Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ CẨM MỸ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA VẬT LIỆU
CHE PHỦ ĐẾN SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHÈ
GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN VÀ ĐỘ PHÌ ĐẤT
TẠI PHÖ HỘ - TỈNH PHÖ THỌ Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
Nguyễn Thị Cẩm Mỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các thầy cô giáo giảng dạy, thầy giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ
của các cơ quan, tập thể, cá nhân và nhân dân địa bàn nơi thực hiện đề tài. Tôi
xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Bình - Phó trưởng bộ môn Nông Lâm kết hợp-
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
GS. TS. Nguyễn Thế Đặng - Trưởng phòng Hành chính tài vụ -
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
2.2.3. Một số nghiên cứu về đất dốc ở nước ngoài 17
2.2.4. Đất dốc ở Việt Nam và biện pháp canh tác 20
3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 26
3.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 26
3.2.1.1. Tình hình sản xuất 26
3.2.1.2. Tình hình tiêu thụ 30
3.2.2. Tình hình sản xuất và phương hướng phát triển của ngành
chè Việt Nam 32
3.2.2.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè 32
3.2.2.2. Phương hướng phát triển ngành chè 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phần III. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 42
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 42
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 42
3.2. Vật liệu nghiên cứu 42
3.2.1. Cây trồng 42
3.2.2. Vật liệu che phủ 42
3.2.3. Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 42
3.2.4. Các vật dụng khác 43
3.3. Nội dung nghiên cứu 43
3.4. Phương pháp nghiên cứu 43
3.4.1. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 43
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp quan trắc 44
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 49
Phần IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 50
4.1.1. Địa hình 50
4.3.5. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến độ phì đất 84
4.3.6. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hoạt đông của vi sinh vật đất 86
4.3.7. Mức độ hoai mục của lớp phủ thực vật 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1. Kết luận 89
2. Đề nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ 27
Bảng 2.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm 28
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của thế giới và một số
nước trồng chè chính năm 2004 29
Bảng 2.4: Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới năm
2000 - 2005 và dự báo năm 2010 31
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm
1996 - 2006 34
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu đạt được từ năm 2002 - 2008 38
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất đai của xã Phú Hộ 51
Bảng 4.2: Diễn biến thời tiết khí hậu tại Phú Hộ 11 tháng năm 2009 52
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều rộng tán chè 55
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến đường kính thân chè 55
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao cây 56
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chỉ số diện tích lá 57
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng cỏ dại ở
các công thức 59
Bảng 4.8: Diễn biến mật độ rầy xanh ở các công thức 61
Hình 4.4: Diễn biến mật độ nhện đỏ nâu ở các công thức 68
Hình 4.5: Mật độ búp chè ở các công thức 69
Hình 4.6: Khối lượng búp chè ở các công thức 71
Hình 4.7: Năng suất chè ở các công thức 78
Hình 4.8: Động thái ẩm độ đất tầng 0 - 20cm nhờ lớp phủ thực vật 80
Hình 4.9: Khả năng kiểm soát xói mòn của vật liệu che phủ (năm 2009
tại Phú Hộ - Phú Thọ) 83
Hình 4.10: Diễn biến độ hoai mục của vật liệu che phủ 87
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có tỷ lệ đất đồi núi (đất dốc) chiếm trên 3/4 diện tích trong
tổng số 33,12 triệu ha đất tự nhiên. Nhìn chung đây là những loại đất khó khai
thác và sử dụng kém hiệu quả, đặc biệt là khi đất đã mất đi lớp thảm thực vật
che phủ. Đất đồi núi (đất dốc) phân bố ở cả 7 vùng sinh thái của Việt Nam,
nhưng chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, Tây Trung Bộ và Tây Nguyên.
Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 15º (chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho
sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích đất có độ dốc từ 15 - 25º (chiếm 16,4%),
còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 25º (chiếm 61,7%). Đây là những vùng đất bị
thoái hóa nặng rất khó phục hồi để tái sử dụng cho nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, nhờ có sự đầu tư tái trồng rừng của Chính
phủ Việt Nam và việc áp dụng rộng rãi các kỹ thuật tiến bộ trong thâm canh
đất thung lũng và đất ruộng bậc thang nên sức ép khai thác đất dốc đã giảm,
độ che phủ rừng dần được hồi phục. Năm 2007, theo số liệu của Tổng cục
thống kê thì diện tích đất có rừng đã đạt 12,74 triệu ha (đạt 38,48% so diện
tích đất tự nhiên của Việt Nam).
trôi lượng mùn, dinh dưỡng khá cao. Sự thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối
với nhiều vùng, đặc biệt là vùng đồi núi.
Vùng Phú Hộ - tỉnh Phú Thọ là một điển hình của trung du miền núi
phía Bắc, có địa hình kiểu đồi bát úp trung du, có độ dốc từ 8 - 10º xen kẽ các
thửa ruộng bậc thang. Đất đai có 2 loại là đất ferarit đỏ vàng phát triển trên
phiến thạch mica, tầng đất mịn khá sâu 1 - 3m, và đất ferarit phát triển trên đá
Gnai, phiến thạch pecmatit có tầng dày. Cây chè là thế mạnh của vùng, phần
lớn diện tích gò đồi được trồng chè. Tuy nhiên người làm chè mới chỉ chú
trọng đến khai thác sản phẩm mà chưa chú ý đầu tư đúng mức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, hiểu được vai trò
của lớp thực vật trong bảo vệ đất chống xói mòn, làm cho đất mầu mỡ hơn,
kiểm soát cỏ dại, giữ ẩm, tăng năng xuất cây trồng, tăng thu nhập cho người
dân, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ
đến sinh trưởng, phát triển của chè giai đoạn kiến thiết cơ bản và độ phì
đất tại Phú Hộ - tỉnh Phú Thọ”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được loại vật liệu dùng phủ cho chè (Vật liệu hữu cơ).
- Đánh giá được ảnh hưởng của các biện pháp phủ đất tới sinh trưởng
và năng suất của chè.
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp che phủ đất tới bảo vệ độ
phì của đất trồng chè.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Từ kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần xác định cơ sở lý luận và thực
tiễn để phát triển các hệ thống canh tác bền vững trên đất dốc (chống xói mòn,
rửa trôi đất, cung cấp dinh dưỡng, chất hữu cơ cho đất, tăng độ phì, tăng độ pH,
xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và tiêu dùng, họ buộc phải
khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đã cạn kiệt. Kết quả là môi
trường sống bị suy thoái với sự gia tăng của thiên tai như hạn hán và lũ lụt
kéo dài, đất đai bị nghèo kiệt, năng suất cây trồng giảm làm cho đời sống của
người dân càng gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, đất dốc cần được quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều hơn
nữa nhằm sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng cao để tăng và ổn định
năng suất cây trồng. Cần có một cái nhìn khác và đổi mới về quan niệm sử
dụng và quản lý đất dốc đặc biệt là chống thoái hoá đất, tăng độ phì và dung
tích hấp thu bằng các biện pháp sinh học. Các giải pháp duy trì và bảo vệ độ
phì của đất phải đa dạng và mang tính hệ thống, phải kết hợp đồng bộ để phát
triển giữa trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên vùng đất dốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
* Các giải pháp chủ yếu:
Sự thoái hóa của đất thường kéo theo sự mất nước và thiếu hụt dinh
dưỡng, theo kết quả nghiên cứu của Mutert E. và Fairhurst T (1997) [9] thì
các yếu tố dinh dưỡng mà đất dốc thường thiếu nhất là đạm, lân, kali, canxi và
manhê. Ngoài ra khi đất bị thoái hoá thường có biểu hiện bị chua, độ pH thấp
của nhiều loại đất dốc có liên quan đến độ độc nhôm và sắt làm giảm hiệu lực
của phân bón. Do vậy việc hiệu chỉnh sự thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng chủ
yếu (N, P, K, Ca, Mg) nhờ bón phân hợp lý và đặc biệt là phải có các giải
pháp quản lý tổng hợp thì mới phát huy được thế mạnh của đất dốc vùng nhiệt
đới nóng ẩm. Bên cạnh đó sức sản xuất của nhiều loại đất dốc cũng bị ảnh
hưởng bởi yếu tố vật lý như: Khả năng giữ nước kém, đất bị đóng váng, rửa
trôi và đặc biệt là bị nén chặt. Các tác giả cho rằng muốn quản lý sử dụng
hiệu quả đất dốc nhiệt đới ẩm thì con đường duy nhất là phải xây dựng một
nền nông nghiệp bền vững dựa trên cơ sở chống xói mòn, rửa trôi, cải tạo độ
xốp, hoạt tính sinh học, độ pH, độ độc nhôm sắt… Song song với quá trình
che phủ là phải giảm thiểu các hoạt động gây xáo trộn đất như cày bừa, xới
xáo Đẩy mạnh các kỹ thuật làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, đảm bảo
không đốt mà phải sử dụng triệt để tàn dư cây trồng, cỏ dại để trả lại chất hữu
cơ cho đất, bảo vệ và cải tạo đất thông qua che phủ. Có như vậy mới đảm bảo
sức sản xuất của đất một cách bền vững (Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ,
Hà Đình Tuấn, 2005) [4].
Sử dụng biện pháp tổng hợp như cơ cấu cây trồng thích hợp, tăng vụ
cùng với các biện pháp canh tác luân canh, xen canh, trồng bằng cây xanh
theo đường đồng mức để tạo lớp phủ thực vật tối đa trong mùa mưa, kết hợp
với các biện pháp xẻ rãnh, tạo bồn, bón phân đã giảm được lượng nước chảy
tràn bề mặt và lượng đất bị xói mòn tùy theo lượng mưa và cường độ mưa:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
- Với cây hàng năm: Lượng đất bị xói mòn giảm 48 - 50% trên đất phù
sa cổ Ba Vì, 22% trên đất đồi thoái hóa Tam Đảo, 53% trên đất phiến thạch
sét Hòa Sơn so với không áp dụng các biện pháp chống xói mòn và đất trống.
- Với cây lâu năm: 84% trên đất phiến thạch sét Hòa Sơn, 65% trên đất
badan Hòa Thắng, Đắc Lắc, 60% trên đất phiến sét Co Càng, Lạng Sơn so với
không áp dụng các biện pháp chống xói mòn và đất trống (Trần Đức Toàn
2006)[29].
Theo tác giả Uexkull H.R. và Mutert E (1995) [44] cho rằng có thể cải
tạo độ phì của đất, làm cho tầng đất mặt dày lên, giàu dinh dưỡng hơn là tăng
sức sản xuất của đất dốc bằng cách trồng các loài cây họ đậu và che phủ đất
để làm giàu hoạt động sinh học, làm giàu dinh dưỡng của tầng đất mặt, ngăn
chặn sự xói mòn, đóng váng, nén chặt đất. Đây là một trong những bước đầu
tiên rất quan trọng.
Tóm lại, hạn chế thoái hóa đất, rửa trôi là công việc thường xuyên và
nghiệp phát triển của nước ta. Đất bị thoái hoá không những làm mất đi độ
mầu mỡ mà còn kéo theo sự mất nước, kéo theo quá trình hoang mạc hoá và
sa mạc hoá (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1999) [28].
Quá trình thoái hoá đất diễn ra theo hai xu hướng lớn là: Thoái hoá tự
nhiên (thoái hoá tiềm năng) và thoái hoá do con người (nhân tác).
- Thoái hoá tự nhiên (thoái hoá tiềm năng)
Đây là quá trình thoái hoá đất tự nhiên diễn ra ngay trong giai đoạn
phát triển của đất khi chưa có sự tác động của con người. Qúa trình này thể
hiện như một giai đoạn biến đổi trong đại tuần hoàn vật chất. Ở nước ta, đất
Feralit là một thí dụ phổ biến, sự phát triển sâu sắc đất Feralit trong điều kiện
địa lý nhất định đã hình thành lớp kết von đá ong trong phẫu diện đất. Chính
lớp kết von này mặt chắn tách rời quan hệ phẫu diện đất với vỏ phong hoá và
mẫu chất. Và quá trình phong hoá đất đồng thời xảy ra (Thái Phiên, Nguyễn
Tử Siêm, 1998) [24].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Ngoài ra, dưới tác động của thiên nhiên như: Gió, mưa lớn tập trung và
giông bão lụt lội, những cực đoan thoái hoá đất ở miền núi dốc là những hiện
tượng trượt lở sườn, vùi lấp thung lũng dang diễn ra phổ biến. Tuy nhiên,
thoái hoá tự nhiên không gây lên những biến động có ảnh hưởng lớn đến đời
sống cộng đồng.
- Thoái hoá do con người (nhân tác)
Ở Việt Nam có nguồn gốc do chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm
rẫy, huỷ hoại môi trường sống. Đây là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng
xâm nhập và gia tăng mạnh mẽ diện tích đất thoái hoá, sa mạc hoá ở Việt
Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung.
Đất đồi núi ở nước ta vốn được hình thành dưới tán rừng nhiệt đới ẩm,
đó là nơi có cấu trúc đất tốt và hàm lượng các chất dinh dưỡng cao. Tuy
+
trao đổi trên bề mặt keo đất ít. Bản chất của keo
khoáng là không ổn định nên khi bão hoà ion H
+
thì ion AL
3+
được giải
phóng nhanh chóng và chiếm ưu thế trong phức hệ trao đổi ion (AL
3+
), là
thành phần chủ yếu làm cho đất chua. Đất chua độ pH thấp là nguyên nhân
chủ yếu gây ra các yếu tố hạn chế (cả các yếu tố hạn chế thiếu và các yếu tố
hạn chế thừa), biểu hiện ở sự mất cân bằng dinh dưỡng và gây độc cho cây
trồng. Trong những yếu tố hạn chế thừa đáng kể nhất là nhôm di động.
Bên cạnh các nguyên nhân tác động trực tiếp thì còn có các nguyên
nhân gián tiếp tác động đến là:
- Tăng dân số: Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân
chính là suy thoái đất dốc và dạng sinh học ở miền núi. Sự gia tăng dân số
đòi hỏi tăng nhu cầu sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài
nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn
đến nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài
nguyên thiên nhiên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
- Sự di dân tự do.
- Sự nghèo đói: Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam là
một nước nông nghiệp phụ thuộc và tài nguyên thiên nhiên. Đất nông nghiệp
ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời
- Dung hoà nhiệt độ bề mặt đất (ấm trong mùa đông, mát trong mùa hè)
- Tăng độ ổn định các cấu trúc bề mặt đất, chống kết von và đóng váng,
tạo độ thông thoáng cho đất.
- Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón.
- Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, giảm độc tố
gây hại cho cây trồng.
- Giảm đầu tư: Công làm đất, làm cỏ, bón phân.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm tôt, bộ rễ phát triiển khoẻ,
cây sinh trưởng tốt
- Tăng và ổn định năng suất, chất lượng cây trồng một cách bền vững.
* Lợi ích về môi trường và quản lý tài nguyên:
- Hạn chế du canh du cư, tạo điều kiện cải thiện nguồn tài nguyên đất,
nước và rừng.
- Giảm lũ lụt ở miền xuôi.
- Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặc biệt là hồ thuỷ điện.
- Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận.
- Việc không đốt tàn dư thực vật sẽ giảm nguy cơ cháy rừng, giảm
lượng CO
2
thải vào không khí.
- Giảm nhu cầu sử dụng phân vô cơ, cũng có nghĩa là giảm ô nhiễm
nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
* Lợi ích về xã hội:
- Phụ nữ và trẻ em được giải phóng khỏi các công việc nặng nhọc và
tốn thời gian như làm đất, làm cỏ. Phụ nữ có nhiều thời gian chăm sóc sức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
khỏe gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ. Trẻ em sẽ có nhiều
năm 1936 - 1937 đều cho thấy hiệu quả của tủ rác và tưới nước đối với năng
suất và chất lượng chè, (Lê Tất Khương, 1997) [13]
Các tác giả CFKozopkin (1950) G.V.Lêbêdep (1954,1957) N.X.Petinop
bằng nghiên cứu của mình đã cho thấy: Vùng cận nhiệt đới chỉ có thế trồng
chè khi tưới nước đều đặn, các tác giả cho rằng: Tưới nước cho chè làm tăng
thời gian thu hoạch búp, làm tăng chất lượng chè nguyên liệu [13]
M.K.Daraselia (1989) tủ chè, tưới nước làm thay đổi điều kiện quang
hợp, thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả polifenol-oxydaza là mên
cáo mặt trong việc tạo tanin của chè (Lê Tất Khương, 1997) [13]
2.2.2. Các nghiên cứu về kỹ thuật tủ rác, tưới nước cho chè ở Việt Nam
Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thị Ngọc Bình
và các cộng tác viên (Viện nghiên cứu chè) thực hiện đề tài “ Nghiên cứu
một số giải pháp kỹ thuật canh tác để sản xuất chè an toàn chất lượng cao”
(2004) đã trích dẫn một số kết quả nghiên cứu sau:
Đỗ Ngọ c Qũy Trại thí nghiệm chè Phú Hộ và Nguyễn Hanh Thông
Pḥòng Nông hóa Thổ nhưỡng Viện Trồng Trọt Bộ Nông nghiệp (1960-1961),
Nghiên cứu chế độ ẩm và nhiệt độ đất chè , tưới chè Trung du 2-3 tuổỉ tại gọ̀
Rọc, trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ. Vẽ được đồ thị diễn biến nhiệt độ và
độ ẩm đất chè 0-300cm; năng suất chè có tưới so với đối chứng không tưới là
138%. (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [ 27]
Nguyễn Phong Thái, Ngô Minh Tú, Trại thí nghiệm chè Phú hộ (1969-
1970), tưới chè Trung Du gieo hạt trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ tại gọ̀
Lim, Phú Hộ cho chè non 1, 6, 9 tuổi; Thời vụ tưới quanh năm, vụ xuân, vụ
đông; Và tưới định kỳ 5, 10, 15 ngày. Kết quả đạt năng suất 105, 113,7,
115,5% so với đối chứng không tưới: Thời vụ tưới tốt nhất là vụ Đông 115%
so với đối chứng; Tưới đinh kỳ hiệu quả cao nhất là khoảng cách 15 ngày
giữa 2 lần tưới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Lê Tất Khương (1997) - ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Nghiên cứu biện
pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng chè vụ Đông xuân ở Bắc Thái. Kết
quả cho thấy: Sản lượng chè có tủ, tưới nước và tủ + tưới nước của 3 tháng 10,
11, 12 tăng tương ứng từ 17- 110%. Tỷ trọng vụ chè Đông xuân so cả năm, của
đối chứng đốn ngày 25/12 không tưới tủ là 22,9%, có tưới tủ là 32,2%; đốn ngày
25/2 có tưới là 37,0%, đốn 25/4 có tưới là 56,7% Đốn chè vào tháng 4 năm sau
có tưới + tủ, sản lượng chè Đông - xuân thu trong 3 tháng 10, 11, 12 cao nhất đạt
2.271 kg/ha so với đối chứng là 210,7%. Hiệu quả kinh tế lớn nhất v́ ì bán trước
tết với giá cao, nên lãi lớn, (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [27].
Kết quả nghiên cứu của PGS.TS. Lê Tất Khương (1997) cho thấy: Các
công thức được tủ và giứ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới nước đã
tăng tỉ lệ búp có tôm từ 3,7 -18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0 -
17,3%, tăng hàm lượng tanin từ 0,7 - 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa
tan từ 1,0 - 1,5%, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [26]
Bộ môn Canh tác (Viện Nghiên cứu chè) 1999 - Điều tra khảo nghiệm
tưới nước chè kinh doanh ở vùng đồi núi Miền Bắc Việt Nam cho nhận xét
Tưới phun mưa là tốt nhất ; có hai phương pháp tưới phun ṿ òi rồng và
tưới phun mưa bán di động, với mức đầu tư 15-30 triệu đồng/ha.
Kết quả khảo nghiệm ở Long Phú và điều tra khảo sát tại một số điểm đă
tưới chè, có thể áp dụng kỹ thuật tưới: vụ hè thu (T4-T11) tưới 10-15 ngày/ lần (c̣òn
phụ thuộc lượng nước mưa, việc thực hiện tưới còn phải xác định nguồn nước và
quy mô diện tích tưới chè chọn ṿ òi phun, đường kính ống và công suất bơm).
Từ những thí nghiệm và thực nghiệm sản xuất cho kết luận:
- Tủ chè có tác dụng tốt giữ ẩm , giảm nhiệt độ đất vườn chè , chống xói
ṃòn và tăng năng suất chè , với nguyên liệu tủ như cây cỏ dại, rác hữu cơ, phế
liệu thực vật.