Nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè PH10 tại phú thọ - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THỊ THIỆN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
VẬT LIỆU CHE PHỦ ĐẾN SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG CHÈ PH10
TẠI PHÚ THỌ NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Hoàng Văn Phụ
TS: Đặng Văn Thư
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thiện

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CV% Mức độ biến động số liệu
CTV Cộng tác viên
KTCB Kiến thiết cơ bản
LSD
0,05
Giá trị sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
P Hệ số Prob
TB Trung bình


1.2.2. Nghiên cứu về các loại vật liệu che phủ cho chè 16
1.2.3. Nghiên cứu về kỹ thuật che phủ cho chè 17
1.3. Đặc điểm của giống chè PH10. 21
PHẦN 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Vật liệu nghiên cứu, thời gian và địa điểm thực hiện 22
2.1.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Công thức thí nghiệm và bố trí thí nghiệm 22
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây chè non: 24
2.4.2. Các chỉ tiêu về năng suất chè 25
2.4.3. Các chỉ tiêu sinh trưởng của bộ rễ: Thời gian theo dõi: tháng 08/2014 25
2.4.4. Các chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu 25
2.4.5. Các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu 26
2.4.6. Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu của cây chè 27
2.4.7. Chỉ tiêu nghiên cứu về tính chất vật lý, hoá học đất và vi sinh vật đất 27
2.4.8. Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 29
2.4.9. Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến sinh trưởng, năng suất,
chất lượng và sâu bệnh hại của giống chè PH10. 30
3.1.1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến sinh trưởng của giống
chè PH10 30
3.1.2. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến sinh trưởng bộ rễ của
các giống chè PH10 32
3.1.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến một số yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống chè PH10 33
3.1.4 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến chất lượng nguyên liệu

từng tháng trên đất trồng các giống chè PH10 55
3.2.9 Ảnh hưởng của che phủ bằng trồng cây họ đậu đến hóa tính đất trồng các
giống chè PH10. 56
3.2.10 Ảnh hưởng của che phủ bằng trồng cây họ đậu đến vi sinh vật đất trồng
giống chè PH10. 57
3.2.11. Khối lượng nốt sần và khối lượng chất xanh của các loại cây họ đậu 58
3.2.12 Phân tích hiệu quả kinh tế của thí nghiệm che phủ bằng trồng cây họ đậu 59
Phần 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
4.1 Kết luận: 61
4.2. Đề nghị 61
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng 31
thân cành của giống chè PH10 31
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật 32
đến sinh trưởng bộ rễ của giống chè PH10 32
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật đến một số 34
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống chè PH10 34
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các công thức vật liệu che phủ là tàn dư thực vật vật đến
chất lượng nguyên liệu chè búp tươi của giống chè PH10 36
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tàn dư thực vật đến một số chỉ tiêu sinh
hóa và tổng điểm thử nếm cảm quan của giống chè PH10. 37
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ là tàn dư thực vật 39
đến một số sâu hại chính trên giống chè PH10 39

Bảng 3.23: Phân tích hiệu quả kinh tế của thí nghiệm che phủ 60
bằng trồng cây họ đậu đối với giống PH10 60
1

MỞ ĐẦU

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có giá trị
kinh tế cao, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè được quan tâm và đầu tư
phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập
cho người sản xuất và kim ngạch xuất khẩu của Nhà nước.
Với 3/4 diện tích đất là đồi núi, Việt Nam có tiềm năng canh tác đất dốc rất
lớn. Hiện nay, trong điều kiện biến đổi khí hậu đang diễn ra rất mãnh liệt, kèm theo
rất nhiều vấn đề như: Nhiệt độ trái đất tăng, nước biển dâng dẫn đến diện tích đất
canh tác ở vùng trũng, đặc biệt là các vùng ven biển bị giảm mạnh. Trước tình trạng
trên, vấn đề khai thác hợp lý và bảo vệ đất dốc càng phải được quan tâm. Canh tác
đất dốc, nếu không có các biện pháp canh tác hợp lý sẽ phải đối mặt với các vấn đề
như xói mòn, rửa trôi… dẫn đến phá hủy tầng canh tác và làm thoái hóa đất, đồng
thời còn gián tiếp gây ra các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, hạn hán.
Sản phẩm từ cây chè được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều dạng khác
nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Người ta uống chè không chỉ để thưởng thức
hương vị độc đáo của nó mà còn do uống chè có lợi cho sức khỏe. Các nhà khoa học Nhật
Bản khi nghiên cứu các loại thực phẩm chất lượng cao đã xác nhận uống chè có tác dụng
bổ dưỡng cho cơ thể, chống phóng xạ, ngăn ngừa và chống bệnh tim mạch, viêm nhiễm…
Do chè có những tác dụng tốt lại là thức uống phù hợp với mọi đối tượng nên số người
uống chè ngày càng tăng.
Cây chè có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng trung du miền núi
Việt Nam. Thời gian qua, sau khi nhà nước có hàng loạt chính sách phát triển các

các giống chè khác và đòi hỏi phải có chế độ thâm canh cao. Trong các biện pháp
thâm canh ngoài vấn đề phân bón và các biện pháp kỹ thuật kèm theo, canh tác chè
hiện nay vấn đề che phủ cho nương chè KTCB là một biện pháp quan trọng trong
canh tác chè bền vững. Vì vậy việc xác định vật liệu thích hợp là cần thiết đối với
giống chè này. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển
của giống chè PH10 tại Phú Thọ”.
1. Mục tiêu của đề tài.
- Xác định vật liệu che phủ thích hợp cho giống chè PH10 giai đoạn kiến thiết
cơ bản.

3

2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến sinh trưởng của
giống chè PH10 giai đoạn chè KTCB.
- Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến một số yếu tố cấu
thành năng suất, chất lượng của giống chè PH10 giai đoạn chè KTCB.
- Đánh giá được ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến lý, hoá tính đất, vi
sinh vật đất trồng chè.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa vật liệu che phủ đến giống PH10 giai đoạn
chè kiến thiết cơ bản.
3. Ý nghĩa khoa học
Đề tài đánh giá một cách có cơ sở khoa học về ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ
đất (loại vật liệu che phủ) đến các chỉ tiêu lý, hóa tính đất, sinh trưởng, năng suất,
chất lượng và sâu bệnh của giống chè PH10 giai đoạn chè kiến thiết cơ bản tại Viện
Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học
nghiên cứu về cây chè phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất.

phân hủy.
1.1.1. Yêu cầu sinh thái của cây chè
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc
Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt
những yêu cầu sau: Đất tốt, nhiều mùn và thoát nước. Độ PH thích hợp cho chè phát
triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải
dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường. (Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim
Phong, 1979) [13].
Quan hệ giữa đất và chất lượng chè rất phức tạp. Phẩm chất do nhiều yếu tố
quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều kiện nhất định thì
điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất. Kinh nghiệm của

5

Trung Quốc cho thấy chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp
cho việc chế biến chè xanh, mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng
trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu
hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít (Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Văn Ngọc,
1998 [17].
Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được
phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica. Ở vùng núi phần lớn là đất
feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét. Về cơ bản những loại đất
này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu
hơn 1 mét và thoát nước. Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các
vùng trồng chè cũ. Vì vậy vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè
và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết. Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón
đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè. Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu
cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã gây
hại cho cây chè. Bởi thế người ta không dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ khi
đất có độ pH quá thấp, dưới 4 (Đỗ Ngọc Quỹ, 1989) [14].

vững trong nông nghiệp. Độ phì nhiêu đất của các hệ canh tác đang bị đe doạ bởi sự
thoái hoá đất do con người cũng như môi trường gây nên. Ở Việt Nam, gần 15 triệu
hecta, tức 75% tổng diện tích đất đồi núi bị ảnh hưởng bởi yếu tố con người thông
qua xói mòn (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm và Trần Đức Toàn,1997) [11].
Sử dụng các loại vật liệu che phủ đất phục vụ sản xuất ngô bền vững trên đất dốc
ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái đã chứng minh tính ưu việt của việc che tủ đất: Che tủ
đất dốc bằng xác thực vật có tác dụng tích cực đến sinh trưởng phát triển của ngô, đồng
thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc và tăng năng suất ngô từ 8,9% lên
54,42%; tùy từng điều kiện cụ thể của địa phương mà có thể sử dụng các vật liệu khác
nhau như thân ngô, xác cỏ dại hoặc vật liệu hỗn hợp để che tủ. Khối lượng tủ 10 tấn/ha
cho năng suất cao nhất, tuy nhiên trong trường hợp hiếm vật liệu thì lượng phủ 7 tấn/ha
cũng có thể chấp nhận được vì hiệu quả đầu tư cao. Che phủ bằng xác hữu cơ là một
biện pháp canh tác trên đất dốc hiệu quả tăng thu nhập cho người nông dân từ 782.000
đ/ha đến 1.245.000 đ/ha tuỳ từng loại vật liệu và mức độ che phủ. Từ đó góp phần cải

7

thiện đời sống của người dân vùng cao mà vẫn bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên
(Nguyễn Quang Tin, Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, 2005) [18].
Khi nghiên cứu trên nhiều thí nghiệm che phủ bằng tàn dư thực vật như rơm
rạ, thân lá ngô, thân lá đậu đỗ, và thực vật sống như lạc dại, đậu nho nhe, các loại
cây họ đậu hoang dại ở các địa điểm khác nhau như: Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La,
Bắc Kạn đã có các kết quả tổng hợp sau
Thí nghiệm ảnh hưởng của kĩ thuật che phủ đất đến năng suất cây trồng trên đất
dốc. Các cây trồng trong thí nghiệm gồm: ngô, lúa, sắn, lạc củ và chè giống Phúc Vân
Tiên tuổi 2; các vật liệu được sử dụng để che phủ như: rơm rạ, thân lá ngô, mía; thân lá
cây đậu đỗ; công thức đối chứng là không che phủ. Che phủ đất là một biện pháp hữu
hiệu trong việc tăng suất cây trồng, năng suất tăng thấp nhất là 13,9% đối với lạc đồi và
cao nhất 278% đối với giống chè Phúc Vân Tiên tuổi 2, trung bình là 62,6%, 83,3% và
46,2% tương ứng với ngô, lúa, sắn.

+ 120kg K
2
0 / ha (công thức I) cho cả tổ hợp cây trồng đã cho hiệu quả
so với đối chứng. Trồng cây phân xanh không xen lạc và không bón phân hoá học:
Mức độ che phủ là 85,6% còn đối chứng chỉ là 11,7% (tăng 7,3 lần). Xói mòn đất
giảm 4,5 lần, lượng chất xanh thu được làm phân bón là 8,24 tấn/ha. Sau 3 năm
nghiên cứu, ở công thức thí nghiệm tăng C tổng số, tăng dung tích hấp thụ của keo
đất, tăng độ pH lên 0,5 đơn vị, giảm ion AL
3+
, giảm dung trọng đất tăng độ xốp so
với đối chứng và so với đất trước khi thí nghiệm. Năng suất chất khô ở công thức I
tăng dần qua các năm so với công thức đối chứng. Năng suất Lạc củ đạt 6,43 tạ/ha,
năng suất Sắn củ đạt 66,1 tạ/ha còn đối chứng chỉ là 36 tạ/ha. Từ đó cho thấy hiệu
quả của công thức thí nghiệm là rất lớn, lãi thuần tăng 1,9 lần so với công thức đối chứng.
Khi nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung
Quốc nhập nội đã đưa ra những kết quả cho thấy lợi ích của việc tủ gốc (Nguyễn Thị
Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh, 2006) [3].
Chiều cao cây trung bình và mức tăng trưởng chiều cao cây ở các công thức
che phủ đều lớn hơn khác biệt so với đối chứng. Mức tăng trưởng 3 năm của các
công thức che phủ đạt từ 36,0 – 38,4cm trong khi đó ở công thức đối chứng chỉ đạt
28,3cm. Đạt mức cao nhất là công thức 3 (che phủ tế) và công thức 4 (che phủ cỏ
Ghi-nê), công thức 1 (che phủ rơm) và công thức 5 (che phủ cỏ dại tổng hợp) có
mức tăng tương đương nhau.
Chiều rộng tán và mức tăng trưởng chiều rộng tán ở các công thức che phủ
cao hơn so với đối chứng. Ở các công thức che phủ, mức tăng trưởng đạt từ 53,6 –
60,9cm, còn công thức đối chứng chỉ đạt 46,6cm thấp hơn rất nhiều. Tương tự như
chỉ tiêu chiều cao cây, mức tăng độ rộng tán cao hơn ở hai công thức: công thức 3

9



10

Canh tác ngô trên đất dốc với biện pháp tạo tiểu bậc thang kết hợp với che
phủ đất có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng phát triển của cây ngô (tăng chiều
cao cây từ 8,4cm (đối chứng) lên 11,3cm và 13,3cm (tiểu bậc thang và che phủ đất),
đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc và tăng năng suất ngô từ
14,1 – 31,8% so với đối chứng. Tạo tiểu bậc thang kết hợp với che phủ đất là biện
pháp canh tác đất dốc có hiệu quả, tăng thu nhập cho người dân từ 20,87 – 32,64
triệu đồng/ha (Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh và Nguyễn Quang Tin, 2008) [20].
Che phủ đất có tác dụng tích cực trong việc làm cho cây chè Kim Tuyên
sing trưởng mạnh và làm tăng năng suất, phẩm chất của cây chè so với việc không
che phủ. Hiệu quả nhất là che phủ bằng nilon, tiếp đến là che phủ bằng cỏ Ghine
và che phủ bằng lặc dại (Lê Thị Quyên, 2009) [15].
Vai trò không thể thay thế của cây phủ đất trong việc bảo vệ đất:
Tạo một lớp phủ nhanh chóng bảo vệ đất, chống xói mòn và dòng chảy trên
mặt đất;
Giữ chất dinh dưỡng và nước bớt trôi theo chiều sâu, kéo chất dinh dưỡng ở
dưới sâu lên tầng đất canh tác;
Bổ sung đáng kể vào đất nguồn dinh dưỡng cây trồng, đặc biệt là đạm (cây
phân xanh họ đậu có thể cung cấp từ 200 đến 300 kg N/ha) và kali (300 đến 350 kg
K
2
O/ha), chống lại sự giữ chặt lân và góp phần giải phóng lân dễ tiêu;
Tạo cấu trúc đất làm cho đất tới xốp, tăng độ thấm nước và giữ nước;
Điều hòa tiểu khí hậu khu vực và môi trường đất chung quanh hệ rễ cũng
như trong cả quần thể cây trồng;
Tăng cường điều hòa chất hữu cơ trong môi trường, do vậy tăng tính đệm
đối với tác động ô nhiễm (Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm, 1982) [10].
1.1.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của che phủ đất đến tính chất vật lí và vi sinh

Canh tác trên đất dốc có nhiều hạn chế mà hầu hết những hạn chế này là kết quả của
quá trình canh tác bất hợp lý. Vì vậy cần phải có sự quan tâm chăm sóc tới đất dốc
nhiều hơn nữa để sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng cao, giúp vừa ổn
định, tăng năng suất cây trồng lại vừa bảo tồn được tài nguyên đất, tài nguyên nước
theo hướng nông nghiệp bền vững. Từ những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả
Bùi Quang Toản đã đưa ra giải pháp cơ bản để sử dụng tốt đất đồi dốc đó là: phải có
những hệ thống cây trồng và kỹ thuật canh tác phù hợp. Các hệ thống canh tác trên
đất dốc ở miền núi rất đa dạng và mang tính bản địa; các hệ thống cổ truyền đơn
giản nhưng không đảm bảo phát triển; các hệ thống chuyển tiếp tiến bộ hơn nhưng
không ổn định và có xu hướng dễ bị phá vỡ để trở về hệ thống cổ truyền; các
hệ thống hiện đại mang tính chất sản xuất hàng hoá và yêu cầu đầu tư cao kể
cả vốn và kỹ thuật. Cũng theo tác giả dù hệ thống nào cũng đạt yêu cầu về độ
che phủ tối đa, nhiều tầng và che phủ liên tục quanh năm, đồng thời cây trồng
có bộ rễ khoẻ nhiều tầng thì sẽ là hệ thống tối ưu nhất và bền vững nhất (Bùi
Quang Toản (1991) [19].
Phát triển hệ thống cây trồng trên đất dốc phải gắn liền với sự giữ gìn và
quản lý đất, nước, dinh dưỡng. Công tác quản lý này không chỉ ảnh hưởng đến
sản lượng cây trồng mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước, môi trường sống của
con người một cách lâu dài. Để canh tác trên đất dốc cần có những biện pháp
kỹ thuật thích hợp kèm theo để hạn chế xói mòn rửa trôi, giữ ẩm, hạn chế cỏ
dại gây hại cây trồng (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm,2002) [12].

12

Đất nông nghiệp vùng Tây Bắc có nhiều hạn chế và sử dụng chưa hiệu quả,
cây hàng năm chiếm đến 67,4% trong cơ cấu cây trồng nên lượng đất bị xói mòn,
rửa trôi rất lớn (Theo Lê Thái Bạt, 1996) [1].
Cây chè chủ yếu được trồng trên đất dốc ở nước ta, biện pháp nâng cao độ
phì của nương chè là một trong những nội dung trong thâm canh tăng năng suất
cây chè. Lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng khi canh tác chè trên

3+
, giảm
dung trọng đất, tăng độ xốp đất so với đối chứng. Hiệu quả kinh tế của công thức thí
nghiệm rất lớn: lãi thuần tăng 19 lần so với đối chứng (Nguyễn Đậu, 1991) [6].
Trong báo cáo kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu của kĩ thuật tủ rác, tưới
nước đến năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên” với
thí nghiệm trên giống chè Trung du trồng bằng hạt tuổi 7 đã kết luận: Che phủ gốc
chè có tác dụng giữ ẩm tốt, giảm nhiệt độ đất vườn chè, chống xói ṃòn và
tăng năng suất chè, với nguyên liệu tủ gốc là cây cỏ dại, phế liệu thực vật
Nếu như đất được che phủ thì sẽ giảm được cường độ ánh sáng trực tiếp chiếu
xuống mặt đất, quá trình phân giải mùn và các chất hữu cơ được kìm hãm lại,
chất hữu cơ dự trữ được duy trì, độ phì của đất được bảo vệ và đất không
ngừng được bồi dưỡng (Nguyễn Thị Ngọc Bình và Nguyễn Văn Toàn, 2005) [2].
Khi nghiên cứu các biện pháp che tủ đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền
vững với vật liệu che phủ là tàn dư thực vật như rơm rạ, thân lá ngô, thân lá đậu đỗ,
cỏ Stylo, lạc dại, đậu nho nhe, các loại cây họ đậu hoang dại cho rằng: các kỹ thuật
nâng cao độ che tủ đất và canh tác theo kiểu làm đất tối thiểu trên đất dốc có thể hạn
chế được xói mòn rửa trôi và cỏ dại; cải tạo độ phì và các đặc tính của đất, đồng
thời làm tăng năng suất cây trồng; tiết kiệm chi phí lao động (Hà Đình Tuấn, Lê
Quốc Doanh và CTV. 2006) [23].
Tóm lại: Canh tác đất dốc, nếu không có biện pháp canh tác hợp lý sẽ dẫn đến
xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất. Chính vì vậy, nghiên cứu về kỹ thuật canh tác đất
dốc đã được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước. Các công trình nghiên cứu trên hầu hết tập chung vào nghiên cứu các loại vật
liệu dùng để che phủ đất như: rơm rạ, thân ngô, cỏ, than bùn và một số tàn dư cây
trồng khác Một số công trình nghiên cứu khác đi vào nghiên cứu thời gian che tủ
(Z.A.Firoz, M.M.Zaman, M.S.Uddin và M.H.Akand ,2009) [36]…Đối tượng

14



là trong thời điểm nắng hạn và ở những nơi không có điều kiện tưới nước. Ngoài ra
che phủ đất cũng giúp làm tăng hiệu quả sử dụng các loại phân bón cho cây chè.
Độ che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ thực vật là hai yếu tố cơ
bản để chống xói mòn, tăng cường hoạt tính sinh học và tăng các quá trình tái tạo
dinh dưỡng, tái tạo những tính chất cơ bản của đất như: cấu tượng đất, độ xốp, hàm
lượng mùn, hoạt tính sinh học, độ pH, giảm độ độc nhôm, sắt. Hướng đi cơ bản để
canh tác bền vững trên đất dốc ở vùng cao nhiệt đới là cải thiện và giữ gìn đất, biện
pháp rẻ tiền và đa dụng nhất là tái sử dụng tàn dư cây trồng làm vật liệu che phủ (Lê
Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn, 2005) [7]. Che phủ bề mặt đất bằng
xác thực vật có những lợi ích sau:
Giảm xói mòn đất do mưa gió, đất tơi xốp, tăng độ hấp thu nước, giảm dòng
chảy bề mặt, giảm bốc hơi nước, tăng độ ẩm đất. Trung hoà nhiệt độ bề mặt đất (ấm
trong mùa đông, mát trong mùa hè). Tăng độ ổn định các cấu trúc bề mặt đất, chống
kết vón và đóng váng, tạo độ thông thoáng cho đất. Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân
bón. Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, giảm độc tố gây hại cho
cây trồng. Tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ phát triển khoẻ, cây
sinh trưởng tốt. Tăng và ổn định năng suất, chất lượng cây trồng một cách bền vững.
Hạn chế du canh du cư, tạo điều kiện cải thiện nguồn tài nguyên đất, nước và
rừng. Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận, việc không đốt tàn dư thực vật sẽ
giảm nguy cơ cháy rừng, giảm lượng CO2 thải vào không khí. Giảm nhu cầu sử
dụng phân vô cơ, giảm ô nhiễm nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải
gây hiệu ứng nhà kính.
Đất và nước ít hoặc không bị ô nhiễm, bệnh tật giảm, sức khoẻ cộng đồng
được cải thiện. Hiệu quả kinh tế cao nên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững
hơn. Nhìn chung, khi áp dụng các biện pháp che phủ đất đã mang lại nhiều lợi ích
và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu trong canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá
đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trường.
năm liên tục áp dụng biện pháp che tủ bằng cỏ cho thấy hầu hết đều có tác dụng về
khả năng giữ nước (Othieno, 1988) [38].


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status