Nghiên cứu thành phần rệp sáp hại cây có múi và thiên địch của chúng; đặc điểm sinh học, sinh thái của loài rệp sáp chính tại Gia Lâm – Hà Nội và phụ cận 2007 - Pdf 13

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
PHẦN 1.
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây ăn quả có múi (CAQCM) ở nước ta bao gồm cam, chanh, quýt,
bưởi (Citrus spp.) là nhóm cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa rất lớn
trong nền kinh tế và trong đời sống của nhân dân.
Trên thế giới, diện tích cây có múi cũng tăng nhanh, riêng cây cam,
cây quýt được phân bố trên khắp các lục địa từ 35
0
vĩ độ bắc đến 35
0
vĩ độ
nam. Ngày nay người ta còn tạo ra được những giống cam chịu rét tốt có thể
trồng ở những vĩ độ cao tới 41- 43
0
vĩ bắc. Hiện nay có 75 nước trồng cây có
múi được phân chia ra làm 3 khu vực: châu Mỹ, các nước Địa Trung Hải và
các nước á Phi, các nước trồng nhiều như: Mỹ, Brazin, Tây Ban Nha, Nhật
Bản, Ấn Độ, Trung Quốc [dẫn theo 27]. Từ cuối những năm 90 của thế kỷ
XX quả có múi đã trở thành loại quả quan trọng và có sản lượng cao bằng
hoặc hơn ba loại quả quan trọng khác là nho, chuối và táo tây (Vũ Công Hậu,
1996) [2].
Ở nước ta, nghề trồng CAQCM có truyền thống lâu đời và có những
loại quả có múi ngon, là đặc sản gắn liền với các địa danh cũng như thương
hiệu đặc trưng cho từng vùng như: cam Bố Hạ, cam Xã Đoài, cam Sành, bưởi
Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm Roi,… Cũng từ những
năm 90 của thế kỷ XX, CAQCM đã trở thành loại cây trồng quan trọng, cây
chủ lực trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Diện tích trồng CAQCM ở nước ta
hàng năm không ngừng tăng lên. Theo thống kê của ngành nông nghiệp năm
1985, cả nước trồng 12.720 ha CAQCM với sản lượng là 99.302 tấn, năm

của chúng, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài rệp sáp chính dưới ảnh hưởng
của biện pháp hoá học, từ đó đề xuất biện pháp sử dụng thuốc hoá học một
cách hợp lý có hiệu quả kinh tế và môi trường.
1.2.2. Yêu cầu
- Thu thập, xác định thành phần rệp sáp hại cây có múi và thiên địch
của chúng tại địa điểm nghiên cứu.
- Tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài rệp sáp chính.
- Đề xuất biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học hợp lý.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
4
PHẦN 2.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1. Những nghiên cứu ngoài nước
2.1.1. Thành phần rệp sáp hại cây có múi
Theo công bố của chuyên gia Nga (EM. Dancing và
G.M.Konstantinova, 1990) [13], ở Việt Nam loài rệp sáp, trong đó có 52 loài
hại cam quýt.
Theo Liling Yong Wangren and D.F Waterheuse (1997) [19] , có 72
loài bao gồm rệp muội (Aphididae), rệp sáp mềm giả (Coccidae), rệp bông
(Margarodidae), rệp sáp vẩy (Diaspididae). Rệp sáp có vòng đời ngắn, sức
sinh sản cao nên số lượng quần thể tăng rất nhanh. Con đực, khi trưởng thành
phải trải qua 2 giai đoạn tiền nhộng và nhộng, nhưng ở con cái không có giai
đoạn nhộng. Chúng có thể có kiểu sinh sản đơn tính và sinh sản lưỡng tính
(Uma, 1984) [26].
Rệp sáp gây hại nhiều trên cây lưu niên, đặc biệt trên cây cam quýt.
Rệp sáp là đối tượng gây hại khá quan trọng (Metcalf và Fint, 1962;
Davidson,1966; Samson, 1986) [21], [14], [23]. Tác hại của rệp sáp rất đáng
kể, ngoài việc hút nhựa cây chúng còn tiết ra chất sương mật làm cho nấm
muội đen phát triển trên lá dẫn đến việc giảm quá trình quang hợp của cây.
Mặt khác tạo điều kiện cho kiến cộng sinh mang rệp đi khắp mọi nơi (Pratt,

hạn chế sự phát triển của rệp sáp, Nhật Bản áp dụng biện pháp sinh học dùng
bọ rùa lông nhung Rodolia cardinalis Mulsant để khống chế lại với rệp sáp
lông tơ Icerya purchasi Maskell. Bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri Mulsant
cũng tấn công nhiều loại rệp sáp Pseudococcidae (M. Takagi, 1983) [25].
Nhện lớn ăn thịt có khả năng hạn chế quần thể rệp sáp khá nhiều. Ở
Florida (Mỹ) trên vườn cam chanh đã phát hiện được 148 loài nhện lớn, trong
đó có rất nhiều loại ăn rệp sáp (Mansocir F. ctal, 1982), [20].
Về loài ký sinh: Có nhiều loài ký sinh rệp sáp, trong đó phần nhiều
thuộc họ Encyrtidae và họ Aphelinidae. Ngay trong họ Encyrtidae đã có 26
giống ký sinh rệp sáp. Những loài phổ biến có khả năng hạn chế rệp sáp có ý
nghĩa là: Leptomastix, Metaphycus (Encyrtidae) Aphytis; Coccophagus,
Encarsi, Prospaltella (Aphelinidae). Dòng Aphytis lingnanensis HK-J đã
được sản xuất với lượng lớn và trên thị trường để trừ rệp sáp đầu nhọn
Unaspis yanonensis ở Nhật Bản (Tanaka M., Furuhashi K., Nishino M., 1983),
[25].
2.2. Những nghiên cứu trong nước
2.2.1. Tình hình gây hại của rệp sáp trên cây có múi
Trong các nghiên cứu về sâu bệnh hại nông nghiệp thì nghiên cứu sâu
bệnh hại CAQCM rất quan trọng. Rệp muội và rệp sáp cũng là một trong
những sâu hại nghiêm trọng và công tác phòng trừ cũng là một vấn đề có
nhiều nan giải đối với các nhà khoa học. Rệp xâm nhập và gây hại trên cây
với số lượng lớn có thể làm giảm năng suất quả và có khi không cho thu
hoạch ở một số vùng trồng. Nhưng từ trước tới nay các nhà nghiên cứu về rệp
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
7
hại CAQCM ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Theo Trần Văn Hội và Hoàng Lâm (1991) [3] bước đầu điều tra thành
phần sâu bệnh cam, quýt ở Bắc Quang - Hà Tuyên, kết quả bước đầu thu được
đã xác định được 27 loài sâu hại trong đó có 5 loài rầy rệp, 5 loài bướm
phượng, 4 loài bọ xít và nhiều loài sâu khác, xác định được 2 đối tượng sâu

Theo Hồ Khắc Tín [9], rệp sáp phát dục theo kiểu biến thái không
hoàn toàn, con đực phát triển theo kiểu đa biến thái. Quá trình phát triển của
cá thể rệp cái gồm 3 giai đoạn: trứng, rệp con và rệp trưởng thành, có l thời kỳ
phát triển bên trong lớp kén bao gồm 2 giai đoạn: tiền nhộng và nhộng. Rệp
con lúc đầu chưa phân biệt được là con đực, con cái, nhưng đến 2 tuổi thì
phân biệt dễ dàng hơn. Lúc này rệp đực có màu nâu tối, mình thuôn dài, các
tua sáp mất dần và xuất hiện những lông sáp xung quanh cơ thể.
Theo Đinh Văn Đức (1999) [1], rệp sáp ít di chuyển, chúng luôn cộng
sinh với kiến. Rệp sáp tiết ra mật ngọt cho kiến ăn, kiến chăm sóc và bảo vệ
rệp, giúp rệp lây lan từ cây này sang cây khác. Rệp sáp trải qua 3 tuổi, qua 2
lần lột xác, lần 1 sau nở 6 – 8 ngày, lần 2 sau nở 15 – 30 ngày. Thời gian đẻ
của rệp có thể kéo dài tới 20 ngày. Sau khi đẻ hết trứng 4 – 7 ngày thì rệp chết.
Vòng đời của rệp biến động từ 42 – 60 ngày và rệp sáp là loài sinh sản đơn
tính. Đây là đối với rệp sáp hại trên cây cà phê.
Theo Phạm Văn Lầm rệp sáp (Homoptera: Coccidea) là nhóm sâu hại
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
9
nguy hiểm cho nhiều loại cây trồng đặc biệt là đối với cây ăn quả có múi. Dựa
trên kết quả quan sát và điều tra của bản thân và một số tài liệu đã công bố, tác
giả đúc kết về thành phần rệp sáp hại cây ăn quả có múi ở Việt Nam, dựa vào
kết quả xác định tên khoa học của các chuyên gia phân loại ở Liên Xô cũ và
một số tài liệu khác đã công bố trong nước (Viện Bảo vệ thực vật, 1976), [11].
Các loài rệp sáp hại CAQCM đã phát hiện được tập trung nhiều nhất là họ
Diaspididea có 27 loài, sau đó đến họ Coccidae có 18 loài và họ
Pseudococcidae có 8 loài, ít nhất là họ Margarodidea hoặc là Monophlebidae 4
loài.
2.2.2. Biện pháp phòng chống rệp sáp hại cây có múi
Ở nước ta, những tài liệu nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sự biến
động của quần thể rệp sáp, điều tra thành phần thiên địch và sử dụng chúng
trong việc hạn chế số lượng rệp sáp trên CAQCM, sử dụng hợp lý thuốc hoá

khăng khít với nhau. Đã tìm thấy 16 loài thiên địch hại trên rệp, trong đó có 6
loài ong ký sinh (Unaspis citri, Ooencyrtus sp., Prospaltella sp. và
Eretmocetrus sp…) và 4 loài bọ rùa ăn rệp, 1 loài bọ cánh mạch, bọ xít bắt
mồi, giòi, nhện nhỏ ăn rệp và 2 loài nấm ký sinh.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
11
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1.1. Đối tượng
- Là các loại rệp sáp và thiên địch (gồm có Côn trùng bắt mồi và Côn
trùng ký sinh) của chúng trên cây có múi.
- Cây trồng: cam Đường canh, cam Vinh.
3.1.1.2. Vật liệu nghiên cứu
* Dụng cụ nghiên cứu:
- Dụng cụ quan sát gồm: Kính hiển vi, kính lúp cầm tay độ phóng đại 8
- 12 lần.
- Túi nilon, lọ đựng mẫu, cồn 70
0
, bút lông, hộp petri, kéo, panh kẹp
mẫu, thước đo, vợt, ống hút côn trùng.
- Ống nghiệm, ôn ẩm kế, sổ ghi chép, bút viết, đĩa petri, hộp nhựa nuôi sâu.
* Vật liệu nghiên cứu:
- Các loại cây có múi như: cam, chanh, bưởi, quất
- Thuốc bảo vệ thực vật: Serzol 205 EC, Dragon 585EC, dầu khoáng
SK EnSpray 99 EC.
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành điều tra thu thập mẫu ở 3 vườn trồng cam Đường

Các loài côn trùng tương đối lớn như sâu ăn lá, rệp, bọ xít chúng tôi
dùng panh hoặc bắt bằng tay.
3.3.1.2. Điều tra xác định thành phần rệp sáp và thiên địch của chúng trên
cam tại vùng nghiên cứu
Để thực hiện nội dung này, chúng tôi tiến hành điều tra trên cây có múi
(cam Đường canh và cam Vinh) theo phương pháp tự do, số lần điều tra thu
thập từ 4 - 5 lần/tháng, có bổ sung tại những điểm phụ cận.
+ Phương pháp thu thập mẫu rệp sáp:
Việc thu thập được tiến hành trên cây có múi (cam Đường canh và cam
Vinh) với số điểm điều tra càng nhiều càng tốt. Tại điểm điều tra, chúng tôi
thu thập mẫu vật trên 5 cây cùng tuổi; ở mỗi cây quan sát tỉ mỉ toàn bộ mặt
trên, mặt dưới lá và bộ phận của cây. Nếu có rệp tiến hành đếm số rệp, bắt rệp,
bằng cắt ngắt trực tiếp những lá có rệp sáp cho vào túi nilon hoặc hộp nhựa
đựng sâu, sau đó đem về phòng thí nghiệm tiếp tục nhân nuôi để làm mẫu và
giám định chúng theo phương pháp và tài liệu chuẩn.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thao tác bắt rệp sáp bằng bút lông một
cách từ từ để rệp kịp rút phụ miệng ra bộ phận hại của cây, đồng thời đưa nhẹ
nhàng mẫu vào hộp nhựa nuôi sâu có sẵn lá hay ngọn cây chủ. Khi thu mẫu
ghi rõ đặc điểm của rệp trước khi thu bắt, vị trí sống, triệu chứng tác hại của
rệp gây ra cho cây ký chủ. Toàn bộ số liệu được ghi vào biểu điều tra. Mẫu
vật được tiến hành giám định tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Côn trùng -
trường Đại học Nông Nghiệp I - Hà Nội.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
14
Trong quá trình điều tra rệp sáp trên cây ngoài vườn quả, cũng như
quan sát thường xuyên trong phòng thí nghiệm, chúng tôi phát hiện những
loài thiên địch (côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh), đồng thời đánh giá mật
độ, tỉ lệ ký sinh trong mối quan hệ của chúng với loài rệp sáp thích hợp. Mẫu
vật của các loài thiên địch được bảo quản ngâm vào cồn 70
0

- Dùng ống nghiệm để bắt ký sinh, đưa vào lọ ngâm cồn 70
0
làm mẫu
để phân loại và chụp ảnh.
3.4. Đánh giá tác động của một số loại thuốc hoá học đến loài rệp sáp chính
trong phòng thí nhiệm
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm trong phòng theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên bố trí 4 công thức, nhắc lại 3 lần.
- Công thức 1: Serzol 205EC (CT1) 0,5 - 1 l/ha, pha 10 - 20ml/ 8l.
- Công thức 2: Dragon 585EC (CT2) 0,5- 0,6 l/ha, pha 8 - 10ml/8l.
- Công thức 3: Dầu khoáng SK EnSpray 99EC (CT3) 3 - 5 l/ha, pha 40
– 80 ml/8l.
- Công thức 4: Đối chứng không phun thuốc.
Mỗi công thức chúng tôi thí nghiệm 30 hộp nuôi sâu, mỗi hộp đặt 1 lá
và 1 rệp sáp trưởng thành, tiến hành xịt thuốc rồi đậy nắp. Tiến hành theo dõi
sau 1, 3, 5, 7 ngày, mỗi ngày theo dõi, đếm và ghi chép lại số sâu sống và số
sâu chết trong mỗi hộp sau khi đã xử lý thuốc. Từ đó tính được độ hữu hiệu
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
16
của thuốc theo công thức Abbott.
3.5. Phương pháp đáng giá và xử lý số liệu
- Phương pháp tính toán hiệu lực của thuốc đối với loài rệp sáp chính
với thí nghiệm trong phòng được xử lý theo công thức Abbott:
C – T
H (%) = x 100
C
Trong đó: C là số lượng côn trùng sống ở công thức đối chứng sau xử lý.
T là số lượng côn trùng sống ở công thức sau xử lý thuốc.
H là hiệu lực của thuốc (%)
- Phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo dõi biến động số lượng của

- Thời gian phát dục của một cá thể :
X
=
N
niXi
n
i

1
.
Trong đó :
X
là thời gian phát dục trung bình
Xi là thời gian phát dục trung bình ở ngày thứ i
ni là số cá thể phát dục ở ngày thứ i
N là tổng số cá thể theo dõi
- Độ lệch chuẩn :
S =
 
1

1



N
Xini
n
i
Trong đó : S là độ lệch chuẩn ( = 0,05)

Tên khoa học
Họ
Mức độ phổ
biến
Bộ Cánh cứng
Coleoptera
1
Xén tóc đen khoang trắng
Anoplophora chinensis vitalisi Pic.
Cerambycidae
+
2
Câu cấu nhỏ
Platymycterus sieversi Reit
Curculionidae
+
3
Câu cấu lớn
Hypomeces squamosus Fabr.
Curculionidae
+
Bộ Cánh vảy
Lepidoptera
4
Sâu vẽ bùa
Phynocnistis citrella Stainton
Phyllocnistidae
+++
5
Bướm phượng đen

Bộ Hai cánh
Diptera
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV
49B
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
20
11
Ruồi đục quả
Dacus dosalis Hendel
Trypetidae
++
Bộ Cánh thẳng
Orthoptera
12
Châu chấu
Locusta sp.
Acrididae
+
13
Sát sành
Holochlora japonica Burner - Wattenwyl
Tetigonidae
+
14
Châu chấu voi
Chendracris rosea rosea Degreer
Acrididae
+
Bộ Cánh đều

+
21
Bọ phấn đen
Aleurocanthus worghimi Ashby
Aleurodidae
++
22
Rầy chổng cánh
Diaphorina citri Kuwayama
Chermydae
+++
23
Bọ phấn trắng
Bemisia sp.
Aleurodidae
++
Bộ Ve bét
Acarina
24
Nhện trắng
Polyphagotarsonemus latus Bank
Tarsonemidae
++
25
Nhện đỏ
Panonychus citri M.
Tetranychidae
+++
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV 49B
21

còn sống ở trên cây quan sát thấy chúng có một phần cơ thể màu đỏ hồng lộ ra
phía ngoài lớp sáp bao bọc. Cách gây hại là tạo thành một lớp trắng bám trên lá
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV
49B
23
cây, thân cây và cành cây. Loài này xuất hiện phổ biến ngay thời gian đầu điều
tra đã thấy chúng xuất hiện ở các khu vực với số lượng lớn. Loài này gây hại chủ
yếu trên thân, cành, lá già, lá bánh tẻ. Còn trên lá non sự gây hại không đáng kể.
4.2.2. Rệp sáp vảy ốc (Chrysomplalus ficus Ashm)
Họ: Diaspididae
Bộ: Homoptera
Đặc điểm vỏ lưng con cái hình tròn rất bền chắc, nhô lên gần như một
cái vung nồi, dạng hình chóp nón. Vỏ sáp dầy cứng tối đen hay nâu tối. Vỏ xác
sâu non dính ở trung tâm vỏ lưng màu tím đỏ. Vân đồng tâm trên vỏ lưng nhìn
rõ ràng, những vân này mảnh và dày sít nhau nên bề mặt vỏ lưng vẫn mịn
màng trơn bóng theo sự xiên dần xuống của vỏ lưng từ trung tâm đến rìa, màu
sắc cũng nhạt dần. Rìa của vỏ mỏng dính, màu nâu nhạt dính liền vào mặt lá
cây.
Loài rệp này thường xuất hiện trên lá già và lá bánh tẻ của bưởi. Chúng
sống thành tập đoàn dày đặc trên lá.
4.2.3. Rệp sáp bột hai tua dài (Pseudococus longispinus Targioni)
Họ: Pseudococcidae
Bộ: Homoptera
Đặc điểm con cái trưởng thành có tua sáp kéo dài về phía sau như đuôi.
Rệp sáp bột hai tua dài di chuyển chậm, cơ thể có hình ô van dài 3 – 4 mm.
Cơ thể được bao phủ bởi một lớp phấn mỏng màu trắng. Xung quanh cơ thể
rệp sáp có các sợi tơ.
Rệp sáp bột hai tua dài gây hại nhiều nhất ở lá già và lá bánh tẻ. Ở lá
non và thân, cành số lần gặp rất ít.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Thị Bắc BVTV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status