Nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng đạm, lân, kali đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc l14 vụ xuân 2009, tại hợp tác xã kim long, thành phố huế - Pdf 22

Phần 1
MỞ ĐẦU
Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây họ đậu có giá trị kinh tế và dinh
dưỡng cao. Nó có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của hầu hết các
địa phương trong cả nước. Lạc vừa là cây trồng có nhiều lợi ích vừa là cây
thực phẩm giàu đạm và chất béo, có chất lượng tốt, có khả năng sử dụng trực
tiếp làm thực phẩm trong nông nghiệp; vừa là cây có khả năng cải tạo đất do
nó có khả năng cố định nitơ sinh học của vi khuẩn nốt sần cộng sinh trên rễ
lạc.
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng luôn có mối quan hệ
khăng khít với đất và phân bón trong hệ sinh thái thống nhất. Sự mất cân bằng
dinh dưỡng trong đất, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng bình thường của cây
trồng. Phân bón có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của
đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất
và chất lượng nông sản.
Nhận thức rõ ý nghĩa câu nói của Các Mác: "Không có đất xấu, mà chỉ
có con người không biết làm thế nào để sử dụng đất tốt hơn", người dân Việt
Nam đã tìm ra các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả và nâng cao độ phì
nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của đất. Trong quá trình đó, Việt Nam
đã chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống "dựa vào đất" sang nền nông
nghiệp thâm canh "dựa vào phân bón".
Đất canh tác nước ta nói chung thường nghèo dinh dưỡng, do khí hậu
nhiệt đới thuận lợi cho khoáng hóa, các chất hữu cơ trong đất phân giải
nhanh. Vì vậy bón phân là để bù lại sự thiếu hụt và đảm bảo cân đối chất dinh
dưỡng cho cây trồng phát triển tốt hơn, đạt năng suất cao hơn. Nếu áp dụng
rộng rãi các biện pháp kỹ thuật tiên tiến sẽ góp phần rất đáng kể trong sản
xuất.
Thừa Thiên Huế với diện tích trồng lạc 4.763 ha (năm 2007), mặc dù trong
những năm qua việc sử dụng phân khoáng của nông dân trong sản xuất nông
nghiệp đã được tăng lên nhiều, nhưng chưa hợp lý nên đã mang lại hiệu quả kinh
tế thấp, nhất là việc coi trọng phân đạm, chưa thấy hết vai trò quan trọng của phân

Sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc, hạt lạc có nhiều chất dinh
dưỡng: dầu 40,2 – 60,7%; protein 20,0 – 37,2%; gluxit; vitamin; các nguyên
tố khoáng (đa lượng, trung lượng, vi lượng, siêu vi lượng ). Chính vì vậy
mà hạt lạc cung cấp chất béo và bổ sung protein cho con người. Hàm lượng
các chất dinh dưỡng của một số các loại hạt được thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của hạt một số loại cây có dầu.
Đơn vị: %
Hạt Dầu Protein Gluxit Khoáng
Lạc 40,0 – 60,7 20,0 – 37,2 6,0 – 22,0 1,8 – 4,6
Vừng 46,2 – 61,0 17,6 – 27,0 6,7 – 19,6 3,7 – 7,0
Đậu Tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 28,0 4,6 – 6,0
Hướng Dương 40,0 – 67,0 21,0 – 60,0 2,0 – 6,5 3,2 – 5,4
Nguồn: http/:en wikipedia.org/wiki/peanut[22].
Qua bảng trên chúng ta có thể thấy rõ ưu thế của hạt lạc trong vai trò
cung cấp thực phẩm với sự cân đối dầu, protein, gluxit và khoáng.
Theo tài liệu của Ưng Định – Đặng Phú, thành phần các chất dinh
dưỡng của hạt lạc như sau:[5]
3
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của hạt lạc.
Thứ tự Thành phần Tổng số (%)
1
Acid béo:
40 – 57
Trong đó: - Acid oleic
43 – 45
- Acid linoleic
20 – 37
- Acid panmitic
14 – 20
2

thế. Tuy có 4 loại có số lượng thấp hơn tiêu chuẩn của FAO, nhưng có nhiều
biện pháp để khắc phục nhược điểm này như bổ sung acid amin hoặc hỗn hợp
với một số protein khác như dùng phối hợp với đậu tương
- Vitamin: lạc là loại thức ăn giàu vitamin nhóm B (trừ B
12
).
4
Lạc có mùi thơm đặc biệt, có vị ngọt điển hình được tạo nên bởi các
hợp chất như đường và một số chất hữu cơ bay hơi. Từ lạc có thể chế biến
thành nhiều loại thức ăn như: lạc rang, lạc luộc, lạc muối, bơ lạc (là một loại
sản phẩm đặc biệt được sử dụng nhiều ở nước Mỹ), bột lạc (là một loại thức
ăn nhiều đạm, là sản phẩm của lạc nghiền nhỏ đã được khử dầu), kẹo lạc, lạc
bọc socola, sữa lạc (là một loại sản phẩm nghiền nhỏ của lạc và nước sau đó
tách chất béo, tinh bột và các chất khác bằng máy ly tâm), format lạc (là một
loại được chế biến từ sữa lạc có nhiều protein. Hiện nay lạc là cây trồng dùng
làm nguồn thay thế và bổ sung đạm, dầu để nâng cao mức sống và sức khỏe
cho con người)
- Khô dầu lạc có hàm lượng protein cao nhất 45 – 50% nếu bảo quản
tốt thì đây là một loại thức ăn bổ sung rất có giá trị trong chăn nuôi.
- Thân, lá xanh của lạc cũng có giá trị dinh dưỡng tương đương các loại
cỏ chăn nuôi, có thể sử dụng chăn nuôi trâu bò và các loại gia súc khác.
- Cám vỏ lạc chiếm khoảng 25 – 30% khối lượng quả, được nghiền ra
từ vỏ quả dùng để chăn nuôi lợn, gà, vịt đều rất tốt vì nó có thành phần dinh
dưỡng tương đương cám gạo.
Như vậy người ta có thể sử dụng khô dầu lạc, thân, lá lạc xanh và cám vỏ lạc
để làm thức ăn gia súc góp phần quan trọng trong phát triển ngành chăn nuôi.
2.1.2. Vai trò của cây lạc trong nền kinh tế quốc dân:
Lạc là cây họ đậu được canh tác khắp vùng nhiệt đới. Khoảng 87% sản
lượng lạc sử dụng trên thế giới được sử dụng bởi chính các nước sản xuất lạc,
chỉ có khoảng 13% sản lượng được trao đổi trên thị trường thế giới dưới dạng

10 nước xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới, đóng góp 15,11% cho nguồn hàng
nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên chất lượng các mặt hàng xuất khẩu lạc vẫn
chưa cao và không ổn định nên vẫn chưa thật sự đáp ứng thỏa mãn nhu cầu
6
108000
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
2002 2003 2004 2005 2006
nhập khẩu của một số nước. Vì vậy cần nâng cao giá trị chất lượng nông sản
phẩm để đạt được kim ngạch cao và mở rộng thị trường xuất khẩu. Mặt khác,
cần đa dạng mặt hàng xuất khẩu, ngoài lạc nhân chúng ta nên xuất khẩu dầu
lạc, bánh kẹo lạc, bơ lạc,
2.1.3. Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất:
Lạc là một loại cây họ đậu, có nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng không
thuộc loại cao lắm. Mà lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất. Do nó có
khả năng cố định nitơ đó là một quá trình chuyển hóa nitơ phân tử trong không
khí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng thông qua hoạt động sống của vi
khuẩn nốt sần (Rhyzobium) cộng sinh trên rễ của lạc. Theo tổ chức FAO ước tính
thì khả năng cố định nitơ của vi khuẩn nốt sần và cây lạc cùng một số cây họ đậu
khác trên đồng ruộng được thể hiện ở bảng 2.3.[2].
Bảng 2.3: Khả năng cố định nitơ của cây lạc và một số cây họ đậu chính.
Cây
Lượng đạm cố định
(kgN/ha/năm)
Lạc 72 – 124

Đất Phân bón
* Cây trồng:
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng, chúng là nguồn cung cấp
chất hữu cơ chủ yếu cho đất. Khoảnh 4/5 chất hữu cơ trong đất có nguồn gốc
từ thực vật. Trong hoạt động sống của mình cây trồng hút nước và khoáng
chất trong đất, đồng thời quang hợp tạo thành chất hữu cơ trong cơ thể. Sau
khi chết, xác của chúng rơi xuống đất trả lại những gì chúng lấy từ đất và bổ
sung nitơ, cacbon tạo thành chất hữu cơ trong đất, làm tăng độ phì cho đất.
Chu kỳ đất – cây – đất cứ liên tục diễn ra trong tự nhiên làm cho độ phì trong
đất tăng dần lên.
Phân bón cung cấp dinh dưỡng khoáng cho cây trồng sinh trưởng và
phát triển tốt, mang lại năng suất cây trồng cao. Mặt khác, phân bón còn làm
tăng độ mùn, độ màu mỡ cho đất.
* Đất:
Cùng với khí hậu thời tiết, đất trồng tạo nên môi trường sống của cây
trồng. Đất trồng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và
năng suất cây trồng. Đất giữ cây đứng vững trong không gian, đất cung cấp
cho cây các điều kiện sống như: nước, dinh dưỡng và không khí. Yếu tố quyết
định tới cây trồng là độ phì của đất. Căn cứ vào độ phì của đất người ta chia
đất thành đất tốt, đất xấu và phân hạng đất theo độ phì của đất.
Đất có các quá trình hình thành, có những tính chất vật lý, hoá học và
sinh học nhất định. Chính những quá trình này quyết định tới độ phì nhiêu của
đất, đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của cây trồng. Đặc
8
điểm này của đất còn ảnh hưởng đến thành phần cây trồng, hệ thống canh tác
và hệ thống các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trên đó nhằm mang lại lợi
ích trồng trọt cao nhất.
* Phân bón:
Phân bón là những chất cung cấp dinh dưỡng cho cây và bổ sung độ
màu mỡ cho đất. Chúng là phương tiện tốt nhất để làm tăng sản lượng và cải

phát huy hoặc hạn chế tác dụng với nhau. Tỷ lệ cân đối về dưỡng chất theo
yêu cầu của từng cây trồng có khác nhau và thay đổi theo lượng phân bón sử
dụng, tỷ lệ này cũng khác nhau so với loại đất trồng. Dựa vào đặc tính đó mà
chúng không thể áp dụng một công thức phân bón cho nhiều cây trồng khác
nhau và cho một loại cây trồng trên hai chân đất khác nhau [18].
Mỗi một loại cây trồng thì khi nồng độ một chất dinh dưỡng trong mô
cây hạ dưới mức tối thiểu sinh lý cần thiết, các triệu chứng thiếu dinh dưỡng
bắt đầu xuất hiện trong các bộ phận đặc trưng của cây. Đây là những chỉ thị
rất hữu ích giúp tìm ra biện pháp khắc phục nhanh chóng, từ đó sẽ không làm
giảm năng suất cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tóm lại, để có cơ sở cho việc bón phân cân đối cần thiết phải biết được
khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng của
mỗi loại cây trồng và sự phụ thuộc của mỗi yếu tố vào từng điều kiện thời tiết
cũng như chế độ canh tác cụ thể. Cuối cùng, bón phân cân đối đáp ứng được
tối thiều 3 yêu cầu: “bón đúng về các yếu tố dinh dưỡng cây trồng cần, bón
đủ về lượng và bón phù hợp về tỷ lệ các nguyên tố”.
2.2.3. Sự cần thiết phải bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng:
Về nguyên tắc, muốn đảm bảo một hệ sinh thái bền vững thì cây trồng hút
đi bao nhiêu, loại gì đều phải hoàn trả cho đất chừng ấy các chất dinh dưỡng.
Nhưng ở nước Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung thì trong nhiều
năm cây trồng đã lấy đi một lượng dinh dưỡng đáng kể mà không trả lại cho
đất do thâm canh, tăng vụ và việc sử dụng phân bón không cân đối.
Chúng ta đều biết rằng, ban đầu trên tất cả các loại đất phân đạm là
nguyên tố dinh dưỡng thiếu nhiều nhất nên sử dụng phân đạm đã làm tăng
năng suất rất lớn. Tuy nhiên, phân đạm lại không phải là yếu tố có thể tạo lập
độ phì nhiêu cho đất, nên sử dụng không cân đối đạm với các nguyên tố khác
sẽ là nguyên nhân quan trọng nhất trong việc làm suy thoái đất. Ở Việt Nam,
trên đất phèn, nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 – 50 kgN, song
bón lân đã làm cây trồng hút được 120 – 130 kgN/ha. Tương tự, trên đất bạc
10

phần cơ bản của protein, chất cơ bản biều hiện sự sống. Đạm nằm trong nhiều
hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như: diệp lục, các chất
11
men, các bazơ có nitơ, thành phần cơ bản của acid nucleic, trong các ADN
ARN của nhân tế bào, nơi cư trú của các thông tin di truyền đóng vai trò quan
trọng trong việc tổng hợp protein. Do vậy, đạm là yếu tố cơ bản của đồng hóa
cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng
khác [8].
Cây lạc chứa nhiều đạm trong lá và hạt, thiếu đạm cây cằn cỗi, mảnh
dẻ, mềm yếu và có dáng cao do sự sinh trưởng bị đình trệ khá sớm và do các
lá non phát triển không đầy đủ và không đẫy, nảy nở rất chậm, các lá già đã
mọc bình thường rồi cuống cũng dài ra hơn bình thường, màu lá ban đầu thì
sáng sau đó chuyển sang màu xanh nhạt và cuống lá sau cũng chuyển màu, lá
sẽ ngả sang màu vàng [10]. Thiếu đạm nặng thì gốc vàng rụng, sự hình thành
quả bị hạn chế và cây có thể chết sau 2 tháng trồng. Nhu cầu đạm của cây lạc
có sự khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của nó. Cây lạc
non cần đạm để sinh trưởng tốt, phân cành sớm, khi ra hoa đầu tiên lạc cần
đến 70% tổng lượng đạm. Đạm bên ngoài trở nên rất cần thiết cho cây lạc
trong giai đoạn trước khi nở hoa do tính ký sinh của vi khuẩn nốt sần
(Rhyzobium) cộng sinh trên rễ cây lạc. Vì vậy, bón đạm cho lạc ở thời kỳ đầu
là rất cần thiết để xúc tiến sự hình thành nốt sần và phân hóa mầm hoa. Tuy
nhiên nếu đạm quá nhiều thì ức chế sự hình thành nốt sần và hoạt động của vi
khuẩn dẫn đến cây bị vống lốp đổ, số cành hữu hiệu giảm [1].
Đạm có vai trò làm tăng sinh trưởng và phát triển của mô sống, quyết
định phẩm chất nông sản. Mặc dù có nhu cầu đạm cao nhưng trong thực tế
đạm bón cho lạc bao giờ cũng thấp hơn lân và kali. Bón nhiều đạm cho lạc sẽ
làm thời gian sinh trưởng bị kéo dài, ngăn cản sự hình thành nốt sần ở rễ và
khả năng cố định nitơ của vi khuẩn nốt sần do sản phẩm của quang hợp
chuyển hóa thành protein, làm giảm việc cung cấp hydratcacbon cho các vi
sinh vật này và sinh khối phát triển mạnh [11].

thể trong chất nguyên sinh giữ chặt ở dạng không trao đổi chất mạnh mẽ và
phân chia tế bào rồi đến trong phấn hoa. Mặc dầu, kali không tham gia vào
thành phần của các enzim nhưng có tác dụng hoạt hóa nhiều enzim. Kali làm
tăng độ ngậm nước của keo nguyên sinh chất nhờ tăng khả năng giữ nước của
cây. Khi thiếu kali, giai đoạn kết thúc của sự sinh tổng hợp protein bị chậm lại
và sự phân giải các phân tử protein lại xúc tiến mạnh mẽ hơn, sự hình thành
các liên kết cao năng bị chậm lại và hàm lượng photpho trong các nucleotit bị
giảm, nhưng trong cây lại tích lũy photpho ở dạng vô cơ. Kali có nhiều tác
13
dụng trong cây, nhưng có nhiều mặt còn chưa thấy rõ. Kali tham gia vào việc
tạo thành protein theo một cơ chế còn chưa rõ, nhưng điều đó chứng minh
rằng cần phải cung cấp đủ kali thì bón phân đạm mới có hiệu quả. Dơmôlông
đã nhấn manh: “Có một sự liên hệ chắt chẽ giữa hai yếu tố N và K, hai yếu tố
này đều phải tăng nếu người ta muốn cho cây trồng sử dụng tốt đạm và kali”.
Trước đây, người ta quan niệm thiếu kali không ảnh hưởng tới trao đổi
lân, nhưng gần đây theo tài liệu L.A Zucra và P.F. Goluleva (1963) thì thiếu
kali đã làm hạn chế quá trình tạo thành các liên kết cao năng trong các
nucleotit và tiếp theo sự hình thành các hợp chất hữu cơ khác bị giảm sút.
Đối với cây lạc, nhân dân ta thường nói: “Không lân, không vôi thì thôi
trông đậu”. Thực tiễn lại chứng minh kali quan trọng hơn vôi đối với các loại
cây đậu đỗ [16].
Kali có tác dụng đẩy mạnh việc tạo thành hydratcacbon và làm cho
thân lá cứng cáp, đồng thời cũng có liên quan mật thiết với việc tạo thành
protein. Khi bón đủ kali cây sẽ hút tương đối nhiều đạm, vì thế hạt lạc hình
thành nhiều protein hơn. Kali không chỉ có thể làm cho thân lá phát triển khỏe
mà còn có thể làm cho lạc tăng khối lượng của hạt, giảm tỷ lệ quả lép.
Cùng với lân, kali cũng có khả năng làm tăng số lượng và khối lượng
nốt sần ở rễ. Kali đảm nhận vận chuyển các hydratcacbon vào rễ đậu đỗ, nơi
hình thành và phát triển nốt sần. Điều đáng chú ý là, cây đâu đỗ hút lân dễ
hơn các loại cây khác, nhưng lại hút kali kém hơn, chính vì vậy bón kali cho

chiếm diện tích và sản lượng cao. Phân bón tiêu thụ cho nhóm cây này cũng
chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt tới 55% tổng sản lượng phân bón hóa học tiêu thụ
trên thế giới thể hiện ở bảng 2.6. Trong tương lai, khi mà diện tích và năng
suất cây lương thực cho con người tăng lên, thì phân bón cho cây này cũng sẽ
có sự tăng trưởng mạnh. Bên cạnh cây lương thực, các cây có dầu chiếm tỷ lệ
tiêu thụ phân bón 12% xếp thứ hai và cũng sẽ có sự tăng trưởng mạnh.
Bảng 2.6: Tỷ lệ phân bón sử dụng ở các nhóm cây
Nhóm cây
Tỷ lệ tiêu thụ
(%)
Cây lương thực 55
Cây có dầu 12
Đồng cỏ 11
Cây công nghiệp 11
Cây có củ 6
Cây ăn quả và rau 5
(Nguồn: International Fertilizer Industry Association may, 1999)
15
Như vậy, tăng nhanh sử dụng phân hóa học là con đường tất yếu phải đi của
nông nghiệp nước ta và các nước đang phát triển [15]. Trong những năm qua, việc sử
dụng phân bón ở nước ta đã có những tiến triển rõ nét, góp phần đáng kể vào việc nâng
cao năng suất cây trồng và tăng nhanh giá trị sản lượng ngành nông nghiệp.
Tỷ lệ phân bón sử dụng quy định ra dinh dưỡng nguyên chất ở nước ta
cho thấy trong những năm gần đây việc sử dụng phân bón đã ngày càng hợp
lý. Điều này thể hiện bằng tỷ lệ bón kali và lân ngày càng cao hơn. Năm 1991
tỷ lệ sử dụng là N:P
2
O
5
:K

0
1 0,436 0,149
1997 861,92 325,08 149,00
1336,0
0
1 0,377 0,173
1998
1042,6
0
347,31 239,28 1629,00 1 0,333 0,229
1999 852,00 371,35 194,00 1363,40 1 0,372 0,228
2000 946,00 365,50 210,00 1521,50 1 0,386 0,222
Hiện nay, việc sử dụng phân bón còn rất nhiều bất cập, sử dụng phân
bón qua nhiều địa phương không hợp lý đã làm giảm độ phì nhiêu tiềm tàng
cũng như độ phì nhiêu tự nhiên của đất làm cho đất bị chai và thoái hóa
nghiêm trọng, ngoài ra còn gây ô nhiễm môi sinh, môi trường. Xu hướng sản
xuất hiện này là phải sử dụng phân bón cân đối và hợp lý. Sử dụng nhiều
16
phân vi sinh vừa cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng vừa để
cải tạo đất, tăng hàm lượng mùn và đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cao.
2.3. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam:
2.3.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới:
Lạc là cây công nghiệp, cây lấy dầu, cây thực phẩm quan trọng của các
nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Trung tâm khởi nguyên cây lạc là Nam Bolivia
và Bắc Achentina (ICRISAT, 2003). Lạc hiện đang được trồng ở 10 quốc gia
từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam với diện tích khoảng 26,37 triệu ha với
tổng sản lượng 36,05 triệu tấn (FAOSTAT,2005). Tình hình sản xuất lạc trên
thế giới và một số nước được trình bày ở bảng 2.7.
Cây lạc được trồng chủ yếu tập trung ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ.
Trong đó, Châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất chiếm 63,4% diện tích và

Trung Quốc 2,79 tấn/ha, Indonesia 2,10 tấn/ha, Việt Nam 1,96 tấn/ha, Ấn Độ
chỉ có 0,98 tấn/ha khá thấp so với diện tích thực tế
Mặc dù, Ấn Độ là nước có diện tích lạc lớn nhất trên thế giới nhưng sản
lượng lại đứng sau Trung Quốc. Sản lượng lạc của Trung Quốc là 13,09 triệu
tấn, Ấn Độ là 6,60 triệu tấn, Nigieria là 3,83 triệu tấn, Mỹ là 1,69 triệu tấn.
2.3.2. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, cây lạc được trồng từ lâu đời và được sử dụng rộng rãi
trong đời sống hàng ngày của nhân dân ta. Hiện nay, lạc được phân bố chủ
yếu ở 4 vùng lớn là: Miền núi và Trung du Bắc Bộ, Đồng bằng Sông Hồng,
Khu 4 cũ, Miền Đông Nam Bộ. Cả 4 vùng này chiếm đến 3/4 diện tích và sản
lượng, còn lại rải rác ở một số vùng khác.
Ngày nay, với việc chuyển đổi cơ chế tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã
tạo nên sự chuyển biến mới trong sản xuất lạc ở nước ta. Tình hình sản xuất
lạc trong nước tính đến hết niên vụ 2007 được trình bày ở bảng 2.9.
Bảng 2.9: Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 1997 – 2007.
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2000 249,9 14,5 355,3
2001 244,6 14,8 363,1
2002 246,7 16,2 400,4
2003 243,8 16,7 406,2
2004 263,7 17,8 469,0
2005 269,6 18,1 489,3
2006 249,3 18,6 464,8

Nguyên nhân hạn chế năng suất lạc bao gồm cả yếu tố kinh tế xã hội,
yếu tố sinh học và yếu tố phi sinh học. Hầu hết các nông dân đều có thu nhập
thấp nên không có khả năng mua giống tốt và phân bón đầu tư cho trồng lạc.
19
Giá bán sản phẩm không ổn định, hệ thống cung ứng giống còn kém chỉ có
công ty giống cây trông Thừa Thiên Huế cung cấp cho nông dân. Bên cạnh
đó, Thừa Thiên Huế lại có khí hậu khắc nghiệt nắng lắm mưa nhiều, ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lạc. Ngoài ra, việc sử dụng phân
bón không thích hợp cũng có ảnh hưởng nhất định đến năng suất lạc trên địa
bàn của tỉnh.
Tuy nhiên những năm gần đây do có sự quan tâm, đầu tư của các nhà
lãnh đạo tỉnh đến nông nghiệp nói chung và đến cây lạc nói riêng đã làm cho
năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên. Tình hình chi tiết về diện tích,
năng suất, sản lượng lạc những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.10:
Bảng 2.10: Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế từ năm 1997 – 2007.
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
1997 3800 15,0 5700
1998 4300 13,5 5800
1999 4100 14,1 5800
2000 3900 14,1 5500
2001 4800 12,3 5900
2002 4900 14,9 7300
2003 4500 15,9 7300
2004 4600 17,0 8200

của cây lên 77,33%, của lân lên 3,75%. Tỷ lệ bón phối hợp NPK cho lạc thích
hợp nhất là 1:1,5:2.
Theo Anonyme (1996): cứ mỗi đơn vị NPK được bón cân đối sẽ cho
sản phẩm thu hoạch cao hơn từ 10 – 30 đơn vị, hoặc cao hơn nữa so với bón
không cân đối.
Ở Ấn Độ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy việc bón phân phối
hợp: 30 kg N/ha với 17 kg P
2
O
5
/ha làm tăng gấp đôi năng suất so với bón đơn
độc 30 kg N/ha. Bón phối hợp 10 – 40 kg N, 30 – 40 kg P
2
O
5
, 20 – 40 kg
K
2
O/ha là mức tối ưu cho lạc ở Ấn Độ.
2.4.2. Các nghiên cứu về phân bón ở Việt Nam:
Việc bón phân trực tiếp cho lạc là yếu tố kỹ thuật quan trọng để đạt
năng suất cho lạc cao và có hiệu quả kinh tế, lượng đạm do vi khuẩn nốt sần
cộng sinh cố định đạm chỉ cung cấp khoảng 60 – 70% nhu cầu đạm của lạc,
số còn lại phải bón phân bổ sung, trong đó có lượng phân hữu cơ từ 8 – 12
tấn/ha.
Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo đối với cây lạc và là một trong những
yếu tố hạn chế lạc ở các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất càng nghèo
lân, hiệu lực lân càng cao. Trung bình hiệu suất 1 kg P
2
O

5
.
Canxi là một nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc. Bón vôi không
những có ý nghĩa làm tăng trị số pH đất, tạo môi trường thích hợp cho vi
khuẩn cố định đạm hoạt động, mà còn có tác dụng vệ sinh đồng ruộng và
cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa tạo quả của lạc. Trên đất
bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thí nghiệm cho thất năng suất lạc
tăng từ 0,2 – 0,4 tấn/ha khi bón 300 – 600 kg vôi trên nền: 8 tấn phân chuồng
+ 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O. Và khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng NPK
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lạc ở đất bạc màu tỉnh Hà
Bắc cho thấy, năng suất lạc vụ xuân cũng như vụ thu đều đạt năng suất cao ở
mức bón: 10 tấn phân chuồng + 30 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O. Còn ở
Nho Quan, Ninh Bình thì năng suất lạc đạt cao nhất ở mức bón 400 kg vôi +
30 kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 30 kg K

3.3. Phương pháp nghiên cứu:
3.3.1. Địa điểm thực hiện thí nghiệm:
Trên chân đất phù sa tại Hợp tác xã Kim Long, phường Kim Long,
Thành phố Huế.
3.3.2. Thời vụ gieo:
Thí nghiệm thực hiện vào vụ Xuân năm 2009.
3.3.3. Diễn biến thời tiết, khí hậu:
Đối với cây trồng, khí hậu và đất đai được xem là hai yếu tố quyết định
sự tồn tại của cây trồng. Khai thác triệt để những thuận lợi của chúng sẽ giúp
cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao và đem lại nhiều
nguồn lợi kinh tế khác.
23
Đối với cây lạc, khí hậu là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến thời vụ gieo
trồng, đến sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu, năng suất, phẩm chất
cũng như diễn biến sâu bệnh hại. Trong đó, nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và khả năng cho năng suất của cây lạc. Để
tìm hiểu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đối với cây lạc trong thời gian triển
khai thí nghiệm, chúng tôi tiến hành thu thập số liệu về thời tiết khí hậu vụ
Xuân 2009 ở trạm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế được kết quả như sau:
Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Xuân năm 2009
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ
(
0
C)
Lượng mưa
(mm)
Ẩm độ
(%)

C 19,6
0
C 150,5 88 60 90
10 ngày
đầu tháng 5
25,5
0
C 30,0
0
C 21,5
0
C 88,0 93 62 50
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế)
Qua bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy thời tiết trong vụ Xuân năm
2009 tại tỉnh Thừa Thiên Huế diễn ra tương đối phức tạp. Cụ thể:
Tháng 2: Nhiệt độ biến động khá lớn từ 13,2
0
C – 27,5
0
C, ẩm độ trung
bình 91%, số giờ nắng 67 (giờ), số ngày mưa của tháng thấp (5 ngày), lượng
mưa thấp chỉ có 24,1 (mm). Sau khi gieo lạc, trời có mưa nhưng khi lạc vừa
mọc tối đa thì trời nắng làm ảnh hưởng tới tỷ lệ nảy mầm của hạt, từ đó làm
ảnh hưởng tới năng suất thực thu sau này.
Tháng 3: Nhiệt độ trung bình tăng lên, nhiệt độ biến động lớn từ
14,5
0
C – 30,5
0
C, vì do vào giữa tháng 3 thừa thiên Huế chịu ảnh hưởng của 2

.
3.3.5. Công thức thí nghiệm:
Bao gồm 9 công thức:
Công thức I(Đ/c): N
0
P
0
K
0
Công thức II: N
30
P
90
K
60
Công thức III: N
30
P
90
K
90
Công thức IV: N
30
P
120
K
60
Công thức V: N
30
P

(kg/ha)
Liều lượng P
2
O
5
(kg/ha)
Liều lượng K
2
O
(kg/ha)
I(Đ/C) 0 0 0
II 30 90 60
III 30 90 90
IV 30 120 60
25

Trích đoạn Thời kỳ thu hoạch: Số cành cấp 2: Tỷ lệ hoa hữu hiệu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status