Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị
kinh tế và dinh dưỡng cao. Hiện nay lạc đang được trồng ở nhiều nước trên
thế giới. Theo FAO trong các loài cây lấy hạt có dầu được trồng hàng năm
trên thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 sau đậu tương, Việt
Nam là nước trồng lạc đứng thứ 5 ở châu Á sau: Ấn Độ, Idonesia, Trung
Quốc và Myanma. Lạc có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của hầu
hết các địa phương trong cả nước. Lạc là cây lấy dầu có giá trị, trong hạt lạc
chứa lượng dầu cao từ 40-57 %, ngoài ra chứa protein khá cao từ 20-37,5 %
và các vitamin quan trọng khác như vitamin A, B
1
, B
6
, vitamin PP, có thể sử
dụng trực tiếp làm thực phẩm. Lạc là cây có khả năng cải tạo đất do ở rễ lạc
có các vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định đạm cung cấp cho cây nâng cao
hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.
Hiện nay ở nước ta, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng,
là nguồn thực phẩm cho con người, nguồn thức ăn cho gia súc và là cây cải
tạo đất lý tưởng. Sản xuất lạc ở Việt Nam ngày càng phát triển, từ năm 1995
đến năm 2000 sản xuất lạc có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng nhưng
năng suất chưa cao, chỉ đạt khoảng 1,4 tấn/ha. Nhưng đến năm 2009 diện tích
trồng lạc trong cả nước đạt 249,2 nghìn ha và năng suất đạt 2,1 tấn/ha, cao
hơn nhiều so với các năm trước. Một trong những yếu tố quan trọng nâng cao
năng suất lạc ở Việt Nam là chúng ta đã chọn tạo, nhập nội được một số giống
mới và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Nhưng năng suất lạc ở nước ta nói chung
và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa cao do nhiều nguyên nhân, trong đó
nguyên nhân chủ yếu: nông dân còn xem cây lạc là cây trồng phụ, chưa áp
dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong thâm canh, đa số diện tích
lạc cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao nhất ở Thừa Thiên Huế và các
vùng có điều kiện đất đai tương tự.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu bổ sung các dẫn liệu mới về vai trò của Mg đối
với cây lạc trồng ở Thừa Thiên Huế.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất các liều lượng bón MgSO
4
tối
ưu cho cây lạc ở Thừa Thiên Huế và những vùng khác có điều kiện tương tự.
Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh cây lạc cho năng suất cao.
1.4. Phạm vi nghiên cứu:
- Giống lạc : L14
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu cây trồng Tứ Hạ, huyện
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân năm 2011
2
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Giới thiệu chung về cây lạc
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây lạc
Cây lạc là cây trồng có giá trị kinh tế cao, xếp thứ 13 trong các cây thực
phẩm trên thế giới (Varnell và mocloud, 1975) [15, 11]. Nó không chỉ được
trồng ở khắp các tỉnh trên nước ta mà còn được trồng ở rất nhiều nơi trên thế
giới. Ngày nay, cây lạc được trồng rất phổ biến, phân bố rộng rãi từ 40 vĩ độ
bắc đến 40 vĩ độ nam [12, 11]. Trên thế giới hiện có hơn 100 quốc gia và
vùng lãnh thổ trồng lạc với diện tích khoảng 23 triệu ha. Căn cứ các tài liệu
về khảo cổ học, nhiều nhà khoa học đã xác định cây lạc được trồng cách đây
3200 - 3500 năm. Cây lạc được ghi vào sử sách từ thế kỷ thứ XVI [9, 7]
Cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Được trồng ở lưu vực ven sông Amazon
thuộc Peru. Năm 1877, Skie đã tìm thấy quả lạc trong ngôi mộ thời Ancon
vì vậy mà hạt lạc cung cấp chất béo và bổ sung protein cho con người. Trong
protein của hạt lạc chứa các axit amin quan trọng và cần thiết cho con người
gồm: các axit olêic, ninoleic, lauric, arginin, lơxin, metonin, serin, triptophan,
valin, carbonhydrate. Trong thực tế lạc được sử dụng để bổ sung cả về số
lượng và chất lượng các protit của một khẩu phần lấy các hạt cốc làm nền.
Hỗn hợp “ hạt cốc – lạc” đã được chứng minh là tốt. Các hạt cốc phần nhiều
thiếu lizin lạc lại thiếu metionin, hai loại protit này thường bổ sung cho nhau
[9, 111].
Hàm lượng các chất dinh dưỡng của một số các loại hạt được thể hiện ở bảng
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của hạt một số loại cây có dầu.
Đơn vị: %
Hạt Dầu Protein Gluxit Khoáng
Lạc 40,0 – 60,7 20,0 – 37,2 6,0 – 22,0 1,8 – 4,6
Vừng 46,2 – 61,0 17,6 – 27,0 6,7 – 19,6 3,7 – 7,0
Đậu Tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 28,0 4,6 – 6,0
Hướng Dương 40,0 – 67,0 21,0 – 60,0 2,0 – 6,5 3,2 – 5,4
(Nguồn:http//en.wikipedia.org) [19]
4
Qua bảng trên có thể thấy rõ ưu thế của hạt lạc trong vai trò cung cấp các
chất dinh dưỡng cần thiết cho con người với sự cân đối dầu, protein, gluxit và
khoáng. Hàm lượng dầu trong hạt lạc từ 40,2 - 60,7 % tương đương với vừng
và hướng dương cao hơn đậu tương. Tỷ lệ protein 20,0 - 37,2 % cao sau đậu
tương, nhưng cao hơn vừng và hướng dương. Chất khoáng trong hạt lạc thấp
hơn so với đậu tương. Lạc là một loại thực phẩm có giá trị cao cung cấp cả về
mặt cung cấp năng lượng (calo), cả về mặt cung cấp protein.
Theo tài liệu của Ưng Định và Đặng Phú thành phần các chất dinh dưỡng
của hạt lạc như sau:
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của hạt lạc.
Thứ tự Thành phần Tổng số (%)
1
Ngoài ra, các sản phẩm phụ khác như: Khô dầu lạc là nguồn bổ sung chất
đạm, chất béo quan trọng trong chế biến thức ăn gia súc tổng hợp [10, 6]. Khô
dầu lạc nhân sau khi ép dầu có khoảng 10 % nước, 45 % protein, 8 % lipid, 4,8
% xenlulo, 25 % gluxit và 6,6 % các loại muối khoáng 14, 15]. Thân lá lạc sau
5
khi thu hoạch có thể làm thức ăn cho trâu bò hoặc có thể dùng làm phân bón
bằng cách ủ mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn xuống ruộng.
2.1.2. Giá trị kinh tế
Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu
mang lại kim ngạch xuất khẩu cao của nhiều nước. Ở Xenegan, giá trị lạc
chiếm 1/2 thu nhập, chiếm 80 % giá trị xuất khẩu, còn Nigieria lạc chiếm 60
% giá trị xuất khẩu [8]
Ở nước ta, sản lượng lạc sản xuất ra hàng năm phần lớn dành cho việc xuất
khẩu, có năm đã xuất đến 70 % sản lượng. Mấy năm gần đây chúng ta đã xuất
70 – 80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như Pháp, Ý, Đức cho nên lạc đối với
chúng ta cũng là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng [ 14, 21]. Theo
FAO, xuất khẩu lạc nhân của Việt Nam hiện nay vẫn đang đứng thứ 5 trong
10 nước xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới, đóng góp 15,11 % cho nguồn hàng
nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên chất lượng các mặt hàng xuất khẩu lạc vẫn
chưa cao và không ổn định nên vẫn chưa đạt yêu cầu nhập khẩu của một số
nước. Vì vậy cần nâng cao giá trị chất lượng nông sản phẩm để đạt được kim
ngạch cao và mở rộng thị trường xuất khẩu. Mặt khác, cần đa dạng mặt hàng
xuất khẩu, ngoài lạc nhân chúng ta nên xuất khẩu dầu, bánh kẹo, bơ,
Các sản phẩm phụ còn dùng trong chăn nuôi, dùng làm nguyên liệu trong
công nghiệp như làm dầu nhờn xoa máy, trục xe, xà phòng.
2.1.3.Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất
Lạc là một loại cây họ đậu, có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất. Do nó có
khả năng cố định nitơ đó là một quá trình chuyển hóa nitơ phân tử trong không
khí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng thông qua hoạt động sống của vi
khuẩn nốt sần cộng sinh trên rễ của lạc. Theo tổ chức FAO ước tính thì khả
đứng thứ 2 trong các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sản lượng) sau đậu
tương [15, 41]. Theo FAO, tổng diện tích trồng lạc thế giới là 25,210.000 ha
được trồng chủ yếu ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Trong đó, châu Á có diện
tích trồng lạc lớn nhất chiếm 63,4 % diện tích và 71,7 % sản lượng. Ở châu
Phi chiếm 31,3 % diện tích và 18,6 % sản lượng, Bắc Trung Mỹ và các nước
còn lại chiếm 3,7 % diện tích và 7,5 % sản lượng.
Trước đây, trên thế giới có 75 % diện tích trồng lạc sản xuất theo lối cổ
truyền, kỹ thuật canh tác lạc hậu [6, 13]. Cho nên năng suất không cao và
thường không ổn định. Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để
năng cao năng suất và sản lượng lạc ở các nước còn rất lớn cần phải khai thác
[2, 1]. Hiện nay đa số các nước đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
vào trong sản xuất vì thế mà năng suất lạc ngày càng tăng cao. Ở Ấn Độ,
nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc đã thực hiện chương trình phát
triển và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm giải quyết cơ bản vấn đề
tự túc dầu ăn cho đất nước từ những năm 1980. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho
7
thấy, nếu chỉ sử dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng
suất lạc bình quân chỉ đạt 26 - 30 %. Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ
nhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20 - 43 %. Nhưng giống
mới kết hợp kỹ thuật canh tác tiến bộ đã tăng năng suất lạc 50 – 63 % trên
đồng ruộng nông dân [2]. Tuy nhiên, các tiến bộ khoa hoc kỹ thuật áp dụng
còn chưa đồng đều giữa các nước vì thế dẫn đến sự chênh lệch năng suất lạc
giữa các nước.
Tình hình sản xuất lạc trên thế giới biểu hiện qua bảng sau
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của một số nước trên thế giới.
Chỉ tiêu
Năm
Tên nước
Diện tích
(triệu ha)
vùng lớn là: Miền núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, khu bốn cũ
và miền Đông Nam Bộ. Cả 4 vùng này chiếm đến 3/4 diện tích và sản lượng,
còn lại rải rác ở một số vùng. Trong những năm gần đây, đảng và nhà nước ta
đã có những chủ trương và chính sách khuyến khích, đầu tư phát triển sản
xuất lạc. Do đó diện tích lạc trong những năm gần đây đã tăng với tốc độ khá
nhanh. So với các cây công nghiệp khác, lạc hiện nay chiếm diện tích khá lớn.
Về tình hình tiêu thụ lạc, trong thập kỷ 90 Việt Nam là nước đứng thứ tư về
xuất khẩu lạc. Lượng lạc xuất khẩu trong 5 năm đầu thập kỷ 90 là 127 nghìn
tấn, chiếm 8,7 % thị phần, 5 năm cuối thập kỷ 90 tăng lên 173 nghìn tấn,
chiếm 11,6 % thị phần. Những năm gần đây (2001- 2005), trung bình kim
ngạch xuất khẩu lạc của Việt Nam đạt khá cao, trên 50 triệu đôla Mỹ. Tình
hình sản xuất lạc ở Việt Nam những năm gần đây thể hiện ở bảng sau
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2000 244,9 14,5 355,3
2001 244,6 14,8 363,1
2002 244,7 16,2 400,4
2003 243,8 16,7 406,2
2004 263,7 17,8 469,0
2005 269,6 18,1 489,3
2006 264,7 18,7 462,5
2007 254,5 20,0 510
2008 256,0 20,9 533,8
2009 249,2 21,1 525,1
10
Qua bảng số liệu cho thấy diện tích lạc giảm dần, năm 2005 là 4800 ha đến
năm 2009 chỉ còn 4100 ha, nhưng do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng
suất và sản lượng tăng, về năng suất, từ năm 2005 đến năm 2009 có xu hướng
tăng và đạt 21,2 tạ/ha vào năm 2009 tăng 3,6 tạ/ha so với năm 2005 (17,6
tạ/ha). Mặc dù diện tích lạc giảm nhưng do năng suất tăng nên sản lượng lạc
ngày càng tăng. Năm 2005, sản lượng lạc đạt 8400 tấn, đến năm 2009 đạt
8700 tấn. Mặc dù vậy tiềm năng phát triển cây lạc của vùng vẫn còn rất lớn,
cần phải đầu tư, có các chính sách hợp lý để thúc đẩy phát triển cây lạc.
2.3.Vai trò của MgSO
4
và tình hình sử dụng nó cho cây trồng2.3.1.Vai trò của MgSO
4
Cây l c tuy có kh n ng hút c m t do nh vi kh n n t s n r ạ ả ă đượ đạ ự ờ ẩ ố ầ ở ễ
nh ng ch sau khi cây có 3 - 4 lá th t tr lên m i hình thành và phát tri n n t ư ỉ ậ ở ớ ể ố
s n, cây c ng ch cung c p c kho ng 50 – 60 % nhu c u m [13]. Do ầ ở ũ ỉ ấ đượ ả ầ đạ
ó, c n ph i cung c p y phân bón cho l c ngay t u, l c sinh tr ngđ ầ ả ấ đầ đủ ạ ừ đầ để ạ ưở
phát tri n t t mang l i n ng su t cao. Mg là nguyên t dinh d ng a l ng ể ố ạ ă ấ ố ưỡ đ ượ
không th thi u i v i cây l c,vì Mg là thành ph n c u t o c a di p l c, có ể ế đố ớ ạ ầ ấ ạ ủ ệ ụ
vai trò quan tr ng trong quang h p. Là ho t ch t c a họ ợ ạ ấ ủ ệ enzim gắn liền với sự
chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic, hình thành clorophyl, thúc
đẩy hấp thụ và vận chuyển lân của cây. Ngoài ra, Mg còn hoạt động như một
chất xúc tác trong các phản ứng khử oxy hóa trong các mô thực vật. Nó cũng
hỗ trợ hoạt động của sắt (Fe) và giúp các thực vật chống lại tác động có hại
của quá trình thông khí kém. Bằng cách sử dụng một tác động tích cực dựa
vào các màng tế bào và các màng thấm, Mg có thể làm tăng khả năng chống
cho năng suất cao hơn đối chứng là 13,99 tạ/ha, làm tăng sản lượng chè và
nâng cao hiệu quả kinh tế [18]. Vì vậy hiện nay bón phân Mg đã trở thành
cách làm tiêu chuẩn đang được nhiều nhân dân quan tâm.
- Cho cây lạc
Mg là nguyên tố đa lượng là nguyên tố cây trồng có nhu cầu bón không
nhiều, song trong hoạt động sống của cây nguyên tố này có vai trò xác định
không thể thay thế bằng nguyên tố khác.
Mg chỉ có trong cây ở mức 10
-4
– 10
-5
song chúng lại có trong thành phần
nhiều loại men và kích thích hoạt động của các hệ thống men trong cây [22].
Các quá trình quang hợp, hút khoáng, chuyển hóa và vận chuyển các hợp chất
hữu cơ trong cây đều có sự đóng góp của các nguyên tố trung lượng [7]. Lạc
có nhu cầu về dinh dưỡng các loại cao. Collino và moris (1941) cho biết một
tấn quả và hai tấn rơm lạc của một vụ thu hoạch lấy đi 14 kg MgO [12].
Ngoài các yếu tố dinh dưỡng đa lượng chính, các nguyên tố trung lượng như
Mg, Ca, S…cũng có ảnh hưởng tích cực đến nốt sần và hoạt động cố định
nitơ cộng sinh. Thiếu các yếu tố dinh dưỡng này quá trình cố định nitơ cộng
sinh không hoạt động, vì vậy để đảm bảo hiệu quả cố định nitơ và năng suất
lạc cần thiết phải cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cây [2]. Khi
dùng 30 kg/ha MgSO
4
đã tăng năng suất lạc tới 25 % tương đương với hiệu
lực của canxi và kali [2].
12
- Nét mới của đề tài
Trong lĩnh vực sử dụng phân bón nông dân đã biết sử dụng phân bón
đúng cây, đúng đất và trong một số trường hợp đã xem xét đến yêu cầu phân
4
cho lạc ở Thừa Thiên Huế
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí ruộng thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên
RCB với 7 công thức, 3 lần nhắc lại
Trong đó
CT I: 10 tấn/ha phân chuồng + 30 kg/ha N + 60 kg/ha P
2
O
5
+ 60 kg/ha
K
2
O + 500 kg/ha vôi (nền)
CT II: 20 kg/ha + nền
CT III: 40 kg/ha + nền
CT IV: 60 kg/ha + nền
CT V: 80 kg/ha + nền
CT VI: 100 kg/ha + nền
CT VII: 120 kg/ha + nền
14
* Sơ đồ bố trí ruộng thí nghiệm
Trong đó: I, II, III, IV, V, VI, VII là các công thức.
a, b, c là số lần nhắc lại
* Diện tích thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí với diện tích như sau:
- Tổng số ô thí nghiệm 21 ô (mỗi ô là một công thức)
- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 7,5m
V
a
I
a
Vb II
b
VI
b
IV
b
VII
b
I
b
III
b
IV
c
V
C
I
c
II
c
III
c
VI
c
VII
c
đem cân được p
2
(g).
p
1
x 20 x3,14 x r
2
Diện tích lá cần đo là: S =
p
2
* Cách xác định chỉ số diện tích lá (LAI): Dùng phương pháp cân nhanh để
tính diện tích lá trung bình 1 cây (m
2
lá).
Công thức tính: LAI = số cây/m
2
đất trồng x diện tích lá/cây
- Khối lượng diện tích lá (g/dm
2
lá): Ngắt 20 lá bánh tẻ cần xác định khối
lượng diện tích lá, xếp chồng lên nhau, khoan lá thật ngọt. Đem các miếng lá
khoan sấy khô đến khối lượng không đổi cân trên cân phân tích được p (g).
Các miếng lá khoan có diện tích: 20 x 3,14 x r
2
(dm
2
)
16
p
Khối lượng diện tích lá: SLW = (g/dm
– 4,65 x D
662
C
a+b
= 5,134 x D
662
+ 20,436 x D
644
Trong đó: C
a,
C
b,
C
a+b
lần lượt là hàm lượng diệp lục a, b, diệp lục tổng số
C x V
Hàm lượng sắc tố tính theo công thức: A = (mg sắc tố/g lá)
1000 x p
A: hàm lượng sắc tố (mg sắc tố/ 1g lá)
C: hàm lượng sắc tố trong dung dịch chiết (mg/ml)
V: thể tích dịch chiết (ml) V = 20 ml
p: khối lượng lá (g) P = 0,1(g)
* Khả năng tích lũy chất khô ở các giai đoạn: Để theo dõi khả năng
tích lũy chất khô ở các công thức thí nghiệm, tiến hành nhổ ngẫu nhiên ở mỗi
ô 3 cây, cân khối lượng chất tươi của lá và thân sau đó sấy khô đến khối
lượng không đổi, từ đó tích khối lượng chất khô cây tích lũy được.
* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
17
-Tổng số quả trên cây (quả/cây) và Số quả chắc trên cây (quả chắc
Sau đó tiến hành bố trí thí nghiệm và lên luống, luống phải phẳng, thoát
nước tốt.
- Mật độ và khoảng cách: Mật độ 33 cây/m
2
, cây x cây 10 cm, hàng x hàng
30 cm.
- Cách gieo hạt: Sau khi rạch hàng, bỏ phân lót rồi rải lên một lớp đất mỏng
để cách ly hạt giống với phân bón. Sau đó gieo hạt đúng khoảng cách quy
định.
18
- Bón phân: liều lượng bón phân cho 1 ha lạc: 10 tấn/ha phân chuồng hoai
mục + 30 kg/ha N + 60 kg/ha P
2
O
5
+ 60 kg/ha K
2
O + 500 kg/ha vôi.
Cách bón như sau
Bón lót: 1/2 vôi sau khi làm đất lần 1 và 100% phân chuồng + 100% P
2
O
5
sau khi làm đất lần 2.
Bón thúc lần 1: Khi lạc có 3 - 4 lá thật, bón 2/3 N + 1/2 K
2
O kết hợp xới
xáo nhẹ để phá váng và làm cỏ, bón xa gốc 8 - 10 cm, không vun vào gốc.
Bón thúc lần 2: Sau khi lạc tàn lứa hoa đầu với lượng 1/3 N + 1/2 K
2
III 3,77 a 6,51 b 17,58 ab 21,50 b
IV 4,03 a 6,99 a 18,99 ab 24,17 a
V 4,01 a 7,00 a 19,06 ab 24,33 a
VI 4,00 a 6,93 ab 18,69 ab 24,50 a
VII 4,00 a 7,01 a 20,33 a 25,00 a
LSD
0,05
0,344 0,751 3,657 1,286
20
Ghi chú: a, b, c, là ký hiệu sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, trong đó các công
thức không có sự sai khác có ý nghĩa ở mức α = 0,05 được biểu thị bằng các chữ cái giống
nhau, các công thức có sự sai khác ý nghĩa ở mức α = 0,05 được biểu thị bằng các chữ
cái khác nhau
Ở thời kỳ bắt đầu phân cành cấp 1: Lúc này bộ rễ cây lạc còn chưa hoàn
chỉnh, cây còn sinh trưởng chậm. Đặc biệt, thời kỳ này vi khuẩn Rhizobium
tấn công và sống ký sinh trên bộ rễ lạc nên cây con gặp khủng hoảng về dinh
dưỡng, đặc biệt là dinh dưỡng đạm. Do đó, chiều cao thân chính ở thời kỳ này
chênh lệch nhau không nhiều chỉ dao động từ 2,39 – 4,03 cm. Chiều cao thân
chính của các công thức có sự sai khác có ý nghĩa ở mức xác suất 95% so với
công thức đối chứng, trong đó, công thức IV có chiều cao thân chính cao
nhất, cao hơn 1,64 cm và sai khác có ý nghĩa ở mức xác suất 95% so với công
thức đối chứng.
Ở thời kỳ cây bắt đầu ra hoa: Chiều cao cây ở thời kỳ ra hoa là một trong
những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho
năng suất sau này. Ngoài ra nó còn phản ánh khả năng tổng hợp và tích luỹ
chất khô trong cây. Ở thời kỳ này,do bộ rễ đã phát triển hoàn chỉnh, hiệu quả
cố định đạm của vi khuẩn nốt sần cao, diện tích lá tăng nhanh, tạo chất khô
nhiều nên cây có mức tăng trưởng chiều cao nhanh.
Chiều cao thân chính ở thời kỳ cây bắt đầu ra hoa của các công thức đã tăng
lên và có sự chênh lệch nhau. Ở thời kỳ này, tất cả các công thức đều có chiều
Bắt đầu phân
cành cấp 1
Ra hoa Sau ra hoa
Thu hoạch
I (đ/c) 3,13 c 6,00 d 7,26 d 2,93 d
II
3,60 b 7,06 c 7,93 c 3,53 cd
III
3,93 a 7,46 bc 8,53 b 4,07 bc
IV
4,00 a 8,00 ab 9,73 a 4,86 ab
V
3,93 a 8,20 a 9,67 a 5,06 ab
VI
3,93 a 8,40 a 9,53 a 5,50 a
VII
3,93 a 8,40 a 9,53 a 5,67 a
LSD
0,05
0,307 0,671 0,582 1,035
Ghi chú: a, b, c, là ký hiệu sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, trong đó các công
thức không có sự sai khác có ý nghĩa ở mức α = 0,05 được biểu thị bằng các chữ cái giống
nhau, các công thức có sự sai khác ý nghĩa ở mức α = 0,05 được biểu thị bằng các chữ
cái khác nhau
22
Qua kết quả nghiên cứu trình bày ở bảng 4.2 cho thấy: Khi sử dụng MgSO4
đã tăng số lá xanh trên thân chính của cây lạc ở mức sai khác có ý nghĩa so
với đối chứng qua tất cả các thời kỳ theo dõi.
Ở thời kỳ bắt đầu phân cành cấp 1: Thời kỳ này, tốc độ ra lá của các công
thức chênh lệch nhau không đáng kể, dao động trong khoảng 3,60 – 4,00
thức
23
Cùng với thân chính, cành góp phần tạo nên bộ khung cho cây và quyết
định tổng số quả trên cây. Số cành trên cây là một trong những chỉ tiêu quan
trọng đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây, ảnh hưởng đến các
yếu tố cấu thành năng suất sau này. Số cành và chiều dài cành cấp 1 và cành
cấp 2 là những chỉ tiêu quan trọng góp phần tạo nên năng suất cho cây lạc,
đặc biệt ở cặp cành cấp 1 đầu tiên đa số hoa đều là hoa hữu hiệu trong tổng số
hoa của cây. Khi nghiên cứu sự phát triển cành trên cây, người ta thường quan
tâm đến chiều dài cành cấp 1 đầu tiên. Cành càng khỏe, gốc độ phân cành hợp
lý thì khả năng cho năng suất cao hơn. Số cành càng nhiều khả năng sinh
trưởng của cây càng mạnh, quang hợp của cây càng lớn, dẫn đến khả năng
tích lũy tổng hợp được nhiều chất hữu cơ và tích lũy chất khô cao hơn.Qua
theo dõi chúng tôi thu được kết quả về sự sinh trưởng phát triển cành ở bảng
sau:
Bảng 4.3: Số cành và chiều dài cành của các công thức
Chỉ tiêu
Công thức
Số cành cấp
1 (cành/cây)
Số cành cấp
2 (cành/cây)
Chiều dài
cành cấp 1
(cm/cành)
Chiều dài
cành cấp 2
(cm/cành)
I (đ/c) 3,07 d 2,07 c 18,59 d 15,86 c
II 3,40 cd 2,47 bc 24,62 c 16,81 bc
hiệu quả quang hợp từ đó tăng năng suất cây trồng, trong đó quang hợp là quá
trình sinh lý quan trọng tạo nên 90 – 95% năng suất của cây trồng. Chính vì
vậy, trong sản xuất cần có các biện pháp như bố trí thời vụ thích hợp, bón
phân hợp lý để tăng cường hoạt động quang hợp.
Qua theo dõi thí nghiệm và nghiên cứu sự phát triển của bộ lá chúng tôi thu
được kết quả về diện tích lá và chỉ số diện tích lá ở bảng sau:
Bảng.4.3. Diện tích và chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ
Công
thức
Diện tích lá ở thời kỳ…
(dm
2
lá/cây)
Chỉ số diện tích lá ở thời kỳ…
(m
2
lá/m
2
đất)
Ra hoa Sau ra hoa Ra hoa Sau ra hoa
I 4,193 d 8,180 d 1,380 d 2,687 d
II 5,215 c 8,393 d 1,717 c 2,763 d
III 5,713 bc 8,957 cd 1,883 bc 2,953 cd
IV 5,940 abc 10,100 bc 1,960 abc 3,327 bc
25