Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu xanh trong vụ xuân 2009 tại hợp tác xã kim long, thành phố huế - Pdf 22

Phần 1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, các nguồn lương thực cho loài người chủ yếu lấy từ hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, dân số ngày càng gia tăng, loài người
đứng trước vấn đề nan giải diện tích canh tác ngày càng giảm, và nguy cơ
thiếu hụt nguồn lương thực thực phẩm là rất lớn. Trước thực trạng đó, con
đường duy nhất là tiến hành thâm canh cao để có thể thu lại được nhiều sản
phẩm trên cùng một đơn vị diện tích, nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà môi
trường sinh thái vẫn ổn định. Ngoài việc cung cấp đủ nước thì việc đảm bảo
nguồn dinh dưỡng tối ưu cho cây trồng đóng vai trò rất quan trọng. Nhiều ứng
dụng các công nghệ vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, một
trong những ứng dụng đó là sử dụng phân bón lá cho cây trồng đã mang lại
năng suất, hiệu quả cao, đồng thời tạo ra nền nông nghiệp sạch, bảo vệ sức
khoẻ con người. Việc sử dụng phân bón qua lá có ý nghĩa hết sức quan trọng
vì nó giúp cây trồng sinh trưởng ổn định, chống lại được các điều kiện bất lợi
của ngoại cảnh và cho năng suất cao, đáp ứng nhanh các nhu cầu của cây
trồng. Với những ưu điểm đó, việc sử dụng phân bón lá đang được quan tâm
nghiên cứu và sử dụng nhiều trong nông nghiệp với mục đích làm tăng năng
suất và phẩm chất nông sản
Đậu xanh (Vigra Radiata) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị
kinh tế cao với sản phẩm chính là hạt. Hạt đậu xanh chứa nhiều protein và
khoáng chất nên nó được sử dụng nhiều trong công nghệ thực phẩm, tạo ra
nhiều sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chế biến dược phẩm, đồng thời
cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị sang nhiều thị trường, nhất là
Châu Âu.
Ngoài ra, đậu xanh còn có tác dụng cải tạo đất tốt và có vai trò quan
trọng trong hệ thống luân canh, xen canh với nhiều loại cây trồng khác, để tận
dụng tối đa những giá trị nhiều mặt của đậu xanh.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại phân bón lá cho cây trồng
nói chung và cây đậu xanh nói riêng nhằm làm tăng năng suất và chất lượng
sản phẩm do các Viện, các trung tâm, các cơ sở, các trường đại học, các công

Có nhà khoa học cho là 5 nguyên tố N, P, K, Mg, S vì rằng khi bón
vôi vào đất chua với lượng thích hợp thì cây trồng được cung cấp đủ canxi; có
nhà khoa học cho là 6 nguyên tố N, P, K, Mg, S, Ca vì cho rằng có những loại
cây trồng có thể sống trên đất chua. Còn các loại cây khác khi sống trên đất
chua mà không được cung cấp đủ canxi thì ta phải bón thêm canxi.
Những nguyên tố có hàm lượng trong cây rất ít, trong đất lại chứa
nhiều so với nhu cầu của cây, nhưng trong một số điều kiện như độ chua của
đất, sự yếm khí, hoặc quá nhiều chất hữu cơ mà nguyên tố đó ở dạng ít hoà
tan, không cung cấp đủ cho cây, cũng vẫn phải cung cấp bằng phân bón với
lượng ít. Các nguyên tố này gọi là nguyên tố vi lượng.
2.1.2. Khái niệm về phân bón cân đối hợp lý
Bón phân cân đối và hợp lý là cung cấp cho cây trồng đúng các chất
dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho
từng đối tượng cây trồng, từng loại đất, mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao,
chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường sinh thái.
3
Bón phân cân đối hợp lý không có nghĩa là phải cung cấp cho cây
trồng các nguyên tố dinh dưỡng bằng nhau về khối lượng. Mỗi nguyên tố
khoáng có tác dụng riêng biệt, nhất định trong đời sống cây trồng. Chính vì
vậy, cơ sở cho việc bón phân cân đối là phải biết được khả năng cung cấp
dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng của mỗi loại cây trồng và sự
phụ thuộc của mỗi loại yếu tố vào từng điều kiện thời tiết cũng như chế độ
canh tác cụ thể. Bón phân cân đối đáp ứng tối thiểu 3 yêu cầu: bón đúng về
các yếu tố dinh dưỡng cây trồng cần, bón đủ liều lượng và bón phù hợp về tỷ
lệ các nguyên tố.
Vấn đề quan trọng nhất của bón phân cân đối là hiệu quả đầu tư phân
bón. Bón phân cân đối, đủ lượng, đúng tỷ lệ bao giờ cũng cho hiệu quả cao
nhất. Tuy nhiên, vấn đề hiệu quả được hiểu theo 2 cách: tổng số lãi thu được
trên một đơn vị diện tích và hệ số lãi. Hai chỉ số kinh tế này không bao giờ
đồng nhất với nhau vì bón ít phân bao giờ hệ số lãi cũng cao hơn, song tổng

triệu tấn chất dinh dưỡng năm 1961 tăng lên 17 triệu tấn năm 1973. Năm
1989 là 59 triệu tấn đến năm 1993 là 60,91 triệu tấn. Đông Nam Á, nơi có sản
lượng lương thực theo đầu người tăng nhanh nhất nên phân bón cũng tăng
mạnh nhất (tăng 5 lần trong 20 năm qua).
Châu Phi là khu vực có mức tiêu thụ phân bón thấp nhất thế giới.
Trong những năm 90 mức tiêu thụ phân bón của châu Phi tiếp tục giảm. Năm
1994 - 1995, tính chung toàn Châu Phi mức tiêu thụ phân bón giảm 14,3% so
với năm trước do đó năng suất các loại cây trồng ở châu Phi mà trước hết là
cây ngũ cốc có năng suất thấp nhất thế giới [3].
Gần đây, nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển, các nhà xã hội
học và các nhà môi trường đang kêu gọi áp dụng rộng rãi nông nghiệp hữu cơ
vì họ coi đây là giải pháp cân đối dinh dưỡng tối ưu, vừa đảm bảo tăng năng
suất cây trồng, vừa an toàn môi trường sinh thái. Tuy nhiên thực tế cũng
chứng minh, phân hữu cơ chỉ có thể là loại phân bón bổ sung nhằm cân đối
dinh dưỡng và cải thiện tính chất đất chứ không thể là phân bón thay thế cho
phân vô cơ [1, 25]. Nếu tận thu hết phân chuồng và tàn dư thực vật trong một
trang trại để trả lại cho đồng ruộng, không sử dụng phân hóa học, năng suất
cây trồng giảm 30%, cân bằng dinh dưỡng bị phá vỡ và đất sẽ bị bạc màu. Về
mặt lý thuyết cần 23,6 tấn tàn dư thực vật mới có thể cung cấp đủ lượng đạm
ngang với 100 kg ure; 24,2 tấn tàn dư thực vật mới có thể cung cấp đủ lượng
P
2
O
5
ngang 100 kg trisupe (TSP) và 12,3 tấn tàn dư thực vật mới có thể cung
cấp đủ lượng K
2
O ngang với 100 kg KCl. Khoảng 20 - 35 tấn tàn dư/ha mới
5
có thể cung cấp được 150 kg NPK tương đương với 300 kg phân

+ K
2
O)/ha [4].
Như vậy tăng nhanh sử dụng phân hóa học là con đường tất yếu phải đi
của nông nghiệp nước ta và các nước đang phát triển, sử dụng phân hóa học
hợp lý để giảm bớt nhu cầu mà công nghiệp hóa học khó lòng đáp ứng nổi,
nông dân khó đủ tiền mua và tránh ô nhiễm môi trường là hết sức cần thiết.
2.2.2. Xu hướng sử dụng phân bón cho cây trồng ở Việt Nam
Việt Nam là nước nhập khẩu phân bón với lượng lớn. Hằng năm nước
ta đã nhập khẩu 90-93% lượng phân đạm; 30 - 35% lượng phân lân; 100%
lượng phân kali. Tuy nhiên trong sản xuất tình trạng sử dụng lãng phí phân
bón còn rất phổ biến đối với nông dân. Điều này do nhiều nguyên nhân khác
nhau, nhưng các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là trình độ của
nông dân còn rất nhiều hạn chế, do quan niệm, do tập quán canh tác, hơn nữa
là do chưa hiểu hết tác dụng to lớn của việc bón phân cân đối và hợp lý.
Chính vì vậy mà hiệu suất sử dụng phân đạm hiện nay chỉ đạt ở mức 35 -
40%; phân lân và kali đạt khoảng 50%. Như vậy chỉ tính riêng phân ure, hằng
năm chúng ta bón khoảng 2 triệu tấn thì hao tốn khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn. Do
vậy chỉ cần tăng hệ số sử dụng thêm 5% thì hằng năm chúng ta tiết kiệm
được ít nhất là 100 nghìn tấn ure [2].
6
Sử dụng phân bón hóa học ở Việt Nam có thể chia thành 4 giai đoạn:
- Từ năm 1961 - 1970: Giai đoạn này việc sử dụng phân hóa học còn
thấp, tổng số NPK bón cho một ha canh tác là 30 kg nguyên chất. Hiệu suất
phân đạm cũng như phân lân chưa cao. Hiệu suất 1 kg P
2
O
5
chỉ đạt 0,6 - 1 kg
thóc.

3
tấn) 1371,0 728,6 534,0
2633,8
Tỷ lệ N:P:K 1 0,516 0,378
2005
Nhu cầu (10
3
tấn) 1504,0 813,0 598,0
2915,0
Tỷ lệ N:P:K 1 0,541 0,389
2010
Nhu cầu (10
3
tấn) 1627,0 892,0 669,0
3118,0
Tỷ lệ N:P:K 1 0,548 0,411
7
Hiện nay việc sử dụng phân bón còn rất nhiều bất cập, sử dụng phân
bón quá nhiều và không hợp lý đã làm giảm độ phì nhiêu tiềm tàng cũng như
độ phì nhiêu tự nhiên của đất làm cho đất bị chai và thoái hóa nghiêm trọng,
ngoài ra còn gây ô nhiễm đến môi sinh môi trường. Xu hướng sản xuất hiện
nay là phải sử dụng phân bón cân đối và hợp lý. Sử dụng phân bón hợp lý là
một trong những biện pháp tích cực cũng góp phần hạn chế thoái hóa đất, bảo
vệ môi trường.
2.3. Cở sở lý luận của đề tài
2.3.1. Vai trò của đậu xanh với dinh dưỡng của con người
Đậu xanh là cây trồng quen thuộc ở Việt Nam và ở Châu Á, nó có giá
trị kinh tế cao, nhiều giá trị dinh dưỡng và được sử dụng rỗng rãi trong đời
sống, thích hợp với việc tiêu dùng và xuất khẩu do sản phẩm dễ tiêu thụ và ít
biến động về giá cả. Thành phần sinh hoá của đậu xanh ở 100g như sau:

luân canh với nhiều loại cây trồng khác; hơn nữa đậu xanh có thể gieo trồng 3
vụ trong năm (nếu đất đủ độ ẩm và không ngập úng) nên có tác dụng cải tạo,
bồi dưỡng đất tăng hệ số sử dụng đất canh tác và tăng hiệu quả kinh tế trên
một đơn vị diện tích
2.3.3. Cơ sở của việc bón phân qua lá.
Cây trồng có một bộ phận hút chất dinh dưỡng chủ yếu là hệ thống rễ.
Thông qua hệ thống rễ, cây được cung cấp chất dinh dưỡng, nước và các
khoáng chất để giúp cây sinh trưởng và phát triển. Có thể nói rằng rễ đóng vai
trò quan trọng đối với đời sống của cây, đó là con đường để đưa các chất dinh
dưỡng và nước vào cây.
Tuy nhiên ngoài con đường dinh dưỡng qua rễ, cây còn có thể lấy
nguồn dinh dưỡng qua lá.
Lá là một bộ phận của cây trồng, chúng làm nhiệm vụ quang hợp và
hấp thu các chất dinh dưỡng qua lá, tất cả các quá trình này đều được tiến
hành trên một cơ quan ở bề mặt lá là lỗ khí khổng. Lỗ khí khổng có kích
thước trung bình là 100μm
2
(dài 7 - 10μm, rộng 3 - 12μm). Số lượng khí
khổng khá lớn và có thể chiếm 1% diện tích lá.[16]. Khí khổng phân bố đều
trên cả hai bề mặt lá. Khí khổng có thể đóng mở, cơ chế đóng mở của khí
khổng rất phức tạp có liên quan đến ánh sáng, ẩm độ không khí, ẩm độ đất,
nhiệt độ và các chất dinh dưỡng, vì chất dinh dưỡng vào cây chỉ có thể vào
mô lá qua các khí khổng. Bằng thực nghiệm các nhà sinh lý học thực vật đã
chứng minh và đưa ra kết luận: để nâng cao hiệu quả phân bón thì phải phun
phân trong điều kiện nhiệt độ không khí <30
0
C, trời nắng nhẹ không mưa,
không có gió khô và cung cấp đầy đủ nước qua rễ cây.
9
2.3.4. Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng

dưới dạng gói nhỏ từ 5 - 30g, khi phun chúng thường được pha loãng ở mức
phần nghìn. Hiện nay loại này ít thấy trên thị trường.
10
- Phân bón lá loại đa, vi lượng hỗn hợp: Đây là loại chủ yếu hiện nay
của phân bón lá. Hiện nay loại phân này được sản xuất dưới cả hai dạng: dạng
đóng chai và dạng đóng gói.
- Phân bón lá loại hỗn hợp: Đây là loại mới xuất hiện trên thị trường.
Thành phần của nó là một hỗn hợp gồm 17 axit amin. Phân được điều chế
dưới dạng lỏng, đóng chai. Tên thương phẩm của loại này là: SriDiamin30AA
hay Diamin N9-B.
- Phân bón lá loại hoocmon thực vật: Loại phân này thực tế không chứa
các nguyên tố dinh dưỡng, mà chỉ có hoocmon thực vật. Thường được sản
xuất dưới dạng lỏng chứa trong “ống tiêm” hoặc trong các túi nylon tráng
thiếc nhỏ, chứa 3 - 10 ml.
- Phân bón lá loại hỗn hợp nhiều thành phần: Đây là một xu hướng phổ
biến trong sản xuất phân bón lá. Loại phân này thường được kết hợp nhiều
thành phần dinh dưỡng, thậm chí cả hoocmon thực vật và một số hoạt chất
giúp cây tăng khả năng hấp thu hoặc khả năng đồng hoá. Loại này cũng tương
tự như loai hỗn hợp đa, vi lượng nhưng trong đó người ta có thể bổ sung
hoocmon thực vật hoặc chất mùn humat hoặc các chất mang mà người ta gọi
là các chelat [10].
Bảng 2: Ngưỡng chịu đựng của lá cây với phân phun qua lá
Loại phân Dạng phân
Kg/400 lít nước phun
cho 1 ha
Đạm
Co(NH
2
)
2

3
( Kali nitrat) 3 - 5
K
2
SO
4
( Kali sufat) 3 - 5
KCl ( Kali clorua) 3 - 5
11
Canxi
CaCl
2
( Canxi clorua) 3 - 6
Ca(NO
3
)
2
( Canxi nitrat) 3 - 6
Magie
MgSO
4
( Magie sunsfat) 3 - 12
Mg(NO
3
) (Magie nitrat) 3 - 12
Sắt FeSO
4
( Sắt sunfat) 2 - 12
Mangan MnSO
4

đặt chương trình nghiên cứu về đậu xanh riêng so với các chương trình
nghiên cứu các loại đậu đỗ khác. Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau
Châu Á (AVRDC) đóng tại Đài Loan đã có một tập đoàn giống đậu xanh lớn
nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong đó có những giống cho năng
suất từ 18 - 25 tạ/ha.
Diễn biến về diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh của thế giới và
một số nước được thể hiện ở bảng 3 sau:
12
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới
và một số nước qua các năm 2005 - 2007.
CT
Năm
Tên nước
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2005 2006 2007 2005 2006 2007 2005 2006 2007
Thế giới
1,056 1,076 1,087 7,018 7,019 7,598 7,410 7,660 8,260
Ấn Độ
0,270 0,270 0,28 6,930 6,930 8,130 1,910 1,910 2,290
Trung quốc
0,240 0,250 0,25 9,166 9,589 9,986 2,200 2,400 2,500
Thái Lan
0,003 0,003 0,003 2,166 2,166 2,116 0,006 0,006 0,006
Philippin
0,002 0,002 0,002 2,938 2,987 3,137 0,007 0,007 0,008

Ở nước ta, cây đậu xanh đã được trồng lâu đời ở nhiều vùng đồng bằng
đến các tỉnh trung du, miền núi, suốt từ Nam chí Bắc. Mặc dù vậy, nó vẫn bị
xem là cây trồng phụ, trồng xen gối nhằm tận dụng đất, tranh thủ lao động
nên năng suất cũng rất thấp. Mấy năm gần đây, nhiều địa phương đã chú ý
phát triển mạnh đậu xanh. Từ sau năm 1983 đến nay, diện tích, năng suất và
sản lượng cũng có tăng nhưng chậm và không liên tục.Năng suất bình quân
của thời kỳ 1981 - 1985 là 5,5 tạ/ha, ở thời kỳ 1986 - 1991 là 5,9 tạ/ha [8].
Ở Việt Nam cho đến nay chưa chính thức có một giải pháp hữu hiệu
nào để phát triển với quy mô lớn hơn, mặc dù các điều kiện sẵn có như đất
đai, khí hậu, thị trường tiêu thụ, là khá thuận lợi. Đó là hàng chục vạn hecta
đất ở vùng đồng bằng và miền núi, sau khi thu hoạch lúa xuân sớm chúng ta
có thể trồng thêm vào đó một vụ đậu xanh Hè hay Thu Đông trên đất lúa theo
các mô hình của Austraylia, Philippin đã làm. Thêm vào đó, chúng ta một bộ
giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn (<70 ngày), chín tập trung, chống
chịu khá, cho năng suất tương đối ổn định [16].
Theo kết quả triển khai ngoài sản xuất cho thấy: nhiều địa phương đã
tin cậy và sử dụng các giống đậu xanh để bố trí vào các thời vụ khác nhau.
Nhiều điều tra, báo cáo tình hình sản xuất cũng như kết quả nghiên cứu, khảo
sát, thăm dò đều cho thấy: giống mới có tiềm năng về năng suất cao hơn các
giống địa phương [8]. Hơn thế, do nhiều nguyên nhân có tính thuận lợi và
trình độ thâm canh ngày càng cao nên biến động về năng suất, sản lượng và
diện tích ở nước ta có nhiều thay đổi:
Qua số liệu ở bảng ta thấy:
Từ năm 1996 - 1998: Đây là giai đoạn tăng nhanh cả về diện tích, năng
suất và sản lượng đậu. Sản lượng tăng nhanh từ 120,0 nghìn tấn (năm 1996)
14
lên 130,0 nghìn tấn (năm 1997) và 144,1 nghìn tấn (1998). Đây là những năm
có diện tích trồng đậu cao nhất trong thập niên vừa qua. Năng suất cũng tăng
dần qua các năm: năm 1996 và năm 1997 là 6,3 tạ/ha, sang năm 1998 là 6,5
tạ/ha.

1999 200,4 7,2 144,1
2000
209,4 6,9 144,6
2001 210,0 7,6 160,5
2002 201,9 7,1 144,1
2003 206,9 7,6 158,1
2004 203,1 7,5 152,3
2005 205,0 7,6 155,9
(Nguồn: www.fao.org).
15
Qua kết quả phân tích trên ta thấy, diện tích gieo trồng đậu ngày càng
tăng lên, năng suất ngày càng được cải thiện, do chúng ta thấy rõ được tầm
quan trọng của cây đậu trong hệ thống luân canh cây trồng và không ngừng
tiếp tục ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất.
2.4.3. Tình hình sản xuất đậu xanh ở Thừa Thiên Huế
Trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế, cây đậu xanh
được xem là cây có hiệu quả cao so với nhiều cây trồng, thay những cây có
hiệu quả kinh tế thấp hơn bằng những cây đậu, làm cho diện tích cây đậu ở
Thừa Thiên Huế ngày càng tăng.
Qua số liệu bảng 4 cho thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu ở
Thừa Thiên Huế có những biến động khá rõ.
Bảng 5: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu ở Thừa Thiên Huế
từ năm 1996 - 2006
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)

Thừa Thiên - Huế. Với quan niệm của người dân cây đậu xanh là cây trồng
phụ đó cũng là một trong những nguyên nhân mà làm cho người dân chưa tập
trung vào sản xuất, chưa có quy trình phù hợp cho từng địa phương về việc
trồng đậu xanh.
17
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Giống đậu xanh
Giống đậu xanh được dùng trong thí nghiệm là giống đậu Láng (tên địa
phương) có thời gian sinh trưởng khoảng 60 - 80 mgày.
3.1.2. Phân bón lá sử dụng trong thí nghiệm: Gồm 4 loại phân bón lá Grow
more 6:30:30; Yogen No.2; Agriconick; K-H
• Grow more 6:30:30
Thành phần: N : 6%
P
2
O
5 :
30%
K
2
O : 30%
Và 7 nguyên tố vi lượng kép.
Tỷ lệ pha:10 gr/8 lít nước.
Nơi sản xuất: Công ty TNHH DATNONG 67 Phạm Thành Hổ - Quận 6 -
Thành phố Hồ Chí Minh.
• Yogen No.2
Thành phần: N : 30%
P

Nitrophenol
18
Tỷ lệ pha: 10 ml / 8 lít nước.
Nơi sản xuất: Công ty TNHHTM An Bình, 606 Trần Hưng Đạo - Quận 5,
Thành phố Hồ Chí Minh.
• K - H
Thành phần: N : 3%
P
2
O
5
: 5%
K
2
O : 4%
Mg : 0,2%
Axits Humic : 1%
Cu: 330 ppm; Fe: 520 ppm; Zn: 410 ppm; Mn: 150 ppm;
Mo: 50 ppm; B: 260 ppm; Co: 10 ppm.
Tỷ lệ pha: 10 ml/ 15 lít nước.
Nơi sản xuất: Công ty cổ phần Thanh Hà. Số 7 - A28 - Nghĩa Tân - Cầu
Giấy - Hà Nội.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến:
+ Khả năng sinh trưởng, phát triển của đậu xanh.
+ Các yếu tố cấu thành năng suất.
+ Một số chỉ tiêu sinh lý ở đậu xanh.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Các công thức thí nghiệm
Gồm 5 công thức

a
IV
b
V
b
I
b
III
b
II
b
III
c
I
c
IV
c
II
c
V
c
Bảo vệ
Trong đó: I, II, III, IV, V: Các công thức thí nghiệm.
a, b, c: Các lần nhắc lại.
3.3.3. Quy mô thí nghiệm
Số ô thí nghiệm: 5 x 3 = 15 ô.
Diện tích ô thí nghiệm: 8 m
2
Diện tích bảo vệ: 30m
2

TB
U
Min
Số
ngày
Lượn
g mưa
(mm)
2 23,1 34,5 15,5 90,0 50,0 5,0 24,1 166
3 23,5 35,0 17,0 88,0 74,0 8,0 45,0 115
4 24,0 35,0 20,0 87,0 53,0 15,0 150,0 140
(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế)
Đậu xanh được tiến hành gieo vào ngày 07/02/2009. Diễn biến thời tiết
khí hậu bắt đầu từ tháng 2 như sau:
Tháng 2: Cây đậu xanh đang bắt đầu nảy mầm và ở thời kỳ cây con.
Đây là thời kỳ nhạy cảm nhất với sự biến động của môi trường. Theo
Poehlman(1973) thì nhiệt độ mà cây đậu xanh mọc được là từ 30 - 40
o
C. Nếu
nhiệt độ chỉ 18
o
C thì cây mọc chậm, yếu cây và sinh trưởng kém [9, 24]. Qua
bảng số liệu khí tượng ta thấy: nhiệt độ trung bình là 23,1
o
C đây là nhiệt độ
thích hợp cho cây đậu xanh nảy mầm nên cây chỉ nảy mầm trong 4 ngày.
Nhiệt độ lớn nhất là 34,5
o
C và nhiệt độ tối thiểu là 15,5
o

4 là 24
o
C, cao nhất trong 3 tháng và phù hợp cho quá trình sinh trưởng và
phát triển của đậu xanh giai đoạn này.
Có hai thời kỳ không thể thiếu ẩm là lúc mọc và khi ra hoa, đậu quả.
Thời gian này độ ẩm của đất phải từ 80 - 90% [9, 26]. Ẩm độ tháng 4 là 87%,
số giờ nắng là 140 ngày, đây là điều kiện thích hợp cho cây đậu xanh chín
nhanh. Trong tháng 4 lượng mưa cao nhất trong 3 tháng với 150mm, số ngày
mưa cao nhất trong 3 tháng với 15 ngày. Điều này đã góp phần nào làm ảnh
hưởng quá trình chín của đậu xanh.
Kết luận: Thời tiết vụ Xuân năm nay có sự biến động và có sự chuyển
biến tích cực đã tạo điều kiện khá tốt cho sự sinh trưởng, phát triển và tạo
năng suất cây đậu xanh.
3.3.5. Các biện pháp kỹ thuật
- Làm đất:
Đất được cày sâu 25 cm. Làm đất tơi xốp, sạch cỏ dại trước khi gieo
hạt, sau đó chia ô, đánh rãnh, lên luống theo diện tích ô thí nghiệm.
- Thời vụ gieo:
Gieo ngày 07/02/2009
- Mật độ khoảng cách:
Mật độ: 37 cây/m
2

Khoảng cách : 30cm x 9cm x 1cây
- Phân bón và kỹ thuật bón phân:
Lượng phân: (5tấn phân chuồng + 10kg N + 90 kgP
2
O
5
+ 60kg K

3.3.6.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng
* Thời gian sinh trưởng.
Từ khi gieo đến mọc mầm.
Từ khi gieo đến 3 lá kép.
Từ khi gieo đến ra hoa.
Từ khi gieo đến tạo quả.
Từ khi gieo đến thu hoạch đợt 1.
Từ khi gieo đến thu hoạch lần cuối.
23
* Chiều cao thân chính chọn ngẫu nhiên theo đường chéo góc môi ô 5
cây, theo dõi qua các thời kỳ:
- 3 lá kép.
- Ra hoa.
- Tạo quả.
- Thu hoạch lần cuối.
* Sự ra lá của đậu xanh
- Số lá/ thân chính (theo dõi qua các thời kỳ như chỉ tiêu chiều cao thân
chính).
- Số lá xanh còn lại /thân chính khi thu hoạch.
3.3.6.2. Các chỉ tiêu sinh lý
Chọn ngẫu nhiên mỗi công thức 5 cây qua các thời kỳ (bắt đầu ra hoa,
tạo quả).
- Diện tích lá( được xác định theo phương pháp cân nhanh).
- Chỉ số diện tích lá.
- Hiệu suất quang hợp.
3.3.6.3. Các chỉ tiêu về phát triển
- Tổng thời gian ra hoa.
- Tổng số hoa / cây.
- Tỷ lệ hoa hữu hiệu:
Tổng số quả chắc / cây

Trích đoạn Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status