BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CHU THANH KHIẾT
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT SINH GÂY HẠI CỦA
SÂU MIỆNG NHAI THUỘC BỘ CÁNH VẨY
(LEPIDOPTERA) HẠI ĐẬU RAU VỤ XUÂN HÈ 2011
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60 62 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH CHIẾN
HÀ NỘI - 2011
ii
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ v
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 4
1.2.1 Mục đích 4
1.2.2. Yêu cầu 4
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài 4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2. Nghiờn cứu ngoài nước 5
2.2.1. Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau 5
4.3.1. Phân bố và phổ kí chủ của Maruca vitrata Fabr 32
4.3.2. Đặc điểm hình thái của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 34
4.3.3. Một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 36
4.3.4. Tỷ lệ giới tính của sâu đục quả M. vitrata trong phòng thí nghiệm
và ngoài đồng ruộng vụ Xuõn Hố 2011 41
4.4. Diễn biến mật độ của sâu đục quả đậu (Maruca vitrata Fabr.) và một số
loài sâu hại chính 42
ii
4.4.1. Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu đục quả M.vitrata trên đậu
đũa trà sớm và trà chính vụ vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà
Nội 42
4.5. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với sâu hại sâu đục quả (Maruca
vitrata Fabr.) 49
4.5.1. Ảnh hưởng của thuốc BVTV trong việc trừ sâu đục quả (Maruca
vitrata Fabr. ) đậu đũa vụ Xuõn Hố 2011 ở ngoài đồng ruộng Gia
lâm, Hà Nội 49
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1. KẾT LUẬN 53
5.2. ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Thành phần sâu hại trên đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà
Nội 24
Bảng 4.2. Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau 29
Bảng 4.3. Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau 31
trong vụ xuõn hè 2011 tại Gia Lâm – Hà Nội 31
Bảng 4.4. Cỏc cõy kớ chủ họ đậu của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. vụ
Xuõn Hè 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 33
Rau có nhiều loại : Rau ăn lá, rau ăn thân củ và rau ăn quả. Trong rau ăn quả
thì đậu rau là nhóm rau cao cấp có hàm lượng protit là 5-6% và chứa một số
axit amin, vitamin rất quan trọng ( như methionine, cystine, lysine, vitamin
A,C,B1…). Chính vì vậy, nhóm đậu rau đang được quan tâm phát triển ( Mai
Thị Phương Anh và cộng sự, 1996).
Những loại đậu rau trồng phổ biến ở nước ta là: đậu đũa, đậu trạch, đậu
bở, đậu cove, đậu ván, đậu Hà Lan… và mới gần đây xuất hiện thêm giống
đậu tương rau. Các loài đậu rau này chủ yếu thuộc 2 họ : Họ đậu
Leguminoceae và họ cánh bướm Papillionaceae. Căn cứ vào chiều cao cây
đậu rau chia làm 2 nhóm : Đậu lùn Phaseolus Vulgaris var. humilis Alef và
đậu leo Phaseolus Vulgaris L. Năng suất đậu rau còn thấp chưa ổn định.
Đậu rau còn là nguồn nguyên liệu của công nghiệp chế biến, nguyên
liệu của công nghiệp đồ hộp thực phẩm. Ngoài ra trồng đậu rau có ý nghĩa vô
cùng quan trọng khác là luân canh cõy trồng, cải tạo đất và cung cấp rau thời
kỳ trái vụ.
Cõy họ đậu là cây có ưu thế lớn về mặt trồng trọt. Đây là loại cây trồng
ngắn ngày, thích hợp với trồng xen, trồng gối và cho năng suất đáng kể. Một
đặc điểm khác biệt của cây họ đậu là khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần
để biến nitơ tự do của không khí thành nitơ cây có thể sử dụng được. vì vậy
cây họ đậu được xem là nguồn đạm sinh học quớ giỏ và rẻ tiền.
1
Trong hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng đậu
đỗ như điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt, sâu bệnh… Yếu tố chính hạn
chế năng suất đậu rau là sâu hại, điển hình là một số loại sâu hại chính như :
sâu đục quả Maruca sp., ruồi đục lá Liriomyza sp… Theo thống kê ở nhiều
nước trồng đậu đỗ, thiệt hại do sâu bệnh gây ra có thể từ 53% - 98% nếu
không tiến hành các biện pháp phòng trừ.
Trong số đó, loài gây hại nghiêm trọng nhất là sâu đục quả Maruca
vitrata Fabr., tiếp đến là sâu khoang Spodoptera litura ăn gặm phiến lá và
sõu xỏm Agrotis ypsilon gặm cắn cây con.
rau có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây rau, có giá trị thu nhập cao và cải tạo
đất tốt. Tuy nhiên, diện tích cây đậu rau còn thấp, chưa phát huy được tiềm
năng và lợi thế, tiêu thụ khó khăn, giá trị thu nhập không ổn định. Cản trở lớn
nhất là nông dân sử dụng nhiều lần thuốc trong một vụ để trừ sâu đục quả,
ruồi đục lá, bọ trĩ, rệp…, không đảm bảo thời gian cách ly. Đặc biệt, đậu đỗ
được người sử dụng ưa chuộng, nhưng do vấn đề dư lượng thuốc BVTV trong
sản phẩm dẫn đến tình trạng diện tích cây đậu đỗ có chiều hướng giảm.
Cho tới nay, ở huyện Gia Lâm hầu như rất ít công trình nghiên cứu về
sâu hại đậu rau. Vì vậy, việc nghiên cứu sâu hại đậu rau và biện pháp phòng
trừ để giúp cho công tác dự tính dự báo, chỉ đạo phòng trừ sâu hại, hướng dẫn
tập huấn nông dân trồng đậu rau an toàn và năng suất cao là vấn đề cần được
quan tâm.
Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình
Chiến, chỳng tụi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu sự phát sinh
gây hại của sâu miệng nhai thuộc Bộ cánh vẩy ( Lepidoptera) hại đậu rau
vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội”
3
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Điều tra thu thập thành phần sâu hại chính hại đậu rau và thiên địch của
chúng vụ Xuân Hè 2011 tại vùng Gia Lâm, Hà Nội. Nghiờn cứu sự phát sinh
gây hại của sâu hại chính, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ một cách hợp lý,
đạt hiệu quả kinh tế và môi trường, góp phần thúc đẩy sản xuất đậu rau an
toàn vùng Gia Lâm, Hà Nội.
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra thu thập và xác định thành phần sâu hại đậu rau và thiên địch
của chúng vụ Xuõn Hố 2011 tại vùng Gia Lâm, Hà Nội.
- Theo dõi ảnh hưởng của một số yếu tố( loại đậu rau, thời vụ trồng và
giai đoạn sinh trưởng của cây) đến diễn biến mật độ của sâu hại chính hại đậu
rau ( sâu đục quả, ruồi đục lỏ, sõu xỏm, sõu khoang, sâu cuốn lỏ… )
thuốc hóa học thường không hiệu quả cao.
Để góp phần cho công tác Bảo vệ thực vật trờn cõy rau đặc biệt là cây
đậu rau đạt hiệu quả cao hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thành phần
sâu hại trên đậu rau, diễn biến mật độ sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. trong
quá trình sinh trưởng của cây, đặc tính sinh học của sâu đục quả Maruca
vitrata Fabr. và thực nghiệm một số biện pháp phòng trừ để đề xuất biện pháp
phòng chống hiệu quả phù hợp.
2.2. Nghiờn cứu ngoài nước
2.2.1. Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau.
Nhóm đậu rau là những cây trồng quan trọng ở nhiều nước trên thế
giới, có tác dụng cung cấp một lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho
5
con người, được coi là nguồn cung cấp protein cho các quốc gia đang phát
triển (Gethi và Khaemba, 1985; Alghali, 1991) và có tác dụng cải tạo đất rất
tốt cho cây trồng như lỳa, ngụ… Tuy nhiên việc trồng cây đậu rau cũng gặp
phải không ít khó khăn, trong đó phải kể đến sự có mặt và gây hại của nhiều
loài dịch hại (chủ yếu là côn trùng gây hại).
Theo Bohec J. Le. (1982), ở Phỏp đó phát hiện được 20 loài sâu hại đậu
cove. Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học ở vùng Đông Nam Á và
Nam Á cho thấy trên đậu đũa có 10 loài sâu hại chính. Theo Waterhouse
(1998), trên đậu cove trồng vùng Đông Nam Á đã phát hiện được 13 loài sâu
hại thuộc 3 bộ côn trùng. Cũng theo ông ở tài liệu này, ở vùng Đông Nam Á
đã ghi nhận có 30 loài sâu hại trên đậu đũa thuộc 6 bộ côn trùng và số lượng
này ở từng nước như sau : Campuchia và Myanma mỗi nước có 11 loài,
Indonexia 15 loài, Brunei 5 loài ( ít nhất ), Malaysia 26 loài, Lào 10 loài,
Singapore 17 loài và Thái Lan 20 loài. Ở Ghana đã xác định được 7 loài sâu
hại chớnh trờn đậu đũa trong tổng số hơn 150 loài.
Tại Malaysia đã xác định được có 11 loài sâu hại chính, trong đó có 6
loài quan trọng là: Heliothis armigera, Maruca vitrata Fabr., Ophiomyia
phaseoh, Chromatomyia horticola (Gour), Anomis flava (Fabr) và
Các loại thuốc hóa học đã sử dụng để trừ sâu đục quả thuộc nhiều
nhóm : Chlo hữu cơ, lân hưu cơ, cacbamat, pyrethroit (Amatoibi, 1995). Ở
Trung Quốc , vào các năm 1978 – 1979, người ta đã sử dụng thuốc ĐVP để
phun cho cây đậu với mức 2-3 lần/ 1 vụ khi mật độ sâu non và trứng ở trên
hoa lên đến 40%, đã thu được kết quả tốt.
Tóm lại, trong công tác phòng trừ sâu hại nói chung và sâu hại đậu rau
nói riêng thì việc sử dụng đơn lẻ từng biện pháp đều không đem lại hiệu quả
7
cao nhất, mà cần phải có sự chủ động phối hợp các biện pháp đó dựa trên sự
hiểu biết về mối quan hệ và tác động qua lại giữa 3 yếu tố : Cây trồng – sâu
hại – môi trường mới đem lại kết quả, việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng
hợp dịch hại cây trồng. Ở Mỹ, kết quả thu được qua quá trình thử nghiệm
chương trình phòng trừ tổng hợp trờn cõy đậu đỗ là rất khả quan. Điều này đã
mang lại một phương thức phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ một cách tích cực và
chủ động.
2.3. Nghiờn cứu trong nước
2.3.1. Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau
Ở Việt Nam, cây đậu rau giữ một vai trò nhất định trong hệ thống luân
canh cây trồng và nó càng có ý nghĩa hơn đối với cỏc vựng chyờn canh cây
rau màu. Do nhu cầu sử dụng rau xanh của người Việt Nam ngày càng tăng
cùng với sự phát triển của xã hội, cây đậu rau có ý nghĩa trong việc đáp ứng
nhu cầu sử dụng rau các thời kỳ rau giáp vụ. Tuy nhiên việc đảm bảo chất
lượng rau và an toàn cho người sử dụng vẫn chưa được quan tâm đúng mực.
Ở các khu vực trồng đậu đỗ chuyên canh thì vấn đề năng suất được đặt lên
hàng đầu đối với bà con nông dân. Việc sử dụng thuốc trừ sâu vẫn tỏ ra hết
sức tùy tiện. Điều này chứng tỏ rằng những nghiên cứu về sâu hại đậu rau nói
chung và sâu đục quả đậu nói riêng ở Việt Nam chưa được quan tâm nhiều .
Trong danh mục “ Côn trùng hại đậu đỗ ” theo kết quả điều tra cơ bản
côn trùng năm 1967 – 1968 đã ghi nhận có 39 loài sâu hại, trong đó có 5 loài
thu thập được trên đậu đũa và đậu cove, đó là bọ xít ve (Coptosoma
cuốn lá đậu tương ( Hedylepta indicate (Fabricius), sâu đục quả ( Maruca
vitrata Fabr.), ruồi đục lá đậu ( Liriomyza sativae ( Blanchard), sâu khoang
(Spodoptera litura Fab.).
9
2.3.2. Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau
Trước năm 2000, đã có nhiều công bố về thiên địch của sâu hại trên
những cây trồng chính ở Việt Nam, tuy nhiên không có công bố nào chuyên
về thiên địch đậu rau. Từ năm 2000 đến nay, đó cú một số tac sgiar nghiên
cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau và thu được một số kết quả.
Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2000), khi nghiên cứu sâu hại đậu rau ở
vùng rau ngoại thành Hà Nội và phụ cận đã đưa ra kết luận, thành phần và
mật độ thiên địch trên đậu trạch, đậu đũa, đậu cove là tương tự nhau và rất
nghèo nàn, qua điều tra ghi nhận được 3 loài bọ rùa (Bọ rùa đỏ, bọ rùa chữ
nhân, bọ rùa 6 chấm), một loài ruồi ăn rệp, và vài loài nhện lớn, bọ cánh cứng
cánh ngắn, bọ ba khoang, chúng tồn tại trên đồng ruộng với mật độ thấp (< 1
con /m
2
) còn vào tháng 6, 7, 10, 11 mật độ cao hơn 3 con / m
2
.
Trong thời gian 1996 – 2001, Phạm Văn Lầm và cộng sự (2002) thu thập
được 40 loài thiên địch của sâu hại trờn nhóm cõy đậu rau, nhưng mới xác
định được tên khoa học của 30 loài ( trong 30 loài này có 13 loài thuộc bộ hai
cánh, bộ nhện có 3 loài, và 2 loài virus gây bệnh cho sâu hại). Trong số các
loài thu thập và xác định được tên, chỉ có 4 loài bắt gặp ở mức độ trung bình
là bọ rùa 6 chấm, bọ rùa đỏ và 2 loài ruồi ăn rệp. Phần lớn thiên địch xác định
được đều là các loài côn trùng bắt mồi. Tuy nhiên mức độ phổ biến không
cao, họ bọ rùa ghi nhận 8 loài, nhưng mật độ các loài bọ rùa là thấp, vì vậy
chưa thấy rõ vai trò hoạt động hữu ích của các loài côn trùng bắt mồi này,
nguyên nhân hiện tượng này có lẽ là do việc dùng thuốc húa học chưa hợp lý.
quả đậu đỗ và đã chọn ra 2 loại thuốc có hiệu lực cáo nhất đối với sâu này là
Sherpa 25EC và Sumicidin 20EC. Đối với nông dân họ thường dùng hỗn hợp
11
các loại thuộc để phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ như : Sagomycin 20EC+ Sát
trùng dan 95BTN, Cymerin 10EC + Nettoxin 95WP, Rigan + Sec Sài Gũn…
với liều lượng 30ml hỗn hợp thuốc + 10 lít nước phun cho 360 m
2
.
Trong vụ xuân vào thời điểm trước khi cây ra hoa được phun với thời
gian 5 – 7 ngày 1 lần, tổng số lần phun khoảng 8 – 10 lần. trong vụ xuõn hố
số lần phun nhiều hơn, mật độ phun cũng dày hơn 7 – 10 lần vào thời kỳ ra
hoa, 3 – 5 ngày ở giai đoạn quả. Việc phun thuốc như vậy không đảm bảo
thời gian cách lý và không an toàn cho người tiêu dùng.
Nguyễn Thị Nhung và ctv (1996) đã tiến hành khảo sát các loại thuốc có
hiệu lực trừ sâu cao và ít độc hại để sử dụng trong sản xuất rau. Kết quả thu
được là trờn cõy đậu đũa cho thấy có 2 loại thuốc được khuyến cáo nên sử
dụng là Sherpa 25EC và Sumicidin 20EC 0,1% phun 3 lần / vụ khoảng cách 5
ngày phun 1 lần sau khi hình thành quả.
Việc sử dụng thuốc hóa học một cách quá mức đã làm cho thành phần
ký sinh nhộng trong sinh quần đậu rau nghèo hơn so với sinh quần đồng lúa,
đồng thời gây nên sự xuất hiện chậm trễ của ký sinh và bắt mồi trong sinh
quần ruộng đậu ( Bùi Tuấn Việt, 1993).
Theo Trần Đình Chiến (2002) trong một vụ đậu tương phun 4 lần thuốc
trừ sâu sẽ ảnh hưởng đến mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi, ảnh hưởng lớn
đến mật độ bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fabr., 1 lần phun thuốc đã ảnh
hưởng tới mật độ quần thể bọ chõn chạy Chlaenius bioculatus.
Hiện nay một số nước trồng đậu trên thế giới người ta áp dụng biện pháp
phòng trừ tổng hợp (IPM). Ở Mỹ đã áp dụng tổng hợp các biện pháp như luân
canh cây trồng, sử dụng các chế phẩm sinh học, dùng thuốc hóa học ở liều
lượng thấp để bảo vệ thiên địch và ký sinh tự nhiên.
13
trừ sâu cao và ít độc hại để sử dụng trong sản xuất đậu rau. Kết quả thu được
trờn cõy đậu xanh và cây đậu đũa cho thấy có 2 loại thuốc được khuyến cáo
nên sử dụng là Sherpa và Sumicidin 0,1% phun 3 lần/1 vụ và khoảng cách là
5 ngày phun một lần sau khi hình thành quả.
Theo Khuất Đăng Long và Phạm Thị Hoa ( Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật ) hai loài sâu đục quả Maruca vitrata Fabricius và Etiella zinckenella
Treitschke vẫn được thống kê như là sâu hại chủ yếu vào giai đoạn hoa và
quả của cây họ đậu (2009).
Để tạo điều kiện và khuyến khích việc mở rộng và phát triển sản xuất
cây đậu rau. Ở cỏc vựng trồng trong cả nước đặc biệt là xây dựng các điểm
trồng rau chuyên canh, việc nghiên cứu chi tiết và chính xác về đặc điểm sinh
học, đặc tính sinh thái, sự phân bố và tập tính gây hại của sâu đục quả đậu và
thiên địch của chúng sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lựa chọn các biện pháp
phòng chống sâu hại hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao.
14
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu nghiên cứu
- Cây trồng : Các loại đậu rau ( đậu đũa, đậu cove, đậu tương rau…)
đang trồng phổ biến ở vùng nghiên cứu.
- Một số loại thuốc BVTV hóa học và sinh học : Cypermethrin,
Baythroid, Abamectin, Xentari ( Bt ), NPV hay Metarhizium anispliae.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng.
- Sâu đục quả đậu ( Maruca vitrata Fabr.)
3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian
- Từ tháng 2/2011 đến tháng 7/2011.
* Địa điểm
- Điều tra và khảo nghiệm thuốc BVTV: Vùng trồng đậu rau huyện Gia
sâu hại chính.
Bắt đầu theo dõi từ pha trứng, nuôi từ pha trứng đẻ cùng thời điểm, tiếp
đến pha sâu non ( các tuổi ), nhộng và trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên.
- Điểm điều tra : Mỗi yếu tố điều tra 10 điểm ngẫu nhiên phân bố trên
hai đường chéo goc, mỗi điểm điều tra 10 cây, điểm điều tra phải cách bờ ít
nhất 2m.
- Phương pháp lấy mẫu:
16
+ Đối với sâu tuổi nhỏ điều tra trực tiếp trờn cỏc bộ phận của cây.
+ Sâu tuổi lớn bóc quả bị sâu hại để điều tra.
+ Đếm tổng số quả và số quả bị hại ở từng điểm điều tra.
- Chỉ tiêu theo dõi :
+ Mật độ sâu ( con/100 nụ, quả ).
+ Tỷ lệ cây bị hại ( % ).
3.6.2. Phương pháp nghiên cứu đánh giá mức độ gây hại của Maruca
vitrata:
Gieo Đậu đũa 20/4/2011 tại Viện Nghiên cứu Rau quả
Gồm 2 công thức: 3 lần lặp, mỗi lần lặp 100 m2
Công thức 1: Phun thuốc BVTV (5 lần, theo khuyến cáo trong cả vụ
trồng)
Sherpa 25 EC
Novas super 650 EC
Sherpa 25 EC
Kinagold 23 EC
Vitashield 40EC)
Công thức 2: Không phun
Thu hoạch quả theo thực tế
Theo dõi khối lượng quả và khối lượng quả bị đục bởi Maruca ở từng công
thức, từng đợt thu hoạch.
3.6.3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca
sâu đục quả trước khi phun và sau phun 1, 3, 7 ngày.
18