của ngô trên các công thức thí nghiệm tại
Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu 2012 43
Bảng 4.3: Các giai đoạn sinh trƣởng, phát triển của giống ngô thí nghiệm tại
Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu 2012 45
Bảng 4.4: Động thái tăng trƣởng chiều cao cây của giống ngô thí nghiệm tại
Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 47
Bảng 4.5: Động thái tăng trƣởng số lá của giống ngô thí nghiệm 50
tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 50
Bảng 4.6: Chiều cao cây cuối cùng và chiều cao đóng bắp của giống ngô thí
nghiệm tại Mộc Châu - Sơn La vụ hè thu năm 2012 52
Bảng 4.7: Chỉ số diện tích lá của giống ngô thí nghiệm 54
viii
tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 54
Bảng 4.8: Tỷ lệ đổ, trạng thái cây và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của
giống ngô thí nghiệm tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 55
Bảng 4.11: Các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô thí nghiệm
tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 62
Bảng 4.12: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống ngô
thí nghiệm tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 65
Bảng 4.13: Các chỉ tiêu về sinh trƣởng của cây lạc trong điều kiện
trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 66
Bảng 4.14: Các chỉ tiêu về năng suất của cây lạc trong điều kiện trồng
xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 68
Bảng 4.15: Các chỉ tiêu về sinh trƣởng của cây đậu tƣơng trong điều
kiện trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 70
Bảng 4.16: Các chỉ tiêu về năng suất của cây đậu tƣơng trong điều kiện
trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 72
Bảng 4.17: Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 74
tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 74
2
nhƣ: cồn, axit, hydrat cacbon Hiện nay, có khoảng 670 mặt hàng đƣợc chế
biến từ ngô [6].
Hiện nay tại khu vực Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng nhu cầu
ngô hạt đang tăng nhanh, vì thế mà diện tích trồng ngô có xu hƣớng ngày một
mở rộng thêm. Tuy nhiên, do diện tích canh tác trên đất bằng có hạn, chủ yếu
là canh tác trên đất dốc theo phƣơng pháp truyển thống, một số nơi ngƣời dân
canh tác ngô trên đất có độ dốc rất cao, độ dốc có thể lớn hơn 25 độ mà không
áp dụng các biện pháp chống xói mòn nên dẫn đến tình trạng xói mòn, rửa
trôi rất mạnh, đặc biệt vào đầu mùa mƣa. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên,
để góp phần giải quyết những khó khăn trong việc canh tác ngô bền vững và
nâng cao năng suất ngô trên đất dốc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Ảnh hưởng của biện pháp trồng xen và che phủ đến sinh trưởng,
phát triển và năng suất của giống ngô LVN145 tại Mộc Châu - Sơn La”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định ảnh hƣởng của trồng xen và che phủ đến khả năng sinh
trƣởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả kinh tế
của giống ngô LVN145 .
- Lựa chọn đƣợc kỹ thuật che phủ đất và trồng xen có tác dụng hạn chế
xói mòn hiệu quả nhất.
72
Đông á
136
252
85
Nam á
14
19
36
Cận Sahara - Châu Phi
29
52
79
Mỹ LaTinh
75
118
57
Tây và Bắc Phi
18
28
56
Nguồn: IPRI (2003).
Tình hình sản xuất ngô thế giới không ngừng tăng về diện tích đặc biệt
là năng suất đã đem lại sản lƣợng lớn. Số liệu bảng 2.2 cho thấy: Trong năm
2001 diện tích ngô trên thế giới đạt 139,12 triệu ha, năng suất là 4,42 tấn/ha
và sản lƣợng đạt 614,98 triệu tấn. Nhƣng đến năm 2010 tổng sản lƣợng ngô
4
đạt cao nhất từ trƣớc đến nay 840,3 triệu tấn với diện tích là 161,76 triệu ha
704,20
2007
157,0
4,90
766,20
2008
161,16
5,13
826,80
2009
158,81
5,15
819,21
2010
161,76
5,19
840,30
Nguồn: FAOSTAT, 2012
Hiện nay, Mỹ vẫn là nƣớc giữ vị trí dẫn đầu thế giới về diện tích trồng
ngô cũng nhƣ năng suất và sản lƣợng, đứng thứ 2 là Trung Quốc, sau đó đến
Brazil, Mexicô (Bảng 2.3). Đứng đầu về năng suất là Israel với 28,39 tấn/ha,
sau đó là Mỹ (9,59 tấn/ha), đứng thứ 3 là Italia. Năng suất ngô thấp nhất là Ấn
Độ (chƣa đạt 2 tấn/ha).
Bảng 2.3. Một số nƣớc có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới năm 2010
Nƣớc
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Mỹ
8,82
Hy Lạp
0,28
6,03
1,71
Nguồn: FAOSTAT, 2012
5
Tóm lại: Để đáp ứng nhu cầu ngô tăng mạnh trên thế giới, không chỉ
dựa vào cải thiện nền di truyền (giống mới) mà còn dựa vào kỹ thuật canh tác
nhất là cho vùng khó khăn.
2.2. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam và tỉnh Sơn La
2.2.1. Tình hình sản xuât ngô của Việt Nam
Trong hơn 10 năm qua nghề trồng ngô ở Việt Nam phát triển đó là nhờ
những thành tựu trong việc nghiên cứu và sử dụng ngô lai. Thành công này đã
thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nghề trồng ngô ở nƣớc ta vốn đã tồn tại
nhiều yếu kém trong nhiều năm. Năng suất ngô ở nƣớc ta trƣớc đây thuộc loại
rất thấp so với năng suất ngô thế giới, năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện
tích hơn 200 nghìn hecta; đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt
1,1 tấn/ha và sản lƣợng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa
phƣơng với kỹ thuật canh tác lạc hậu. Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác
với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô
cải tiến đã đƣợc đƣa vào trồng ở nƣớc ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5
triệu tấn/ha vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nƣớc ta
thực sự có những bƣớc tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền
với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các
biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới, một sự bắt đầu có lẽ quá
muộn, nhƣng tiếp sau đó lại rất vững chắc đƣợc đánh giá là với tốc độ nhanh
hiếm thấy. Tỷ lệ trồng giống lai ở nƣớc ta từ 0,1% trên hơn 400 nghìn hecta
trồng ngô năm 1990 đã tăng lên khoảng 95% trong số hơn 1 triệu hecta diện tích
34,4
3136,3
2004
991,1
34,6
3430,9
2005
1052,6
36,0
3787,1
2006
1033,1
37,3
3854,6
2007
1096,1
39,3
4303,2
2008
1140,2
40,1
4573,1
2009
1089,2
40,1
4371,7
2010
1125,7
41,1
4625,7
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: Diện tích 19.000 - 20.000 ha, trồng
ở độ cao 0 - 10m. Vụ Đông Xuân gieo vào tháng 11, tháng 12.
Điều kiện ở mỗi vùng có đặc điểm về địa hình, đất đai, điều kiện khí
hậu khác nhau, nên cũng ảnh hƣởng đến sản xuất ngô của từng vùng, nhƣ các
vùng ở Miền núi, chủ yếu trồng ngô trên đất đồi, đất ruộng luân canh, nơi địa
hình không bằng phẳng, do vậy sản xuất ngô còn gặp nhiều khó khăn.
Mặc dù có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng sản xuất ngô ở
Việt Nam nhƣng từ những kết quả đã đạt đƣợc chúng ta vẫn có thể khẳng
định sản xuất ngô của Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển vƣợt
bậc. Tuy nhiên cũng còn không ít thách thức, một trong số những thách thức
đáng chú ý đó là tình trạng độc canh cây ngô trên đất dốc đang diễn ra khá
phổ biến ở hầu hết các vùng đất dố. Vì vậy cần có những giải pháp kịp thời để
vừa phát triển nghề sản xuất ngô vừa đảm bảo đƣợc tính bền vững.
2.2.2. Tình hình sản xuất tiêu thụ ngô ở Sơn La
Ngô ở Sơn La đƣợc sản xuất vào 2 vụ chính đó là vụ Hè Thu trên các
chân đất nƣơng (trồng vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 hàng
năm), vụ Đông trồng trên các vùng đất bãi ven sông suối. Trong thời gian gần
đây bà con đã trồng thử nghiệm ngô vụ Xuân trên các chân đất ruộng sau khi
8
đã thu hoạch lúa Mùa. Với lợi thế về đất đai và khí hậu của mình, sản xuất
ngô ở Sơn La đã không ngừng phát triển trong những năm vừa qua. Diện tích
và sản lƣợng ngô của Sơn La đã không ngừng tăng lên và chiếm một tỷ lệ
đáng kể trong tổng năng suất và sản lƣợng ngô của cả nƣớc. Theo số liệu của
Tổng cụ thống kê thì diện tích ngô của Sơn La năm 1998 là 35,5 nghìn ha,
đến năm 2009 diện tích ngô Sơn La là 132,1 nghìn ha, năm 2010 là 132,7
nghìn ha và năm 2011 là 127,6 nghìn ha (số liệu thống kê sơ bộ). Cùng với sự
tăng lên về diện tích, sản lƣợng ngô của Sơn La cũng không ngừng tăng lên
trong những năm vừa qua. Năm 1998 sản lƣợng ngô của Sơn La là 82,3 nghìn
tấn, đến năm 2009 con số này là 524,3 nghìn tấn, năm 2010 là 417,4 nghìn tấn
phân bón cân đối, chú trọng lựa chọn các biện pháp canh tác ngô trên đất dốc,
mở rộng biện pháp trồng xen gối với cây họ đậu, phòng trừ sâu bệnh bằng hệ
thống quản lý dịch hại, sử dụng các kỹ thuật và biện pháp thích hợp trừ sâu
bệnh cho cây ngô. Gắn cơ sở chế biến với vùng sản xuất ngô. Quản lý chặt
chẽ các tổ chức, đơn vị đƣợc giao sản xuất, kinh doanh ngô giống đảm bảo
cung ứng giống ngô đạt tiêu chuẩn chất lƣợng và vật tƣ phân bón cho sản
xuất. Chú trọng đầu tƣ thâm canh, đƣa giống mới vào sản xuất tăng năng suất
lên 5 tấn/ha vào năm 2012. Ngoài ra, củng cố mạng lƣới các Câu lạc bộ
khuyến nông cơ sở, tăng cƣờng công tác đào tạo tập huấn cho nông dân,
khuyến cáo nhân rộng các mô hình sơ chế, bảo quản nông sản quy mô nhỏ.
Để cây ngô thực sự là cây lƣơng thực chủ đạo, xóa đói giảm nghèo cho
dân cần có sự vào cuộc nhiều hơn nữa của các cấp, các ngành chức năng.
2.3. Những hạn chế và tiềm năng của đất dốc
2.3.1. Hạn chế
* Xói mòn và rửa trôi
Xói mòn và rửa trôi là những mối đe doạ thƣờng xuyên đối với đất dốc
và vùng nhiệt đới ẩm, gây nên sự mất dinh dƣỡng và độ phì của lớp đất mặt,
dẫn đến sự axít hoá trong đất. Những tác động này thậm chí còn trở nên tồi tệ
10
hơn nếu nhƣ đất canh tác không có thảm thực vật che phủ hoặc là đất bị đốt
cháy trƣớc mùa mƣa. Ở Tây Phi, những vùng đất rừng đƣợc chuyển thành đất
canh tác không có thực vật che phủ, chịu ảnh hƣởng khí hậu khắc nghiệt đã
mất đi lƣợng đất khoảng 115 tấn/ha/năm (Fournier, F, 1967) [3].
* Sự thoái hoá đất
Do đất rừng bị phá và đốt để trồng cây hàng năm làm lƣơng thực, đất dốc ở
nhiều vùng ngày càng bị thoái hoá nghiêm trọng. Theo Garrity D.P (1993), có rất
nhiều lý do dẫn đến những hạn chế và sự bất ổn định sản lƣợng trên đất dốc, nhƣng
nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là do thoái hoá đất nhanh cả về mặt sinh học, lý và
hoá học. Việc tăng độc tố nhôm trong đất là do đất bị axít hoá. Thêm vào đó là sự
hầu hết đất bằng ở miền xuôi dành cho sản xuất lƣơng thực thì miền núi là
nơi có tiềm năng đất đai để trồng cây ăn quả, cây lƣơng thực có giá trị
cao,đó là chƣa kể các loài rau quả ôn đới trồng trên các vùng núi cao [3].
* Tiềm năng phát triển chăn nuôi
Muốn đƣa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính thì phải khai thác tiềm
năng đất đai và cây thức ăn gia súc ở miền núi. Nếu mở rộng chăn nuôi ở
miền xuôi thì sẽ gặp trở ngại lớn về môi trƣờng. Hơn nữa đối với đại gia súc
thì sẽ không có đủ đất để xây dựng chuồng trại, khu chăn thả và khu đồng cỏ.
Chỉ có miền núi mới đáp ứng đƣợc những yêu cầu này [3].
* Tiềm năng phát triển nguồn điện
Do có địa hình cao và nguồn nƣớc dồi dào, miền núi là nơi có tiềm
năng thuỷ điện rất lớn. Các hồ chứa nƣớc vừa phục vụ thuỷ điện vừa là nguồn
nƣớc tƣới trong mùa khô và điều hoà lũ lụt trong mùa mƣa. Hiện nay, nguồn
năng lƣợng điện của Việt Nam chủ yếu dựa vào thuỷ điện.
Tóm lại, tuy còn nhiều trở ngại, miền núi là nơi có nhiều tiềm năng cơ
bản cho sự phát triển. Vì vây, cần quan tâm nhiều để vừa thúc đẩy sản xuất,
đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nông dân vùng cao, vừa phải bảo vệ tài
nguyên và môi trƣờng vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của cả dân tộc [3].
12
2.4. Vai trò của vật liệu che phủ và ƣu nhƣợc điểm của một số loại vật
liệu sử dụng che phủ
2.4.1. Vai trò của vật liệu che phủ, cây trồng xen
Sản xuất ngô bền vững trên đất dốc là cải thiện và bảo vệ đất. Biện pháp
đơn giản, ít tốn kém nhất là sử dụng tàn dƣ cây trồng làm vật liệu che phủ. Sử
dụng vật liệu che phủ để che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ bề
mặt là hai yếu tố cơ bản để phát triển canh tác bền vững trên đất dốc. Cụ thể,
sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc có những vai trò nhƣ sau:
- Giảm xói mòn do mƣa và gió; đất tơi xốp, tăng độ hấp thu nƣớc của
đất, giảm dòng chảy bề mặt; giảm bốc hơi, tăng độ ẩm đất; dung hoà nhiệt độ
và đáp ứng đƣợc hầu hết các yêu cầu về sự bền vững trong canh tác đất dốc,
góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trƣờng.
Đối với đất dốc, nếu chúng ta làm đất càng kỹ mà không che phủ thì
xói mòn sẽ sảy ra rất mạnh và nhanh. Nếu canh tác bằng cách làm đất tối
thiểu kết hợp sử dụng một số vật liệu che phủ thì lƣợng đất mất giảm đáng kể.
Bảng 2.6: Hiệu quả của vật liệu che phủ đến dòng chảy bề mặt
và lƣợng đất bị xói mòn
Lƣợng vật liệu
phủ (tấn/ha)
Dòng chảy bề
mặt (%)
Lƣợng dất
(tấn/ha)
Ghi chú
0
50,5
4,83
2
19,7
2,48
Lƣợng mƣa: 61,1 mm
4
8
0,52
Nƣớc: Nigeria
6
1,2
0,05
Giảm: 99%
Rơm rạ, thân
lá ngô, cỏ
dại,cỏ tranh
- Không đòi hỏi nhiều về kỹ
thuật.
- Tốc độ phân huỷ chậm, có
tác dụng kiểm soát cỏ dại tốt.
- Hệ thống đơn giản, dễ dàng
thấy đƣợc tác dụng của các vật
liệu che phủ (xói mòn, cỏ dại,
hoạt động của vi sinh vật).
- Bổ sung lƣợng mùn cho đất
lớn.
- Khả năng sẵn có của rơm
rạ, thân lá ngô, cỏ tranh
- Cải tạo cấu trúc đất kém
Cỏ lào, đậu
mèo
- Có thể sử dụng rộng rãi trong
nhiều điều kiện khác nhau.
- Khả năng sẵn có của địa
phƣơng.
- Lƣợng dinh dƣỡng cho đất
nhiều.
- Kiểm soát cỏ dại.
- Tốc độ phân huỷ nhanh.
- Khó phủ đất đối với
những cây già.
- Cải tạo cấu trúc đấy
trung bình
- Đậu leo lên cây ngô làm cây
bị gãy. Khó khăn khi đi lại thu
hoạch
Lạc dại
- Không đòi hỏi nhiều về kỹ
thuật.
- Cung cấp dinh dƣỡng cho đất.
- Che phủ đất chống xói mòn
- Không cho thu hoạch sản
phẩm. Giai đoạn đầu khi gieo
trồng khó sống
Cỏ voi, cỏ
xả
- Hạn chế xói mòn
- Cung cấp thức ăn chăn nuôi
- Cạnh tranh ánh sáng với ngô,
làm giảm diện tích trồng ngô
2.5. Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc
ở một số nƣớc trên thế giới
Tai hội nghị Quốc tế về Nông nghiệp bảo tồn lần thứ 2 ở Brazil năm
2003, các nhà nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc cho thấy
việc sử dụng vật liệu che phủ cho ngô đã có những bƣớc tiến đáng kể. Diện
16
tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô toàn thế giới là 42,089 triệu ha [7].
Bảng 2.8: Diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thế giới
Nƣớc
Diện tích (triệu ha)
% so với tổng diện tích trồng trọt
(6,5 triệu ha), Achentina (4,4 triệu ha) [7].
Ở một số khu vực đang phát triển khác, đặc biệt là châu Á và châu Phi
tuy việc sử dụng vật liệu che phủ trong sản xuất ngô chậm hơn so với các
nƣớc phát triển song diện tích sử dụng vật liệu che phủ đã có những bƣớc
tiến đáng kể (diện tích chiếm 12% so với diện tích sử dụng vật liệu che phủ
cho ngô trên thế giới). Nguyên nhân do việc sử dụng vật liệu che phủ cho
sản xuất ngô là một biện pháp đơn giản và ít tốn kém. Thêm vào đó, do
năng suất và sản lƣợng ngô tăng lên do sử dụng vật liệu che phủ nên đã
kích thích ngƣời nông dân mở rộng diện tích gieo trồng. Ngoài ra, sự gia
tăng dân số ở nƣớc châu Phi và cũng nhƣ một số nƣớc châu Á đã thúc đẩy
việc gia tăng diện tích sử dụng vật liệu che phru cho sản xuất ngô để đảm
bảo nhu cầu về lƣợng thực.