nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chế phẩm vi sinh biogro đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa tại duy tiên – hà nam - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Đức
i
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS. Hoàng Minh
Tấn đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông
nghiệp – Hà Nội, Lãnh đạo Khoa Sau Đại học, Khoa Nông học, đặc biệt các
thầy, cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực vật.
Tôi bày tỏ lời cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân huyện Duy Tiên, anh chị
em đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên tạo mọi điều kiện tốt nhất để
tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Đức

ii
MỤC LỤC
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây Error:
Reference source not found
Bảng 2.2: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 Error:
Reference source not found
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn.Error:

Reference source not found
Bảng 4.16. Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến khả năng chống chịu sâu,
bệnh hại Error: Reference source not found
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của phân bón qua rễ đến các yếu tố cấu thành năng
suất trên hai giống lúa Khang Dân 18 và Nàng Xuân Error: Reference source
not found
Bảng 4.18. Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến hiệu quả kinh tế Error:
Reference source not found
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cuối cùng 43
Hình 4.2: Ảnh hưởng của phân bón lá đến số nhánh hữu hiệu 47
Hình 4.3: Ảnh hưởng của phân bón lá đến NSTT 56
Hình 4.4: Ảnh hưởng của phân bón lá đến hiệu quả kinh tế 59
Hình 4.5: Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến chiều cao cây cuối cùng 62
Hình 4.6: Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến NSTT 71
Hình 4.7: Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến hiệu quả kinh tế 74
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LAI : Chỉ số diện tích lá
NSTT : Năng suất thực thu
NSLT : Năng suất lý thuyết
CT : Công thức
NL : Nhắc lại
Đ/C : Đối chứng
BĐĐN : Bắt đầu đẻ nhánh
ĐNTĐ : Đẻ nhánh tối đa
TGST : Thời gian sinh trưởng
HT : Hoàn toàn
DM : Khối lượng chất khô tích luỹ

đất trồng (Nguyễn Huy Phiêu và cs, 1994)[13].
Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế cần cung cấp phân bón hợp lý, sử
dụng phân bón lá kết hợp bón phân hoá học ở mức thấp, đảm bảo cung cấp
đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây. Do đó việc kết hợp bón phân qua rễ và
qua lá cho cây lúa để tăng năng suất và chất lượng là điều cần thiết.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chế
phẩm vi sinh Biogro đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất lúa tại Duy Tiên – Hà Nam”.
1.2.Mục đích và yêu cầu:
1.2.1. Mục đích.
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá và chế
phẩm vi sinh Biogro đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa để đề
xuất biện pháp sử dụng có hiệu quả của các chế phẩm, phân bón này cho lúa
tại Hà Nam.
1.2.2.Yêu cầu:
- Xác định ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các chỉ tiêu
nông sinh học của giống lúa Khang dân 18 và Nàng Xuân.
- Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh Biogro bón qua rễ đến các chỉ
tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Khang dân 18 và Nàng Xuân.
1.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.3.1. Ý nghĩa khoa học.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dấu hiệu khoa học có
giá trị về ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và chế phẩm vi sinh Biogro
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang Dân 18 và
Nàng Xuân tại Hà Nam.
2
- Có thể sử dụng kết quả của đề tài như là tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm này cho lúa ở các địa phương khác.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn.

cho rằng loài O. Sativa hình thành từ loài O.rufipogon Châu Á, mối quan hệ
giữa loài O. sativa và các loài khác với các loài lúa dại có thể được giải thích
do sự phân nhánh trong quá trình tiến hoá do thay đổi khí hậu ở thế giới cổ
đại kỷ thứ 3.
Từ đó mà lúa trồng hiện nay được phân loại thực vật có tên danh pháp
khoa học Oryza sativa L. với bộ nhiễm sắc thể 2n = 24 và được xếp như sau
trong thang phân loại:
- Loại cây 1 lá mầm: Monocotyledoneae.
- Họ hoà thảo: Gramineae.
- Chi: Oryza
4
- Loài: Oryza sativa.
- Tên khoa học: Oryza sativa L.
Bên cạnh đó nó còn được phân loại theo loài phụ :
- Oryza sativa ssp Indica (Lúa tiên)
- Oryza sativa ssp Japonica (Lúa cánh)
- Oryza sativa ssp Javanica
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển
Lúa là một trong những cây lương thực chủ yếu và quan trọng trên thế
giới, có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% số dân trên thế giới. Ở Việt
Nam, lúa vừa đảm bảo lương thực cho hầu hết dân số, vừa đóng góp vào việc
đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. Ngoài
việc sử dụng làm lương thực, các sản phẩm phụ của cây lúa còn được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Lúa có thể gieo trồng trong điều kiện nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây lúa
có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 10
0
C đến 40
0
C, nhiệt độ thích

thường có thời gian sinh trưởng khoảng 100-120 ngày. Đối với các giống lúa
thường có thời kỳ sinh trưởng sinh thực khoảng 60 ngày, trong đó có thời kỳ
làm đòng khoảng 30 ngày và thời kỳ chín khoảng 30 ngày. Sự khác nhau của
các giống lúa về thời gian sinh trưởng chủ yếu là ở thời kỳ sinh trưởng dinh
dưỡng. Lúa cấy thường chín muộn hơn lúa gieo thẳng khoảng 7 - 10 ngày do
phải mất thời gian bén rễ.
2.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay
trên thế giới hiện nay có trên 100 quốc gia trồng lúa, diện tích lúa gạo tương
đối lớn, đứng thứ 2 sau lúa mỳ. Trong đó Châu Á là châu lục đứng đầu thế
giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ đến
Nam Mỹ Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ
cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 53
0
B; Tiệp 49
0
B, Nhật, Italia, Nga
(Krasnodar) 45
0
B đến nam bán cầu, New South Wales (Australia): 35
0
N.
Vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 30
0
B đến 10
0
N
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng
kể, nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (Châu Á,

rất đáng khích lệ. Việc đầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ
sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật… là những lý do để đạt được
kết quả trên.
7
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới nên
rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, trong
đó đặc biệt là cây lúa. Từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu và
có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội của đất nước. Với địa bàn trải
dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ
trồng lúa phì nhiêu trong đó đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long là 2 vựa lúa lớn nhất của nước ta, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu
nuôi sống cả mấy chục triệu con người.
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của hai đồng bằng Bắc Bộ và
Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu
tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha. Khoảng hai thập kỷ sau,
vào những năm của thập kỷ 60 miền Bắc có phong trào phấn đấu đạt 5
tấn/ha/năm cho đến năm 1974 đạt đạt được mục tiêu này. Năng suất lúa bình
quân đạt 51,4 tạ/ha/năm (Nguyễn Đình Giao và cs) [19]. Sau năm 1975 đất
nước ta hoàn toàn thống nhất, sản xuất lúa ở nước ta đã có những bước phát
triển đáng kể, đã đưa đất nước ta từ một nước nhập khẩu khoảng 0,8 triệu
tấn trở thành một nước tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngoài ra cũng có
một phần dành cho xuất khẩu (Nguyễn Đình Giao và cs) [19].
Sau năm 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất sản xuất lúa ở
nước ta đã có những thuận lợi mới và đã có những bước phát triển đáng kể.
Bình quân lương thực tiêu thụ của Việt Nam năm 1975 đạt 200
kg/người/năm, năm 1985 đạt 300kg/người/năm và đến năm 2001 đạt 420
kg/người/năm.
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp
quốc (FAO), hiện tại trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam

2004 lên tới 37,55 triệu tấn năm 2008, mặc dù diện tích trồng lúa từ năm
2004 đến năm 2008 giảm xuống chỉ còn 7,31 triệu ha. Tốc độ tăng trưởng
9
sản lượng lương thực lúa như vậy là một dấu hiệu đáng mừng cho ngành
nông nghiệp nước nhà.
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và mấy
năm gần đây tăng lên cũng là do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó trước
tiên là những thay đổi về chính sách trên phạm vi vĩ mô từ thời kỳ đổi mới mở
cửa, sau đó là những thay đổi về cơ cấu giống chuyển đổi mùa vụ, giải quyết
tưới tiêu, cải tạo đất phèn. Đặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh, việc
đưa giống mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã từng
bước nâng cao năng suất cũng như sản lượng của nước ta ngày càng tăng
nhanh (Bùi Huy Đáp, 1980) [4].
Trên đồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các điều kiện
khác nhau. Sự sinh trưởng , phát triển và năng suất lúa phụ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố khách quan và chủ quan như điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai,
giống, phân bón, chế độ nước và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…trong
đó chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa.
Bảng 2.1. Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1990 6.042,8 31,8 19.225,1
1995 7.666,3 42,4 32.529,5
2001 7.492,7 42,9 32.108,4
2002 7.504,3 45,9 34.447,2

lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng
suất giảm. Nhưng nếu bón thừa N lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá
mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh
vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm. Khi cây lúa được bón đủ N thì nhu
cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng (Đỗ Thị Thọ,
2004) [11], (Lê Văn Tiềm, 1986) [15]. Theo Bùi Huy Đáp,1980 [4] , N là
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ N thì các yếu tố khác
mới phát huy hết được tác dụng.
11
Nhu cầu N của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi
sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu N của cây lúa có tính chất
liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch. Trong suốt quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh
dưỡng N cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng. ở thời kỳ
đẻ nhánh rộ cây hút nhiều N nhất (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 1998)
[5], (Nguyễn Thị Lang, 1994) [26].
Theo Yoshida (1985) [39], lượng N cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết
định tới 74% năng suất. Bón nhiều N làm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập
trung, tăng số bông /m
2
; số hạt/ bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt (P
1000
) ít
thay đổi [64].
Theo các tác giả Đinh Văn Lữ (1978) [10]; Bùi Huy Đáp (1980) [4];
Đào Thế Tuấn (1980) [7] và Nguyễn Hữu Tề (1997) [20]: thông thường cây
lúa hút 70% tổng lượng N là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút N
có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 – 15% là hút ở giai đoạn làm đòng,
lượng còn lại là từ giai đoạn sau làm đòng đến chín.
Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn đã đi đến nhận xét: Cây

được một tấn thóc cần 22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong vụ Mùa
(Lê Văn Tiềm, 1986) [14].
Theo kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) [18], trên 60 thí
nghiệm thực tiễn khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: nếu
đạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy đi hết 50 kg N, 260 kg P
2
O
5
, 80 kg
K
2
O, 10 kg Ca, 6 kg Mg, 5 kg S và nếu ruộng lúa đặt năng suất đến 6 tấn/ha
thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100 kg N, 50 kg P
2
O
5
, 160 kg K
2
O, 19
kg Ca, 12 kg Mg, 10 kg S (Nguyễn Như Hà, 1999) [22]. Như vậy, trung bình
cứ tạo 1 tấn thóc, cây lúa lấy đi hết 17 kg N, 8 kg P
2
O
5
, 27 kg K
2
O, 3 kg
CaO, 2 kg Mg và 1,7 kg S.
Theo Yoshida (1985) [39], N là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất
đối với cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển.

mức phân đạm từ năm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân
N đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa (Nguyễn Thị Lẫm,
1994) [25].
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí
nghiệm về “ảnh hưởng của liều lượng phân N khác nhau đến năng suất lúa
vụ Đông Xuân và Hè Thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long ”. Kết
quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985- 1994 của Viện lúa
Đồng bằng sông Cửu Long, đã chứng minh rằng: trên đất phù sa được bồi
hàng năm có bón 60Kg P
2
O
5
và 30Kg K
2
O làm nền thì khi có bón N đã làm
tăng năng suất lúa từ 15- 48,5% trong vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu tăng từ
14
8,5- 35,6%. Hướng chung của 2 vụ đều bón đến mức 90Kg N có hiệu quả
cao hơn cả, bón trên mức 90Kg N này năng suất lúa tăng không không đáng
kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [25].
Nguyễn Thị Lẫm (1994) [25], khi nghiên cứu về bón phân N cho lúa
cạn đã kết luận: liều lượng N bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa
phương là 60Kg N/ha. Đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì
lượng N thích hợp từ 90Kg – 120Kg N/ha.
Theo Nguyễn Như Hà (1999) [22], ảnh hưởng của mật độ cấy và ảnh
hưởng của liều lượng N tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh
cho thấy: tăng liều lượng N bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ
nhánh hữu hiệu.
Thời kỳ bón N là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực
của phân để làm tăng năng suất lúa. Với phương pháp bón N (bón tập trung

Khi thiếu P, lá lúa có màu xanh đậm, bản lá nhỏ hẹp và mềm yếu,
mép lá có màu vàng tía, đẻ nhánh kém, kéo dài thời kỳ chỗ chín. Nếu thiếu P
ở thời kỳ làm đòng sẽ ảnh hưởng rất rõ đến năng suất lúa, cụ thể là làm giảm
năng suất lúa. Khi cây lúa được cung cấp P thoả đáng sẽ tạo điều kiện cho
bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng,
phát triển, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa (Lê
Văn Tiềm 1996) [15].
Đào Thế Tuấn (1963) [6], cho biết: bón phân có ảnh hưởng đến phẩm
chất hạt giống rõ rệt, làm tăng trọng lượng nghìn hạt, tăng tỉ lệ P trong hạt,
tăng số hạt trên bông và cuối cùng là cho năng suất lúa cao hơn. Bùi Huy
Đáp, 1980 [4] cho rằng: P có vai trò quan trọng đối với quá trình tổng hợp
đường, tinh bột trong cây lúa và có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất. Theo Vũ
Hữu Yêm (1995) [38], cây non rất mẫn cảm với việc thiếu P. Thiếu P trong
thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều P thì cây cũng
trỗ không đều hoặc không thoát. Do vậy, cần bón đủ P ngay từ giai đoạn đầu
và bón lót phân P là rất có hiệu quả.
Dinh dưỡng P có liên quan mật thiết với dinh dưỡng N. Nếu bón đủ P
sẽ làm tăng khả năng hút N và các chất dinh dưỡng khác. Cây được bón cân
đối N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm
16
chất tốt. Như vậy, muốn cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và cho năng suất
cao thì không những cần cung cấp đầy đủ N mà còn cần cung cấp đầy đủ cả
P cho cây lúa (Tandon và Kimo, 1995) [36], (Nguyễn Vi, 1995) [33], (Vũ
Hữu Yêm, 1995) [38].
Theo kết quả của Nagai năm 1959, P được hút trong 42 ngày đầu tiên
sau cấy thì chuyển lên bông, có tác dụng rõ rệt đến năng suất lúa, còn P
được hút sau đó, phần lớn được ở rễ và trong rơm rạ (Đào Thế Tuấn, 1963)
[6]. Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của P đối với việc tạo thành hạt
thóc của Kamurava và Ishizaka năm 1996 cho thấy: thời kỳ P có hiệu suất
cao nhất là thời kỳ đầu sau cấy 10 – 20 ngày (Katyal J. C, 1978) [43].

2
O
5
/ha cho năng suất bội thu cao nhất (Hong D.L và
cs , 1990) [42]. Để nâng cao hiệu quả của việc bón P cho cây lúa ngắn ngày,
trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90-120N, 60
K
2
O/ha) nên bón P với lượng 80-90 P
2
O
5
/ha và tập trung bón lót (Gros. A,
1977) [13].
Theo nhiều tác giả cho biết, lượng phân bón cho lúa cần thay đổi theo
thời tiết, mùa vụ và từng loại đất. Trên đa số các loại đất, chân lúa cao sản
thường bón lượng P 60kg P
2
O
5
/ha, riêng đối với đất xám bạc màu có thể bón
80-90kg P
2
O
5
/ha. Năm 1996, theo Mai Thành Phụng và một số tác giả cho
rằng, trên đất phèn nặng, muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải
tạo: sử dụng nước ngọt tưới để rửa phèn, bón phân P liều lượng cao trong
những năm đầu để tích luỹ P. Trên đất phù sa sông Cửu Long được bồi hàng
năm, bón P vẫn có hiệu quả rất rõ. Vụ Đông Xuân 20 Kg P

cao nhất và nếu bón hơn liều lượng 90 kg P
2
O
5
/ha thì năng suất có xu hướng
giảm. Trong vụ Hè Thu, với giống lúa VM1, bón supe P hay P nung chảy
đều làm tăng năng suất rất rõ rệt (Nguyễn Văn Uyển, 1994) [31], (Nguyễn
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status