BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THƠ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM HỮU CƠ SINH HỌC
(VITAZYM, EMINA), NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG (B, Mo), LÂN HỮU
CƠ SINH HỌC, PHÂN BÓN LÁ ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC L14 VỤ XUÂN 2010
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN KIM THANH
ñộng viên tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu. ðặc biệt là
lòng thương yêu vô hạn và sự ñộng viên kịp thời của gia ñình, bố mẹ, anh chị
em, chồng và các con tôi ñã giúp tôi có niềm tin, nghị lực vượt qua thử thách
ñể hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu các nội dung ñề tài này.
Qua ñây cho phép tôi ñược bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc tới tất
cả sự giúp ñỡ trên.
Bắc Giang, ngày 10 tháng 9 năm 2010
Tác giả Hoàng Thị Thơ Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
ivMỤC LỤC
Lời cam ñoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục ñồ thị ix
1. MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 2
1.3 Mục ñích và yêu cầu 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây lạc 4
nguyên tố vi lượng (Mo,B) ñến hàm lượng diệp lục của giống lạc
L14 41
4.1.6 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học (Vitazym, Emina) và nguyên
tố vi lượng (Mo, B) ñến chỉ số diện tích lá của giống lạc L14 43
4.1.7 Ảnh hưởng của chế phẩm Vitazym, Emina, nguyên tố vi lượng
(Mo, B) ñến khả năng tích luỹ chất khô của giống lạc L14 45
4.1.8 Ảnh hưởng của chế phẩm Vitazym, Emina, nguyên tố vi lượng
(Mo, B) ñến hiệu suất quang hợp thuần. 48
4.1.9 Ảnh hưởng của chế phẩm Vitazym, Emina, nguyên tố vi lượng
(Mo, B), ñến mức ñộ nhiễm một số loại sâu bệnh chính của lạc L14 49
4.1.10. Ảnh hưởng của chế phẩm Vitazym, Emina, nguyên tố vi lượng
(Mo, B) ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 51
4.1.11 Hạch toán kinh tế các công thức thí nghiệm 55
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến
sự sinh trưởng phát triển và năng suất của lạc L14. 56
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vi4.2.1 Ảnh hưởng của lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến sự phát
triển chiều cao cây, thân lá và số cành cấp 1 của lạc L14. 56
4.2.2 Ảnh hưởng của lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến sự hình
thành nốt sần của lạc L14. 58
4.2.3 Ảnh hưởng của lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến sự ra hoa
của lạc L14. 59
4.2.4 Ảnh hưởng của lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến hàm lượng
diệp lục của lạc 14 60
4.2.5 Ảnh hưởng của hàm lượng lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến
chỉ số diện tích lá (LAI- m
2
4.2 Sự sinh trưởng phát triển thân lá của cây lạc L14 ở các công thức
thí nghiệm 35
4.3 Khả năng hình thành nốt sần ở các thời kỳ theo dõi 38
4.4 Quá trình ra hoa của cây lạc L14 qua các thời kỳ theo dõi ở các
công thức thí nghiệm 40
4.5 Chỉ số SPAD của các công thức thí nghiệm 41
4.6 Chỉ số diện tích lá (LAI- m
2
lá/m
2
ñất) ở các thời kỳ theo dõi của
các công thức thí nghiệm 44
4.7 Khả năng tích luỹ chất khô qua các thời kỳ của các công thức
thí nghiệm 46
4.8 Hiệu suất quang hợp thuần của các công thức thí nghiêm qua các
giai ñoạn 48
4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lạc L14 ở
các công thức thí nghiệm 52
4.10 Mức ñộ nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính 50
4.11 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm Vitazym, Emina, nguyên
tố vi lượng (Mo, B), ñối với lạc L14 trồng Vụ xuân 2010 55
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
ixDANH MỤC ðỒ THỊ
STT Tên ñồ thị Trang
4.1 Số nốt sần ở các công thức thí nghiệm 38
4.2 Chỉ số SPAD của giống lạc L14 ở các thời kì 42
4.3 Tích luỹ chất khô của các công thức qua các thời kỳ 47 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
11. MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Lạc (Arachis hypogaea L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm quan trọng có giá trị và dinh dưỡng cao. Từ lâu loài người ñã sử dụng
lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng: sử dụng trực tiếp (luộc quả non,
quả già, rang, nấu canh ), ép dầu ñể làm dầu ăn và khô dầu ñể chế biến nước
chấm và các mặt hàng thực phẩm khác. Gần ñây, nhờ công nghiệp thực phẩm
vi sinh vật cố ñịnh ñạm và tăng cường dòng vận chuyển hợp chất hữu cơ về
củ lạc làm tăng năng suất lạc. Bên cạnh ñó, các chế phẩm hữu cơ sinh học
nhằm thúc ñẩy hoạt ñộng của hệ vi sinh vật cố ñịnh ñạm và bổ sung phân bón
lá nhằm làm tăng năng suất lạc.
Bắc Giang là vùng trồng lạc nhiều và lâu ñời nhưng người dân chưa
quan tâm ñến việc bổ sung nguyên tố vi lượng B, Mo cho cây lạc, cũng như
chưa áp dụng biện pháp kỹ thuật sử dụng chế phẩm hữu cơ sinh học và phân
bón lá cho cây lạc. Vì vậy, nhằm làm tăng năng suất lạc giống L14 tại huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi tiến hành ñề tài:
"Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ sinh học(Vitazym,
Emina), nguyên tố vi lượng (B, Mo), lân hữu cơ sinh học, phân bón lá ñến
sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lạc L14 vụ xuân 2010 tại Huyện
Lạng Giang tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.2.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của ñề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị
về ảnh hưởng riêng rẽ và phối hợp của chế phẩm sinh học Emina, Vitazym,
nguyên tố B, Mo, lân hữu cơ sinh học và phân bón qua lá ñến sinh trưởng,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
3phát triển và năng suất của lạc trong ñiều kiện sinh thái ở Bắc Giang.
Kết quả nghiên cứu của ñề tài là tài liệu tham khảo phục vụ cho công
tác nghiên cứu, giảng dạy về dinh dưỡng cho cây lạc .
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ñề tài xác ñịnh ñược biện pháp xử lý cho
kết quả tốt ñến sinh trưởng phát triển và năng suất lạc ñể từ ñó khuyến cáo
cho người dân nhân rộng mô hình ñưa vào sản xuất góp phần vào quy trình
thâm canh lạc năng suất cao, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người
1996 ) [4]. Thế nhưng nguồn gốc chính của loài lạc trồng cụ thể ở nước nào
tại Châu Mỹ thì cho ñến nay vẫn chưa ñược xác ñịnh. Cây lạc ñược trồng rất
sớm ở lưu vực sông Amazon thuộc Peru, ngoài ra cây lạc cũng ñược trồng ở
Mexico, Brasil, Bolivia. Theo Krapovicat (1986), “ có thể chắc chắn là
Arachis hypogaea bắt nguồn từ Bolivia tại các vùng ñồi núi thấp và chân của
dãy núi Ando”. Giả thuyết này của ông cho ñến nay vẫn là giả thuyết có giá
trị về khoa học nhất cả về thực vật học, sinh thái học, xã hội học và khảo cổ
học, ñược nhiều nhà khoa học chấp nhận [8].
Ngày nay, cây lạc ñược trồng rất phổ biến, phân bố rộng rãi từ 40 vĩ
ñộ Bắc ñến 40 vĩ ñộ Nam. Trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc, tuy
nhiên lạc chủ yếu ñược trồng tập trung ở các nước thuộc châu Á, châu phi
và châu Mỹ [64].
Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam chưa ñược xác ñịnh rõ. Sách “vân ñài loại
ngữ” của Lê quý ðôn có mô tả và nhận xét nhiều loại cây trồng ở nước ta
nhưng trong ñó không ñề cập ñến cây lạc. Có thể cây lạc ñược nhập từ Trung
Quốc vào nước ta khoảng thế kỷ XVII – XVIII. Hiện nay, lạc ñược xác ñịnh
là một trong những cây trồng chính trong cơ cấu hệ thống cây trồng ở Việt
Nam. Lạc ñược trồng phổ biến ở các vùng sinh thái trong cả nước với diện
tích, năng suất và sản lượng ngày càng tăng [31].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
52.1.2 Giá trị của cây lạc
- Giá trị dinh dưỡng:
Lạc là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng các chất
dinh dưỡng trong hạt lạc lớn và có giá trị ñối với con người và vật nuôi.
Thành phần dinh dưỡng trong hạt lạc như: Lipid từ 40,2 ñến 60,7%;
Carbohydrate từ 6,0 ñến 22,0%; protein từ 20,0 ñến 33,7%; cellulose từ 2,0
ñến 4,3%; chất khoáng từ 1,8 ñến 4,6% [31]. Như vậy, hàm lượng dinh dưỡng
chiếm 15% nguồn thu từ xuất khẩu nông sản. Hiện nay, Việt Nam ñứng thứ 5
trong 10 nước trồng lạc lớn nhất thế giới [23]. Do ñó việc nghiên cứu chọn
tạo giống, sử dụng kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất
lượng lạc là hết sức thiết thực.
- Giá trị cải tạo ñất
Cây lạc còn là cây trồng có vai trò cải tạo ñất nhờ các vi khuẩn nốt sần
sống cộng sinh trên rễ, có khả năng biến ñổi nguồn nitơ phân tử vốn rất dồi
dào trong không khí thành dạng ñạm dễ sử dụng cung cấp cho cây. ðồng thời
cũng là cây có khả năng tạo tính ña dạng hoá cho sản xuất nông nghiệp bằng
các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất nông nghiệp và che phủ bảo vệ ñất chống xói mòn rửa trôi.
Như vậy, lạc là cây trồng có giá trị nhiều mặt, góp phần tăng thu nhập và cải
thiện chất lượng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Việc tiếp
tục nghiên cứu các ñặc ñiểm sinh lý của cây lạc ñể ñề xuất các biện pháp kỹ
thuật mới góp phần tăng năng suất và chất lượng hạt lạc trong từng ñiều kiện
cụ thể là cần thiết.
2.2 ðặc ñiểm sinh lý và yêu cầu sinh thái của cây lạc
* Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lạc.
ðời sống của thực vật nói chung và cây lạc nói riêng ñược tính bắt ñầu
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
7từ khi hạt nảy mầm ñến khi cây chết. Trong quá trình sống, cây lạc thực hiện
các giai ñoạn sinh trưởng chính như: nảy mầm, cây non, phân hóa mầm hoa,
nở hoa và ñâm tia, hình thành quả và hạt, quả chín và thu hoạch. Mỗi thời kỳ
như vậy, cây thực hiện những hoạt ñộng sinh lý tổng hợp và tích lũy chất theo
những mục ñích khác nhau. Ở thời kỳ trước ra hoa, cây chủ yếu thực hiện quá
trình sinh trưởng sinh dưỡng, phần lớn sản phẩm quang hợp cây tổng hợp
ñược sử dụng ñể hình thành thân, rễ lá… Thời kỳ ra hoa, cây ñồng thời thực
trên cây và số lần ra hoa rất biến ñộng. Nếu quá trình ra hoa ñâm tia thuận lợi
thì cây lạc chỉ ra hoa rộ 1 ñợt. Hoa lạc nở 6-8 giờ sáng nhưng sự thụ phấn, thụ
tinh thường diễn ra trước khi hoa nở. Sau hoa nở 4 ngày tia quả xuất hiện và
quả chỉ hình thành khi tia ñâm xuống ñất hoặc trong ñiều kiện không có ánh
sáng [18], [50].
Sau khi quá trình hình thành, các hoạt ñộng sinh lý chủ yếu tập trung cho
sự lớn lên của vật chứa kinh tế. Quả lạc thường có hai hạt, quá trình tích lũy
sản phẩm ñồng hóa ở hạt lạc ñược mô tả ngược lại với quá trình nảy mầm. Vật
chất tích lũy ở hạt chủ yếu là protein và lipid. Khi quả chín, một phần chất dinh
dưỡng trong thân cành, lá, rễ cũng ñược huy ñộng vận chuyển về quả. Sau khi
quả hình thành, trong cây ñồng thời diễn ra hai quá trình sinh trưởng sinh
dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Trong sản xuất, cần lưu ý tác ñộng ñể hai quá
trình này diễn ra cân ñối, ñó là cơ sở ñể tăng năng suất lạc [18].
* Yêu cầu sinh thái của cây lạc và cây ñậu lấy hạt khác
Lạc là cây trồng có nguồn gốc nhiệt ñới nên thích hợp với ñiều kiện khí
hậu nóng ẩm và dồi dào ánh sáng. Tổng nhiệt hữu hiệu ñể cây lạc hoàn thành
chu kỳ sinh trưởng biến ñộng từ 2600 ñến 4800
0
c. Trong từng giai ñoạn sinh
trưởng, phát triển cây cần nhiệt ñộ tối thích khác nhau. Hạt nảy mầm tốt nhất
ở nhiệt ñộ 28 - 32
0
C. Nhiệt ñộ thích hợp ở thời kỳ cây con là 18-20
0
C, thời
kỳ ra hoa, ñâm tia, tạo quả nhiệt ñộ thích hợp là 24-33
0
C. Như vậy, lạc là cây
ưa nóng nhiệt ñộ trung bình từ 25 – 30
0
Theo FAO, trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc với tổng diện tích
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
1025.210.000 ha, năng suất bình quân 1,33 – 1,34 tấn /ha, tập trung chủ yếu ở 3
châu lục là Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ. trong ñó, châu Á chiếm vị trí số 1
về diện tích 11.861.000 ha (61,9% tổng diện tích) và sản lượng 13.500.000
tấn (63,17 % tổng sản lượng), tiếp ñến là Châu Phi rồi Châu Mỹ [7].
Hiện nay, ña số các nước trên thế giới ñã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật,
sử dụng giống lạc mới vào thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên việc áp dụng chưa
ñồng ñều dẫn tới sự chênh lệch năng suất khá lớn giữa các nước ñang phát
triển và các nước phát triển.
Theo FAO, các nước ñang phát triển sản xuất khoảng 50% sản lượng
lạc, do các nước này chiếm 55% diện tích trồng lạc trên thế giới. Ở các nước
phát triển, diện tích trồng lạc có xu hướng ổn ñịnh hoặc giảm [34].
Sản lượng lạc trên thế giới năm 2006 ñạt 47,77triệu tấn. Những nước
ñạt sản lượng lớn là: Trung Quốc (14,72 triệu tấn), Ấn ñộ (4,98 triệu tấn) và
thấp nhất là camorun (0,16 triệu tấn).
Sự chênh lệch về năng suất lạc giữa các nước còn khá lớn. Nguyên
nhân là do các nước ñang phát triển chưa vận dụng ñược thành tựu khoa học
kỹ thuật mới vào sản xuất, các giống lạc năng suất cao còn ít. Những năm tới
việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công tác chọn giống mới vào sản
xuất ở các nước ñang phát triển là cần thiết nhằm nâng cao năng suất cũng
như sản lượng lạc ñể ñáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
* Ở Việt Nam
Cây lạc ñược trồng từ lâu ñời và cũng ñược sử dụng rộng rãi trong ñời
sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Lạc ñược xem như cây trồng xoá
ñói giảm nghèo cho các vùng sâu, vùng xa và là cây ngắn ngày mang lại hiệu
quả kinh tế cao, có giá trị nhiều mặt nên ngày càng ñược chú trọng và ñưa vào
Bắc Trung Bộ, ðông Nam Bộ, Trung Du và miền núi Bắc Bộ là những vùng
sản xuất lạc chủ yếu của nước ta.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
12Bảng 2.1. Diện tích và sản lượng của các vùng trồng lạc năm 2007 – 2008
Diện tích
(1000ha)
Sản lượng
(1000tấn)
Vùng Sản xuất
2007
Sơ bộ
2008
2007
Sơ bộ
2008
ðB.Sông Hồng 34,70 34,50 78,00 82,50
Trung du miền núi phía Bắc 44,20 50,80 70,20 86,70
BắcTrung Bộ và Duyên hải miền Trung 111,20 107,20 204,00 204,20
Tây Nguyên 21,00 19,90 32,90 32,20
ðông Nam Bộ 29,80 29,70 82,00 84,90
ðB sông Cửu Long 13,60 13,90 42,90 43,30
Cả nước
254,50 256,00 510,00 533,80
Nguồn:Tổng cục Thống kê Việt Nam, tháng 12/2009
Hai vùng sản xuất Bắc Trung Bộ và ðông Nam Bộ là hai vùng sản xuất
lạc hàng hoá xuất khẩu lớn của cả nước. Năm 2007, vùng Bắc Trung Bộ và
nước, nhiều tiến bộ kỹ thuật cũng như giống lạc nhập nội ñã tỏ ra có nhiều ưu
ñiểm hơn hẳn so với các giống trong nước. Tuy nhiên, do ñặc thù về vị trí ñịa
lý và ñiều kiện khí hậu nên việc nghiên cứu sử dụng hợp lý các nguồn gen lạc
cũng như các biện pháp kỹ thuật là cần thiết.
Nhìn chung, sản xuất lạc ở nước ta còn nhiều khó khăn và hạn chế
nhưng với sự quan tâm và ñầu tư ñúng ñắn của nhà nước kết hợp với ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chúng ta có thể tin rằng trong tương lai không
xa năng suất và sản lượng lạc sẽ có những bước tăng ñột phá.
2.4 Vai trò sinh lý của B, Mo và ứng dụng trong sản xuất
Lịch sử dinh dưỡng khoáng vi lượng thực vật có hơn 100 năm về trước,
bắt ñầu khi J. Raulin (1969) [26] và K.A. Timiriazev (1872) (dẫn qua Bùi
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
14ðình Dinh, 1995) phát hiện vai trò của kẽm trong ñời sống thực vật [17]. Tuy
nhiên, mãi ñến nửa sau thế kỷ XX phân lân vi lượng mới ñược sử dụng ở các
nước nông nghiệp phát triển. Càng ngày, phân vi lượng càng ñược sản xuất và
sử dụng trên quy mô lớn do tác dụng tăng năng suất và chất lượng cây trồng,
trong ñó có cây lạc. ðối với sản xuất nông nghiệp ở châu Á, năng suất cây
trồng chủ yếu dựa vào ñộ phi nhiêu của ñất. Người dân ở ñây hầu như chưa
bón phân vị lượng cho cây trồng. Theo báo cáo về hội thảo quốc tế “Các
nguyên tố vi lượng trong sản xuất cây trồng” tổ chức tháng 11 năm 1999 tại
ðài Loan thì sự thiếu vi lượng của cây trồng ở châu Á trở nên phổ biến, ñược
biểu hiện ở rất nhiều kiểu tổn thương sinh lý, ảnh hưởng lớn ñến chất lượng
và năng suất sản phẩm trồng trọt [26].
Trong các nguyên tố vi lượng thi B, Mo ảnh hưởng lớn ñến các hoạt ñộng
sinh lý, kìm hãm sinh trưởng và giảm khả năng tạo năng suất lạc [52]. Mỗi
nguyên tố có một số vai trò sinh lý cụ thể
2.4.1 Vai trò sinh lý của bo (B)
trong cây lấy hạt hàm lượng B dao ñộng 4,7 – 8,1mg/kg [77].
B là nguyên tố ít di ñộng nên triệu chứng thiếu B thường xuất hiện ở
các bộ phận non, ñỉnh sinh trưởng chùn lại rồi dần chết. Các lá non bị biến
dạng, gấp nếp và mỏng với mầu xanh nhạt. Trên bề mặt lá có những ñốm nhỏ
màu vàng trắng. Một số trường hợp, ñỉnh sinh trưởng chết làm cây mọc thêm
nhiều chồi bên giống như cây bụi. Xuất hiện nhiều vết rạn nứt trên thân và
cuống quả [68].
Triệu chứng thiếu hụt B còn có nhiều biểu hiện khác nhau phụ thuộc
vào loài, tuổi cây. Triệu chứng ñiển hình là các ñiểm chết ñen ở lá non và chồi
ñỉnh và tác hại này thể hiện ở các lá non và phần dưới của phiến lá, thân bị
cứng. Việc mất ưu thế ngọn khi thiếu B làm cho cây phân cành nhiều, các
chồi ngọn của các cành bị hại do sự phân chia tế bào kìm hãm. Cấu trúc của
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
16quả, rễ củ và củ thường dị dạng hoặc bị thối do các mô bên trong bị hỏng.
Khi thiếu B, thân lạc bị rỗng, cành yếu, rễ kém phát triển, cây nhỏ và
mảnh, ñầu rễ thường bị chết hoại. Bo giúp quá trình hình thành rễ ñược tốt, tia
quả không bị nứt, hạn chế nấm bệnh xâm nhập.Thiếu Bo làm giảm tỷ lệ ñậu quả,
hạt lép, sức sống hạt giống giảm. Phun dung dịch axít boric có thể làm tăng năng
suất 4-10% .
Theo W. Bergmann (1997), ngộ ñộc B dễ xuất hiện ở những vùng ñất
khô hạn, bán khô hạn và ñất mặn. Nước tưới chứa nhiều B hay bón nhiều tro
cũng là nguyên nhân ngộ ñộc B ở một số vùng. Kiềm hoá ñất bằng cách bón
vôi là biện pháp khắc phục tình trạng ngộ ñộc B hiệu quả cho cây trồng. Tăng
lượng nước tưới sau ñó xả nước ñể rửa trôi B cũng là biện pháp làm giảm ngộ
ñộc B ñược khuyến cáo sử dụng. Bón thêm silic cũng có tác dụng ngăn cản sự
hấp thu B của cây ở tầng ñất sâu hơn, từ ñó giảm tình trạng ngộ ñộc B với cây
trồng. Khi chỉ hơi thừa B là ñã gây ngộ ñộc cho cây lạc vì cây không hấp thu