Ảnh hưởng của nồng độ và thời kỳ phun vi lượng Bo đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lạc L14 vụ xuân 2009 tại hợp tác xã kim long, thành phố huế - Pdf 22

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh
dưỡng cao và có nhiều giá trị kinh tế khác. Trong hạt lạc chứa từ 26 - 34% protein,
40 - 60% dầu, 6 - 22% gluxit, 2 - 4,5% cellulose, 68 mg% Ca, 420 mg% P Ngoài
ra còn có các loại vitamin A, D, PP, nhóm B (trừ B
12
) và nhiều chất khoáng khác
[2]. Do đó lạc là nguồn bổ sung quan trọng các chất đạm, chất béo cho con người.
Trong công nghiệp lạc được sử dụng làm nguyên liệu chế biến dầu ăn, là loại dầu ăn
tốt thứ 2 sau dầu oliu, dầu lạc dùng làm các loại bánh kẹo, bơ, sữa hộp trong công
nghiệp thực phẩm, làm nguyên liệu chế biến xà phòng, chất tẩy rửa, tinh dầu lạc còn
dùng trong y học, thủ công nghiệp và mĩ nghệ.
Trong nông nghiệp, lạc là cây trồng có ý nghĩa rất lớn, nhất là đối với các
nước vùng nhiệt đới, lạc có khả năng cố định đạm nên có ý nghĩa trong việc cải tạo
đất và đem lại hiệu quả kinh tế khi trồng luân canh với các cây trồng khác. Sau khi
thu hoạch lạc để lại trong đất từ 40 - 80kg/ha N, thân lá lạc chứa hàm lượng N, P, K
không thua kém gì phân chuồng.
Mặc dù so với các cây công nghiệp khác thì lạc đang dẫn đầu về diện tích và
xu hướng đang tăng lên, nhưng nhìn chung thì năng suất lạc của nước ta vẫn còn
đang ở mức thấp. Đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế năng suất lạc chỉ đạt
xấp xỉ 14,0 tạ/ha năm 2004 so với năng suất cả nước trung bình đạt 16,5 tạ/ha trong
khi Mỹ đạt 29,7 tạ/ha, Trung Quốc đạt 29,6 tạ/ha (năm 2002). Năng suất lạc trong
những năm gần đây có xu hướng tăng lên tuy nhiên mức tăng này vẫn còn chậm.
Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất lạc ở nước ta thấp hơn rất nhiều so
với các nước trên thế giới và trong khu vực như do chất lượng giống, kỹ thuật thâm
canh, thiếu vốn đầu tư về phân bón và khoa học kỹ thuật và trong đó có một
nguyên nhân cơ bản đó là người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của phân
bón đặc biệt là phân vi lượng đối với cây lạc.
Bón phân để thỏa mãn các yêu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây lạc, trong

- Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân vi lượng Bo sẽ góp phần
làm cơ sở để hoàn thiện quy trình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1.1. Vai trò của cây lạc trong sản xuất Nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp đã có những bước tiến
quan trọng. Cây lạc là cây trồng có giá trị kinh tế nhiều mặt bởi nó là một cây họ
đậu ngắn ngày có năng suất cao, các chất dinh dưỡng trong hạt khá đầy đủ các
nguyên tố dinh dưỡng và có hàm lượng cao (hàm lượng protein của lạc cao hơn hẳn
lúa). Chính vì vậy mà sản xuất cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng đã được
các nước trên thế giới quan tâm. Mặc dù chi phí đầu tư phân bón thấp hơn nhiều
loại cây trồng nhưng nó lại cho năng suất cao hơn.
Trong chế độ luân canh các cây trồng trong công thức có luân canh với cây
lạc thì năng suất cao hơn hẳn khi trồng thuần. Lạc còn có tác dụng quan trọng là
bồi dưỡng và cải tạo đất vì chất lượng hữu cơ và lượng đạm bộ rễ lạc để lại trong
đất là đáng kể…Mỗi ha lạc cho khối lượng trung bình từ 8 - 10 tấn, có khi lên tới
15 - 20 tấn thân lá tươi. Hiện nay hầu hết các vùng trồng lạc đều sử dụng thân lá
lạc làm phân bón cho lúa, màu. Mỗi ha thân lá lạc đủ bón cho 2 - 3 ha lúa và năng
suất tăng rõ rệt [9].
Nhu cầu dinh dưỡng của lạc
Như chúng ta đã biết, sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc, hạt lạc có nhiều
chất dinh dưỡng. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, khi phân tích hạt lạc đã cho
thấy hầu như có đầy đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm chất hoá học hữu cơ
và rất nhiều chất vô cơ. Các chất này chia thành các nhóm như: Lipit, protein,
gluxit, photphatit, các glucozit, các acid amin, các aldehyt và cetol, chất sáp, chất vô
cơ và hợp chất màu [15]. Trong đó hàm lượng lipit chiếm tỷ lệ cao nhất đạt từ 40,2
- 60,7% tiếp đến là hàm lượng protein chiếm 20 - 37,2%. Nếu cây đậu tương được
mệnh danh là cây “đạm - dầu” thì lạc được mệnh danh là cây “dầu - đạm”.

và 30 - 60kg K
2
O/ha tương ứng với 2,4kg urê, 11kg super lân và 4kg
kaliclorua cho 1 sào Bắc Bộ [1]. Nhìn chung, tỷ lệ N: P
2
O
5
thích hợp từ 1: 2 -1: 3; tỷ
lệ N: K
2
O khoảng 1: 2 [1].
Như vậy lạc có nhu cầu cao về đạm song nhờ hệ rễ nốt sần ở bộ rễ cung cấp
một lượng đạm đáng kể nên cây lạc phản ứng yếu với phân đạm. Tuy nhiên cần
phải bón một lượng đạm nhất định cho thời kỳ cây con thì mới có năng suất cao. Vì
sau khi mọc khoảng một tuần thì nốt sần mới hình thành và sau đó mới có khả năng
cố định Nitơ trong không khí để tạo ra đạm cung cấp cho cây, do đó giai đoạn đầu
cây lạc rất cần đạm. Mặt khác vi sinh vật cố định đạm có nhu cầu sử dụng đạm
khoáng để cây lạc phát triển ngay từ đầu, tạo nhiều nốt sần hữu hiệu.
Tuy cây lạc hút nhiều đạm hơn so với các yếu tố khác song trên hầu hết các
loại đất thì lân, kali, canxi lại là những yếu tố chính hạn chế năng suất lạc. Cây lạc
hút nhiều kali, năng suất càng cao nhu cầu kali càng tăng. Bón phân kali làm tăng
số nhân, tăng năng suất và hàm lượng dầu trong hạt. Hàm lượng kali trong lá cao
nhất ở thời kỳ ngay trước ra hoa và giảm đi ở thời kỳ hình thành quả nên kali cần
bón sớm và kết thức trước khi ra hoa.
Bên cạnh đạm và kali, nhu cầu về lân của lạc khá lớn nên cần bón nhiều lân
cho lạc. Cây lạc có nhu cầu lân nhất ở thời kỳ sau ra hoa, hình thành quả. Thời kỳ
cây con, hàm lượng lân trong cây không cao nhưng rất cần thiết để vi sinh vật nốt
sần phát triển, do vậy cần bón lần sớm. Tục ngữ có câu “không lân không vôi thì
thôi trồng lạc” để nói đến vai trò của hai yếu tố dinh dưỡng này. Canxi ngoài vai trò
trực tiếp là cung cấp dinh dưỡng còn có vai trò gián tiếp là cải tạo đất và canxi có

Ra hoa 42 39 28 48 53
Quả chín 48 51 53 41 37
(Nguồn: IFA _ Longanathan & Krishnamoorthy, 1997)
Như vậy cây lạc có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau trong từng giai đoạn sinh
trưởng. Biết được nhu cầu dinh dưỡng của lạc chúng ta sẽ có cơ sở cho việc bón
phân cân đối - hợp lý.
5
2.1.2. Vai trò của nguyên tố vi lượng Bo đối với cây trồng
- Nguyên tố Bo (B) được phân lập năm 1808 bởi Sir Humphry Davy, Joseph
Louis Gay-Lussac và Luis Jacques Thénard, với độ tinh khiết khoảng 50%. Những
người này không biết chất tạo thành như là một nguyên tố. Năm1824, Jons Jakob
Berzelius đã xác nhận Bo như là một nguyên tố; ông gọi nó là Boron, một từ tiếng
Latin có nguồn gốc là Burah trong tiếng Ba Tư. Bo nguyên chất được sản xuất lần
đầu tiên bởi nhà hóa học người Mỹ W.Weintraub năm 1909.
- Bo là một trong số các nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho cây trồng. Bo có
tỉ lệ rất ít trong đất (<0,01%), là yếu tố dinh dưỡng của cây trồng, cây cần rất ít
nhưng không thể thiếu được. Bo được cây hút từ đất hoặc các loại phân vi lượng
bón, phun cho cây, thường tham gia vào thành phần các men, sắc tố, hocmon,
vitamin trong quá trình trao đổi chất của cây, làm tăng khả năng hút chất dinh
dưỡng, tăng tích lũy chất khô, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh, tăng chất
lượng sản phẩm cho cây trồng. Thiếu hay thừa Bo đều dẫn đến sự hạn chế hoặc phá
hoại sự trao đổi chất, gây bệnh, làm giảm năng suất và đặc biệt là làm giảm chất
lượng nông sản [28].
2.1.2.1. Bo trong tự nhiên
Bo nằm trong số những nguyên tố phân tán và người ta gặp Bo hầu như ở
khắp mọi nơi với những số lượng nhỏ. Bo có trong tất cả các loại đất, trong các loại
đá, trong nước biển, nước sông, nước hồ và tham gia vào thành phần của cơ thể
thực vật và động vật. Qua nghiên cứu cho thấy đá macma nghèo Bo, nước mỏ dầu
và đặc biệt là nước bùn núi lửa có lượng chứa Bo cao (Tageeva N.V và những
người cộng tác, 1934) [10].

Bo tổng số cao. Bo là nguyên tố dễ bị rửa trôi, chính vì thế ở các vùng đất có khí
hậu ẩm ướt, nóng ẩm mưa nhiều hàm lượng Bo thấp hơn so với vùng đất khô hạn
và bán khô hạn. Những vùng đất bị ảnh hưởng mặn của nước biển có thể có hàm
lượng Bo cao. Bo tan trong nước được xem như là Bo hữu hiệu với cây trồng. Cấu
trúc đất, loại khoáng sét, pH và chất hữu cơ trong đất là những yếu tố ảnh hưởng
đến Bo hữu hiệu trong đất. Ở những vùng khô hạn, đất mặn lượng Bo trong đất
thường khá cao nên có thể gây độc cho cây trồng. Nước tưới cũng chứa một lượng
Bo khác nhau tuỳ theo nguồn. Nước thải thường có nhiều Bo và có thể làm cho
cây bị ngộ độc [27].
Hàm lượng Bo trong đất dao động trong khoảng 2 - 200ppm, trung bình 7 -
80ppm. Chỉ có khoảng <5% tổng số Bo trong đất ở dạng hữu hiệu với cây trồng.
Thiếu hụt Bo đã được phát hiện ở nhiều loại đất, trong khi ngộ độc Bo ít khi xảy ra
trong thực tế. Tuy vậy, ngộ độc Bo cũng có thể xuất hiện ở những vùng đất phát
7
triển trên đá giàu Bo và những nơi có nguồn nước tưới giàu Bo [28]. Khi hàm lượng
Bo dễ tiêu trong đất khoảng 0,15ppm thì bón 5 - 10 kg/ha Axit Boric là đủ để ngăn
chặn sự thiếu Bo cho tất cả các loại đất [13].
- Bo trong đất hiện diện ở 4 dạng chính: Trong đá và khoáng, hấp phụ trên bề
mặt các khoáng sét và oxit sắt, nhôm, kết hợp với các chất hữu cơ và boric
axit(H
3
BO
3
) hay B(OH)
4
trong dung dịch đất. Các khoáng chất chứa Bo chủ yếu
trong đất thuộc các nhóm:
+Nhóm hydro borate: Borax Na
2
B

2
FeBO
5
, Ktoite Mg
3
(BO
3
)
2
.
+Nhóm hợp chất borosilicate: Tourmalite, axinite.
- Trong các khoáng chứa Bo, nổi bật nhất là flourine borosilicate-tourmaline.
Tuy nhiên, các khoáng này rất bền, ít bị phong hóa nên Bo cung cấp từ nguồn này
không đáng kể. Bo tồn tại ở các dạng: Bo trong dung dịch đất, Bo hấp phụ, Bo hữu
cơ và Bo trong các hợp chất khoáng. Luôn luôn có sự chuyển hóa các dạng Bo
trong đất [28].
- Axit Boric (H
2
BO
3
) chiếm ưu thế khi pH dung dịch đất từ 5 - 9. Khi pH >
9,2 H
2
BO
3
có thể tách hydro để chuyển thành H
4
BO
4
. Dạng Bo cây hút (axit boric

- Bo tan trong nước nóng được xem là Bo hữu hiệu với cây trồng. Bo hữu
hiệu trong đất thường dao động trong khoảng 0,1 - 0,3ppm. Ở những vùng khô hạn,
Bo hữu hiệu có thể cao hơn mức này. Cấu trúc đất, loại khoáng sét, pH và chất hữu
cơ trong đất là những yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng Bo hữu hiệu trong đất.
- Bo hữu hiệu giảm khi pH đất tăng, ngoại trừ trên đất mặn. Ảnh hưởng đến
Bo hữu hiệu thể hiện rõ khi pH>6. Đất kiềm thường thiếu Bo hữu hiệu do pH cao.
Sự giảm Bo hữu hiệu do canxi là nguyên nhân chính vì nó làm tăng Bo hấp phụ với
Al(OH)
3
. Mức hấp phụ đạt tối đa khi pH=7 và hạn chế lượng Bo cây hút. Tuy
nhiên, canxi không phải luôn làm tăng Bo hấp phụ và giảm Bo cây hút. Trường hợp
pH cao do Ca ở đất giàu hữu cơ lại có thể làm tăng độ phân giải hữu cơ, từ đó giải
phóng Bo hữu hiệu. Ngược lại, đất quá chua (pH<4) cũng thường nghèo Bo [28].
- Chất hữu cơ trong đất có khả năng giữ Bo tốt hơn sét. Sự hấp phụ Bo của
chất hữu cơ tăng khi pH tăng và đạt cực đại ở pH=9 sau đó lại giảm đi. Vai trò của
chất hữu cơ với Bo hữu hiệu chưa được biết rõ, song ở đất chua chất hữu cơ ảnh
hưởng tốt tới Bo hữu hiệu. Bo trong chất hữu cơ có thể được phân giải nhờ hoạt
động của các vi sinh vật. Trong phẫu diện đất hàm lượng Bo hữu hiệu ở lớp đất mặt
thường cao hơn so với lớp đất dưới, điều này do hàm lượng chất hữu cơ cao hơn.
Đất giàu hữu cơ thường có nhiều Bo hơn đất nghèo hữu cơ [28].
Ảnh hưởng của cấu trúc đất:
- Cấu trúc đất có ảnh hưởng đến hàm lượng Bo trong đất. Đất có cấu trúc
thô, đất cát, đất thoát nước tốt thường có hàm lượng Bo thấp. Đất có cấu trúc tốt có
khả năng giữ được Bo tốt trong khi đất cát, nghèo hữu cơ, lượng Bo rửa trôi tới
85% lượng Bo bón vào. Đất có cấu trúc tốt có khả năng giữ được Bo một thời gian
dài sau khi bón vào bởi Bo được hấp phụ trên bề mặt các khoáng sét. Trên đất có
cấu trúc tốt, phân Bo có hiệu lực kéo dài hơn so với đất có cấu trúc kém. Tuy nhiên,
trên đất có cấu trúc kém, lượng Bo cây hút có thể cao hơn. Dung tích hấp thụ Bo
của đất phụ thuộc nguồn gốc khoáng sét theo thứ tự:
Khoáng mica > Montmorillonite > Kaolinite [28].

- Lượng Bo hữu hiệu tăng lên ở đất chua song lại giảm đi ở đất kiềm. Ngay
cả lượng Bo hữu hiệu thấp cây trồng vẫn có thể đủ Bo nếu là đất chua, song cùng
mức Bo đó ở đất kiềm lại có thể thiếu Bo trầm trọng [28].
2.1.2.2. Lượng Bo chứa trong cây
Lượng chứa Bo hoàn toàn không giống nhau ở những loại cây khác nhau.
Hơn thế nữa đối với từng cơ quan của cùng một cây lượng chứa Bo cũng rất
khác nhau.
10
Thí nghiệm trồng cây ở trong những điều kiện như nhau ở những ô ruộng
10m
2
trên nền N P K bón theo mức 45kg/ha chất hữu hiệu ở dạng amonitrat, super
potat và kaliclorua đối với một số loại cây cho thấy lượng chứa Bo ở trong cây thay
đổi từ 2,0 - 35,0mg trong 1kg chất khô. Cây hoà thảo chứa một số lượng Bo ít nhất,
những cây thuộc họ khác giàu Bo hơn hẳn.
Bobko E.V và cộng sự (1940) đã làm thí nghiệm và cho thấy lượng chứa Bo
thay đổi ở mức đáng kể không những tuỳ theo loài cây mà còn tuỳ theo cả thời kỳ
sinh trưởng, phát triển của cây.
Theo tài liệu của Bertrand G. và Wall. (1936), Bertrand G. và Sillberstein L.
(1937), lượng chứa Bo trong những cây thuộc các họ khác nhau thì trồng trên cùng
một loại đất rất khác nhau. Ngoài những cây thảo vốn chứa một số lượng rất ít Bo
(2,3 - 5,0mg trong 1kg chất khô), còn có những cây như cây đai kích (Euphobia),
cây thuốc phiện (Papaver) chứa Bo nhiều gấp vài chục lần so với cây hoà thảo. Cây
họ đậu chiếm vị trí trung gian trong những cây trên.
2.1.2.3. Vai trò của Bo đối với cây trồng
- Bo là nguyên tố vi lượng rất quan trọng với cây trồng, ảnh hưởng đến hoạt
động của một số enzym, nó có khả năng tạo phức với các hợp chất polyhydroxy
khác nhau. Bo làm tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho thành tế bào vững
chắc và việc vận chuyển hydratcarbon được dễ dàng. Bo liên quan tới quá trình tổng
hợp protein, lignin. Bo thiết yếu đối với sự phân chia tế bào và quá trình thụ phấn ở

- Tình trạng thiếu Bo làm xuất hiện những phần thối nhũn và những hốc rỗng
trên cây củ cải cùng với đốm vàng trên lá và thường gây chết phần ngọn.
- Với đa số cây trồng, khi hàm lượng Bo<15ppm thì thiếu Bo. Tuy nhiên, với
cây một lá mầm có thể ngưỡng này thấp hơn. Cây đủ Bo khi đạt 15 - 100ppm B và
ngộ độc Bo trong cây >200ppm B [28].
Cách đây hơn một thế kỷ, người ta đã tiến hành những thí nghiệm đầu tiên
nghiên cứu ảnh hưởng của Bo đối với sinh trưởng của cây. Người ta đã nghiên cứu
ảnh hưởng của những hợp chất Bo khác nhau, chủ yếu là acid boric và muối borat
natri đối với sự nảy mầm của hạt giống sau khi ngâm hạt trong dung dịch có các
hợp chất chứa Bo và đối với sự sinh trưởng phát triển của cây khi thêm các hợp
chất Bo vào dung dịch dinh dưỡng. Trong một thời gian dài, những kết quả thu
được trong phần lớn trường hợp đều cho thấy ảnh hưởng độc của Bo đối với cây.
Nguyên nhân là do trong thí nghiệm đã dùng những nồng độ Bo cao (1,0%) lúc đó
cho là nồng độ không đáng kể nhưng thực ra lại độc đối với cây. Vì vậy trong một
thời gian dài Bo vẫn nằm trong số những nguyên tố độc đối với cây. Trong những
nghiên cứu sau đó, việc dùng những nồng độ Bo thích hợp cho thấy Bo có thể có
tác dụng tích cực đối với cây. Lần đầu tiên người ta thấy tác dụng tích cực của Bo
đối với cây trong những thí nghiệm của Nakamura M. vào năm 1902, khi bón với
12
lượng từ 1 đến 5mg cho 1kg đất ở dạng borat thấy Bo đã làm tăng mạnh sinh
trưởng của cây đậu Hà Lan và cây rau Bina. Còn bón Bo theo những liều lượng
cao hơn 10 đến 50mg cho 1kg đất đã làm giảm mạnh năng suất Đại mạch. Trong
thí nghiệm của Brenchley W.E làm từ năm 1941 đã đạt được những kết quả có giá
trị trong việc nghiên cứu Bo và nhiều nghiên cứu cho thấy đối với Đại mạch bắt
đầu bị ngộ độc khi nồng độ Boric khoảng 1: 250.000 phần nước, đối với đậu Hà
Lan là 1: 50.000. Tuy nhiều nhà nghiên cứu đã thấy tác dụng tích cực của Bo
trong một thời gian dài vẫn chưa giải quyết được vấn đề về sự cần thiết của
nguyên tố này đối với đời sống và phát triển bình thường của cây. Từ nhiều mâu
thuẫn trong nghiên cứu mà Bo đã từ phạm trù “những nguyên tố độc” chuyển sang
nhóm “các chất kích thích” [7].

những điều kiện không thuận lợi của môi trường bên ngoài và với vài loại bệnh do
nấm, vi khuẩn và virus [10].
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Lạc được coi là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu của
nhiều nước trên thế giới. Nguồn gốc cụ thể của cây lạc cho đến nay vẫn chưa được
khẳng định. Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học, người ta đã ghi
nhận cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Cây lạc được trồng đầu tiên ở lưu vực sông
Amazon thuộc Pêru. Ngoài ra lạc cũng được trồng rất sớm ở Mêxicô, Braxin,
Bolivia. Theo Krapovicat (1986), “có thể chắc chắn là Arachis hypogaea bắt nguồn
từ Bolivia tại các vùng đối núi thấp và chân của dãy núi Anđơ”. Giả thuyết này của
ông cho đến nay vẫn là giả thuyết có giá trị về cơ sở khoa học nhất, được nhiều nhà
khoa học chấp nhận [3].
Ngày nay, cây lạc được trồng phổ biến, phân bố rộng rãi từ 40 vĩ độ Bắc đến
40 vĩ độ Nam. Trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc. Lạc chủ yếu được trồng tập
trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ [19]. Lạc là cây trồng có khả năng thích ứng
rộng, được gieo trồng trên nhiều chân đất khác nhau và mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem
lại kim ngạch cao của nhiều nước. Theo thống kê của FAO, trong hơn 100 nước
trồng lạc hiện nay, ở Xêngan lạc chiếm ½ giá trị thu nhập và chiếm hơn 80% giá trị
xuất khẩu, ở Nigiêria lạc chiếm 60 % giá trị xuất khẩu [21]. Sản xuất lạc nói riêng
và đậu đỗ nói chung là con đường kinh tế nhất để giải quyết nạn đói Protein và
Lipid cho loài người, đồng thời duy trì và bồi dưỡng độ phì nhiêu của đất, hướng
đến một nền nông nghiệp bền vững.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lạc là cây họ đậu có diện tích lớn nhất, với
diện tích gieo trồng hàng năm đạt 22 triệu ha và sản lượng 30 triệu tấn/ha. Trong đó
sản lượng lạc ở các nước đang phát triển gấp 10 lần so với các nước phát triển.
Theo số liệu thống kê của FAO, trên thế giới hiện có hơn 100 nước trồng
lạc, chủ yếu tập trung ở 3 châu lục: Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ. Trong đó Châu
14

năm 70, 80, 90 là 14,8 - 15,0 tạ/ha [35]. Năm năm gần đây (2000 - 2004) năng
suất lạc trung bình hàng năm là 15,9 tạ/ha, tăng không đáng kể so với những thập
kỷ trước [37].
15
Mỹ có diện tích giảm nhẹ, năng suất lạc khá ổn định trong 3 thập kỷ qua.
Thập kỷ 70, diện tích trồng lạc là 0,605 triệu ha/năm, năng suất trung bình đạt 26,5
tạ/ha [35], đến thập kỷ 80, 90 diện tích giảm xuống còn 0,597 và 0,569 triệu
ha/năm, năng suất là 27,9 tạ/ha [32]. Năm 2000 - 2004 diện tích là 20,578 triệu
ha/năm, năng suất là 31,7 tạ/ha [37], đây là năng suất lạc trung bình cả nuớc cao
nhất thế giới.
Trung quốc là nước đứng thứ 2 về diện tích lạc. Diện tích và năng suất lạc ở
Trung Quốc tăng nhanh trong những thập kỷ qua. Thập kỷ 70 diện tích là 2,092
triệu ha/năm, năng suất là 12,0 tạ/ha, thập kỷ 80 diện tích tăng lên là 2,647 triệu
ha/năm, năng suất là 17,6 tạ/ha [34], [35]. Theo Duan Shufen (1998) [33], trong
thập kỷ 90 nhờ có những bước nhảy vọt về chọn tạo giống và kỹ thuật trồng trọt,
nên năng suất lạc ở Trung Quốc đạt rất cao, trung bình đạt 26,9tạ/ha. Theo thống kê
của USDA (2000 - 2005) [37], những năm gần đây diện tích lạc ở Trung Quốc là
5,035 triệu ha/năm, chiếm trên 20% tổng diện tích trồng lạc thế giới, năng suất lạc
trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp đôi (98,6%) năng suất lạc trung bình của thế
giới. Sản lượng lạc hàng năm của Trung Quốc là 14,160 triệu tấn, chiếm gần 40%
tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới.
Sênêgan là nước có diện tích trồng lạc khá lớn trên thế giới, song do thiếu
sự quan tâm của chính phủ, thiếu vốn đầu tư để phát triển cây lạc nên những thập
kỷ qua diện tích và năng suất lạc có su hướng giảm. Thập kỷ 60, 70 diện tích lạc
hàng năm là 1,1 triệu ha, sang thập kỷ 90 giảm xuống còn 0,69 triệu ha/năm (giảm
37,3%), năm 2003 chỉ còn 0,53 triệu ha (giảm 50%) [32], [35], năng suất lạc liên
tục giảm, thập kỷ 60 là 8,8 tạ/ha, thập kỷ 70 là 7,8 tạ/ha, thập kỷ 90 là 6,9 tạ/ha
[35]. Năm năm gần đây, năng suất lạc trung bình chỉ đạt 7,2 tạ/ha, trong đó thấp
nhất năm 2002 là 3,5 tạ/ha, sản lượng lạc là 0,45 triệu tấn/năm giảm so với thập kỷ
60 là 50% [32], [35].

Mỹ 0,66 0,49 0,48 3,35 3,22 3,51 2,21 1,57 1,69
Xênêgan 0,77 0,59 0,60 0,91 0,77 0,70 0,70 0,46 0,43
Xuđăng 0,96 0,96 0,92 0,54 0,38 0,50 0,52 0,36 0,46
Myanma 0,65 0,65 0,66 1,40 1,40 1,50 0,91 0,91 1,00
Camarun 0,31 0,31 0,30 0,76 0,53 0,53 0,23 0,16 0,16
Việt Nam 0,26 0,25 0,25 1,81 1,86 1,98 0,49 0,46 0,49
(Nguồn: www.fao.org)
Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng, đã và đang khuyến khích
nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng. Qua bảng 2.3
cho thấy: mặc dù diện tích gieo trồng giảm, năm 2005 diện tích đạt 6,73 triệu ha
đến năm 2007 giảm xuống còn 6,70 triệu ha, nhưng Ấn Độ vẫn là nước có diện tích
trồng lạc lớn nhất thế giới. Đứng thứ 2 thế giới về diện tích trồng lạc là Trung Quốc
(sau Ấn Độ) nhưng sản lượng lạc lại đứng đầu thế giới (13,09 triệu tấn), với năng
suất đạt 2,79 tấn/ha trong khi năng suất lạc bình quân thế giới đạt 1,49 tấn/ha. Nhìn
chung trong những năm gần đây, diện tích trồng lạc của hầu hết các nước trên thế
giới đang có chiều hướng gia tăng.
17
Trong cơ chế thị trường mới, các chính sách mở cửa đã tạo cơ hội cho các
nước trên thế giới trao đổi những tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh nhiệm sản xuất.
Đây là những nguyên nhân góp phần thúc đẩy, khuyến khích nhiều nước đầu tư
phát triển lạc với quy mô ngày càng lớn.
2.2.2. Tình hình sản xuất lạc trong nước
Ở Việt Nam, lạc hiện là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu
quan trọng, kim ngạch xuất khẩu hàng năm ước đạt 100 triệu USD. Sản lượng lạc
sản xuất hàng năm phần lớn dành cho xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu lạc chính
của Việt Nam hiện nay là: Singapo, Pháp, Đức, Nhật, Inđônêxia Sản xuất lạc ở
Việt Nam đạt hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số nông sản khác, tỷ suất lợi
nhuận đạt 31,86 % và xuất khẩu lạc đóng góp hơn 15 % nguồn thu từ xuất khẩu
nông sản. Hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ 5 trong 10 nước xuất khẩu lạc lớn
nhất thế giới. Do đó, việc nghiên cứu chọn tạo giống, sử dụng kỹ thuật thâm canh

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam từ 1997 - 2007
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1997 253,5 13,9 351,3
1998 269,4 14,3 386,0
1999 247,6 12,8 318,1
2000 244,9 14,5 355,3
2001 244,6 14,8 363,1
2002 246,7 16,2 400,4
2003 243,8 16,7 406,2
2004 263,7 17,8 469,0
2005 269,6 18,1 489,3
2006 251,3 18,6 464,8
2007 254,6 19,8 495,0
(Nguồn:www.fao.org)
Qua số liệu ở bảng 2.4 cho thấy được diện tích lạc có sự biến động không
đáng kể nhưng năng suất lạc đã tăng lên một cách rõ rệt và đến năm 2007 đã đạt
19,8 tạ/ha kéo theo sản lượng lạc năm 2007 đạt 495 nghìn tấn.
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc nước ta còn rất lớn. Kết quả nghiên cứu
trong những năm gần đây cho thấy trên diện tích rộng hàng chục ha gieo trồng mới
với biện pháp canh tác tiên tiến, nông dân có thể dễ dàng đạt năng suất lạc từ 4 - 5
tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất bình quân trong sản xuất đại trà [5]. Điều đó đã
chứng tỏ rằng : Nếu các kỹ thuật tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất sẽ
góp phân đáng kể trong việc tăng năng suất và sản lượng lạc ở nước ta. Vấn đề hiện
nay là làm sao để các giống mới và các tiến bộ khoa học kỹ thuật đến được với

Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng trực tiếp sự hoạt động của hai loại gió mùa chính,
gió đông bắc và gió tây nam. Gió đông bắc hoạt động bắt đầu từ tháng 10 và kết
thúc vào tháng 3 năm sau, gió tây nam hoạt động từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8.
Trong mùa mưa, nhiệt độ hạ thấp, lượng mưa lớn, tập trung gây ra lũ lụt trên diện
rộng vào tháng 10, tháng 11. Vì vậy, cơ cấu mùa vụ của các cây hàng năm ở tỉnh ta
được bố trí chủ yếu trong 2 vụ, vụ Đông Xuân từ tháng 12 đến tháng 5, vụ Hè Thu
từ tháng 5 đến đầu tháng 9, sản xuất vụ Đông không phát triển, quy mô nhỏ.
Ở Thừa Thiên Huế lạc cũng được xem là một trong những cây trồng quan
trọng, có hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Tổng diện tích đất trồng lạc của tỉnh Thừa
20
Thiên Huế là 4.834 ha (năm 2005) chiếm 6,2 % diện tích gieo trồng. Diện tích trồng
lạc có tăng trong những năm gần đây, song diện tích chỉ tăng chủ yếu trong vụ
Đông Xuân. Lạc được trồng trên nhiều loại đất, chủ yếu đất thịt nhẹ, cát pha hoặc
đất cát trên đất trồng màu, diện tích mở rộng hàng năm chủ yếu trên đất màu, trồng
xen trên đất sắn và một số diện tích chuyển đổi từ đất lúa. Diện tích trồng lạc bình
quân từ 2.600 - 2.800 m
2
/ hộ, phân tán ở nhiều thửa nên khó khăn trong canh tác.
Nếu thực hiện việc dồn điền đổi thửa trên đất trồng lạc sẽ tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho người sản xuất. Năng suất lạc có tăng qua các năm (năm 2005 năng suất
đạt 17,6 tạ/ha, tăng 5,2 tạ so với năm 2001) nhưng vẫn còn ở mức thấp. Nguyên
nhân chủ yếu do tỷ lệ sử dụng các giống mới có năng suất cao còn thấp, việc đầu tư
thâm canh còn hạn chế, mặc khác điều kiện thời tiết, khí hậu bất lợi cũng ảnh hưởng
đến năng suất lạc [22].
Thừa Thiên Huế là khu vực đặc thù của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, chịu
ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Cùng với phương hướng
phát triển sản xuất nông nghiệp của vùng là phát triển sản xuất hàng hoá, phát huy
lợi thế của vùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý né tránh thiên tai. Cây lạc đang
là cây trồng chủ lực trong cơ cấu cây trồng của tỉnh, chỉ đứng sau lúa và đạt hiệu
quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác. Sở dĩ như vậy là vì cây lạc có

19,83 tạ/ha thì năng suất trung bình của tỉnh Thừa Thiên Huế đạt 18,8 tạ/ha, thấp
hơn 1,03 tạ/ha. Năng suất lạc năm 2007 cũng là năng suất lạc cao nhất từ trước đến
nay của tỉnh.
(Nguồn:Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế năm 2007)
22
Theo biểu đồ trên cho thấy năng suất lạc tỉnh Thừa Thiên Huế giảm từ năm
2000 đến 2001, sau đó tăng dần đến nay. Qua 6 năm từ năm 2001 đến năm 2007
năng suất lạc của tỉnh tăng 6,5 tạ /ha.
Nhìn chung, năng suất lạc của tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn thấp so với năng
suất lạc trung bình của cả nước và năng suất lạc của vùng Bắc Trung Bộ. Hiện nay
Thừa Thiên Huế vẫn còn nhiều tiềm năng để tăng năng suất lạc. Chúng ta cần áp
dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật để phát huy tối đa năng suất đó.
Tỉnh đã có chủ trương đưa những giống mới có năng suất cao vào sản xuất ở
địa phương. Năm 2005 tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa một số giống lạc mới vào khảo
nghiệm và bước đầu đã cho một số kết quả nhất định. Trong các giống khảo nghiệm
giống L14 là giống có ưu thế nhất. Giống L14 thích hợp với điều kiện sinh thái của
tỉnh, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất trung bình đạt 28 tạ/ha [23].
2.2.4. Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng Bo trên thế giới và ở
Việt Nam
Trong khoảng 20 năm gần đây, việc nghiên cứu về vai trò của các nguyên tố
vi lượng trong đời sống thực vật cũng như hiệu quả của việc sử dụng những nguyên
tố đó trong thực tiễn nông nghiệp đã được đẩy mạnh rõ rệt ở nhiều nước.
Liên Xô (cũ) được xem là nước đứng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và sử
dụng phân vi lượng. Các loại phân vi lượng như: Bo, Molipden, Mangan, Đồng,
hàng năm được sử dụng ở diện tích trên 5 triệu ha [10]. Do dùng các loại phân này
nên không những năng suất cây trồng tăng rõ rệt mà phẩm chất của các sản phẩm
nông nghiệp cũng được cải thiện. Thí nghiệm đồng ruộng của V.P Dee Va trên đất
decno - potzon tỉnh Leningrat (Liên bang Nga) cho thấy Bo làm tăng năng suất củ
cải và cà rốt từ 10 -15 tạ/ha. Hàm lượng đường, caroten trong củ cải và cà rốt đều
tăng. Bo được bón vào đất trước khi gieo theo mức 1,5kg Bo/ha, hoặc bón thức

những kết quả tốt.
Bón đạm kết hợp với phun Bo có tác dụng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng,
phát triển: Trên nền 8 tấn phân chuồng + 30kg N + 60kg P
2
O
5
+ 60kg K
2
O + 400kg
vôi/ha kết hợp phun Bo đã cho năng suất cao nhất.
Bón lân kết hợp với phun vi lượng Bo có tác dụng rõ đến sinh trưởng của cây
lạc. Trên nền bón 90kg P
2
O
5
/ha và có phun vi lượng Bo đã làm tăng năng suất lạc
lên đáng kể. Phun Bo làm tăng khá rõ về hàm lượng dầu và hàm lượng prôtein
trong hạt.
Ở Mỹ, phân vi lượng được sử dụng trên quy mô rộng. Mỹ thường áp dụng
những cách bón nguyên tố vi lượng cho phép kết hợp được với những biện pháp
trồng trọt khác nhau như bón cùng phân đa lượng (dạng cứng hoặc dạng lỏng),
thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu bệnh, xử lý hạt giống, bón vào đất, bón thúc ngoài
rễ, nhờ đó mà một thực tế là diện tích đất trồng ở Mỹ trong khoảng 50 năm nay
không tăng trong khi dân số tăng 75% vẫn đảm bảo về lương thực, thực phẩm.
24
Bảng 2.6: Các loại phân chứa B chủ yếu
Loại phân Công thức
Tỷ lệ B
(%)
Dạng sản

O
7
H
3
BO
3
Na
2
B
4
O
7
.10H
2
O
+ (NH
4
)
2
HPO
4
Na
2
B
4
O
7
.10H
2
O

2
O
NaCa
2
B
5
O
9
.8H
2
O
6 - 10
14
9 - 10
Bột
Bột, viên
Bột, viên
Phân phức hợp
Đạm, lân chứa B (18-46-0)
Lân, kali chứa B (0-34-30)
NH
4
NO
3
+
(NH
4
)
2
HPO

Viên
25

Trích đoạn Ảnh hưởng của nồng độ và thời kỳ phun vi lượng Bo đến sự phát triển của cành lạc Tình hình sâu bệnh hại lạc Diện tích lá (dm2lá/cây): qua theo dõi ở cả hai thời kỳ sinh trưởng ra hoa và tạo quả chúng tôi thấy diện tích lá tăng lên khá lớn giữa hai thời kỳ này Trong Hiệu suất quang hợp (g chất khô/m2 lá/ngày đêm): HSQH là chỉ tiêu phản Tổng số quả/cây và số quả chắc/cây: phụ thuộc vào đặc tính giống, điều
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status