Nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi và khả lợi dụng hai loài coranus fuscipennis reuter và coranus spiniscutis reuter trong quản lý tổng hợp sâu hại đậu rau tại vùng hà nội - Pdf 95

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI


NGUYỄN DUY HỒNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ XÍT BẮT MỒI
VÀ KHẢ NĂNG LỢI DỤNG HAI LOÀI Coranus fuscipennis
Reuter VÀ Coranus spiniscutis Reuter TRONG QUẢN LÝ
TỔNG HỢP SÂU HẠI ĐẬU RAU TẠI VÙNG HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành:
BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số:

62.62.10.01

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. HÀ QUANG HÙNG
2. TS. TRƯƠNG XUÂN LAM HÀ NỘI, 2012

i

Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Nông học, Viện Đào tạo sau đại học,
Ban Giám hiệu, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; Ban Giám đốc Sở
Nông nghiệp & PTNT Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều về cơ sở vật chất, các
điều kiện thực hiện đề tài và thủ tục hành chính để bảo vệ luận án.
Tôi xin cảm ơn các cán bộ KS. Hà Thị Bảy Viện sinh thái và Tài
nguyên sinh vật, KS. Lê Thị Công, KS. Nguyễn Văn Vinh, KS. Nguyễn Thị
Thuận, KS. Nguyễn Thị Phương, các Trạm Bảo vệ thực vật huyện Hoài Đức,
Phúc Thọ, Ba Vì, các xã thuộc huyện Hoài Đức, Mê Linh, Hoàng Mai, Hà
Đông, Ba Vì, Phúc Thọ, Gia Lâm, các đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã
giúp đỡ tôi nuôi côn trùng, điều tra thu thập số liệu và đóng góp những ý kiến
bổ ích trong quá trình thực hiện luận án.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận án Nguyễn Duy Hồng

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.1. Ý nghĩa khoa học 4
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 4

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
51
3.1. Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên sinh quần ruộng đậu rau 51
3.1.1. Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau 51
3.1.2. Tỷ lệ bắt gặp các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu
rau và trên một số cây trồng khác 53
3.1.3. Mức độ phổ biến của các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi trên
cây đậu rau tại điểm nghiên cứu 54
3.2. Đặc điểm hình thái của hai loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus 57
3.2.1. Đặc điểm hình thái của loài Coranus fuscipennis Reuter 57
3.2.2. Đặc điểm hình thái của loài Coranus spiniscutis Reuter 63
3.3. Đặc điểm sinh học của hai loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus 68

3.3.1. Đặc điểm sinh học của loài Coranus fuscipennis Reuter, 1881 68
3.3.2. Đặc điểm sinh học của loài Coranus spiniscutis Reuter, 1881 77
3.4. Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau năm
2010 và 2011 87
3.4.1. Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu đũa
tại Hoài Đức, Hà Nội 87
3.4.2. Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu trạch
ở Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 92

v
3.4.3. Mối quan hệ giữa hai loài bọ xít bắt mồi với sâu hại trên đậu đũa 96
3.4.4. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tới hai loài bọ xít bắt
mồi trên cây đậu rau 104
3.5. Đề xuất phương pháp nhân nuôi, bảo vệ, sử dụng loài Coranus
fuscipennis trong phòng trừ sâu hại đậu rau 112
3.5.1. Khả năng nhân nuôi loài C. fuscipennis trong phòng thí nghiệm 112
3.5.2. Đề xuất phương pháp lợi dụng, bảo vệ và sử dụng loài

3.7. Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng loài C. fuscipennis (Phòng
Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 68
3.8. Thời gian phát dục của thiếu trùng loài C. fuscipennis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 70
3.9. Thời gian tiền đẻ trứng, số lượng trứng đẻ và thời gian sống của
trưởng thành loài C. fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 72
3.10. Vòng đời của loài C. fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 73
3.11. Khả năng ăn mồi của thiếu trùng loài C. fuscipennis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 75
3.12. Khả năng ăn mồi giai đoạn tiền đẻ trứng của trưởng thành cái loài
C. fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái
& TNSV, 2010) 76

vii
3.13. Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng loài C. spiniscutis (Phòng
Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 78
3.14. Thời gian phát dục của thiếu trùng loài C. spiniscutis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 80
3.15. Thời gian tiền đẻ trứng, số lượng trứng đẻ và thời gian sống của
trưởng thành loài C. spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 81
3.16. Vòng đời của loài C. spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 82
3.17. Khả năng ăn mồi sâu non ngài gạo C. cephalonica của thiếu trùng
loài C. spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh
thái & TNSV, 2010) 84
3.18. Khả năng ăn mồi của trưởng thành C. spiniscutis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 85

và C. spiniscutis trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 88
3.7. Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài BXBM với loài
C. fuscipennis trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 89
3.8. Diễn biến mật độ của loài C. fuscipennis ở các thời vụ trên cây
đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 90
3.9. Diễn biến mật độ của tập hợp các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu
trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 93
3.10. Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài BXBM với loài
C. fuscipennis trên cây đậu trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 94
3.11. Diễn biến mật độ của loài C. fuscipennis ở các thời vụ
trên cây đậu trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 95
3.12. Diễn biến mật độ của tập hợp các loài bọ xít bắt mồi và tập hợp
sâu hại bộ cánh vảy trên đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 97
3.13. Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài bọ xít bắt mồi với tập
hợp sâu hại bộ cánh vẩy ở các thời vụ trên cây đậu đũa tại Hoài
Đức, Hà Nội năm 2010 98

ix
3.14. Diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi C. fuscipennis và sâu cuốn lá
đậu O. indicata trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 100
3.15. Tương quan mật độ giữa loài C. fuscipennis với sâu cuốn lá
O. indicata ở các thời vụ trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội
năm 2010 102
3.16. Diễn biến mật độ loài C. fuscipennis và sâu đục quả đậu
M. vitrata trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 104
3.17. Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến tỷ lệ chết của loài
C. fuscipennis (Phòng Sinh thái Côn trùng, ĐHNNHN, 2011) 105
3.18. Ảnh hưởng của số lần phun thuốc hóa học đến mật độ tập hợp
BXBM tại Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội năm 2011 107
3.19. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng cây đậu đũa và đậu trạch đến mật

công gây hại của nhiều loài dịch hại, trong đó các loài sâu, bệnh chính thường
xuất hiện phát sinh gây hại ở tất cả các vùng trồng đậu rau ở mọi thời vụ gieo
trồng. Chúng làm giảm năng suất, giá trị thương phẩm và chất lượng của cây
đậu rau.
Để phòng chống dịch hại bảo vệ cây đậu rau ở vùng Hà Nội, biện pháp
quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã được người nông dân áp dụng khá mạnh,
song nhu cầu sử dụng hóa chất, phân bón và các chất điều tiết sinh trưởng vẫn
không ngừng gia tăng và trở thành một thói quen của họ trong công tác bảo vệ
cây rau. Việc gia tăng quá mức số lần sử dụng thuốc trừ sâu hoá học không
chỉ tiêu diệt các loài sâu hại, mà còn làm nhiều loài sâu hại chủ yếu tăng tính
kháng thuốc; một số loài sâu hại thứ yếu gia tăng số lượng và trở thành loài
hại chủ yếu, bên cạnh đó thuốc hóa học còn làm suy giảm tài nguyên thiên

2
địch của dịch hại trong tự nhiên. Nhiều loài côn trùng bắt mồi, côn trùng ký
sinh trước đây là loài thiên địch phổ biến có vai trò tích cực trong điều hòa số
lượng sâu hại chính trên rau, đến nay hoặc là biến mất hoặc chỉ xuất hiện với
số lượng và tần suất rất thấp không còn phát huy vai trò hạn chế sâu hại,
chẳng hạn các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi, bọ rùa và bọ cánh cứng bắt mồi
khác. Nhiều loài côn trùng bắt mồi có sống sót sau khi phun thuốc hóa học,
khả năng sinh sản, tuổi thọ và tập tính bắt mồi của chúng còn bị ảnh hưởng
nghiêm trọng. Thêm vào đó sự đô thị hóa ngày càng tăng đã biến nhiều diện
tích trồng cây rau trong đó có cây đậu rau thành nhà ở, đường giao thông, nhà
máy sản xuất công nghiệp. Điều này làm cho nơi trú ngụ, trốn tránh cũng như
nguồn cung cấp thức ăn cho các loài côn trùng bắt mồi ngày càng bị thu hẹp.
Dẫn đến không chỉ mất cân bằng sinh thái tăng, mà còn làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học nhóm côn trùng bắt mồi.
Distant (1910) [51] cho rằng trong nhóm côn trùng bắt mồi sâu hại đậu
rau, các loài bọ xít bắt mồi (BXBM) thuộc bộ Heteroptera được biết là những
loài thiên địch quan trọng trên nhiều cây trồng nông nghiệp. Nhóm bọ xít bắt

biện pháp sinh học phòng chống sâu hại trên đồng ruộng. Làm được điều này
không chỉ giúp tạo cơ sở khoa học đề xuất những biện pháp tốt nhất nhằm bảo
vệ, duy trì và lợi dụng tập hợp các loài thiên địch trong đó có nhóm bọ xít bắt
mồi trên cây đậu rau, mà còn kịp thời bổ sung số lượng thiếu hụt của chúng
khi bị tác động bởi yếu tố môi trường, nhất là sự tác động của con người, góp
phần bảo tồn nguồn gen hữu ích của các loài bọ xít bắt mồi quan trọng. Xuất
phát từ yêu cầu của khoa học, thực tiễn sản xuất đậu rau an toàn, chúng tôi thực
hiện đề tài: "Nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi và khả lợi dụng hai loài
Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter trong quản lý tổng
hợp sâu hại đậu rau tại vùng Hà Nội".

4
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định thành phần loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau, góp phần
bổ sung vào danh mục các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Việt Nam.
- Bổ sung những dẫn liệu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái học, vai trò của hai loài bọ xít bắt mồi (Coranus fuscipennis Reuter
và Coranus spiniscutis Reuter) trong hệ sinh thái đồng trồng đậu rau, giúp
người trồng rau có nhận thức về chúng một cách hợp lý.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất phương pháp nhân nuôi hai loài bọ xít bắt mồi phổ biến
Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter nhằm sử dụng
chúng trong phòng chống sâu hại chính trên cây đậu rau ở Hà Nội.
- Xác định mối quan hệ giữa các loài bọ xít bắt mồi phổ biến và vật mồi
của chúng trên cây đậu rau, giúp người trồng rau nhận biết vai trò của hai loài
bọ xít bắt mồi.
- Cung cấp tài liệu khoa học cho nông dân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ
quản lý ở địa phương nhận biết, bảo vệ và lợi dụng các loài bọ xít bắt mồi để
phòng chống sâu hại đậu rau trong quá trình sản xuất rau an toàn.

Điều tra, thu thập xác định thành phần loài, mức độ phổ biến, tần suất
xuất hiện, vị trí số lượng của các loài bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera trên
cây đậu rau.
Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, vai trò của hai loài bọ
xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter, mối
quan hệ giữa loài BXBM phổ biến với vật mồi của chúng (sâu hại chủ yếu

6
thuộc bộ Lepidoptera) trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố
sinh thái.
Đề xuất phương pháp nhân nuôi và lợi dụng hai loài bọ xít bắt mồi phổ
biến phòng chống một số loài sâu chính hại đậu rau trong điều kiện thực
nghiệm.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về thành phần
loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở vùng Hà Nội và ghi nhận mới hai loài
cho khu hệ côn trùng bắt mồi trên sinh quần cây đậu rau ở Việt Nam gồm:
Campylomma chinensis Schuh và loài Proboscidocoris varicornis Jakovlev,
ghi nhận mới một loài Deraeocoris punctulatus Fallen vào danh mục bọ xít
bắt mồi trên cây đậu rau ở vùng nghiên cứu
- Cung cấp một số dẫn liệu mới về đặc điểm sinh học, sinh thái học của
hai loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis
Reuter thuộc họ Reduviidae. 7
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

thành công trong nghiên cứu ứng dụng và nhân thả một số loài côn trùng bắt
mồi trong việc phòng trừ sâu hại một số loại cây trồng, như sử dụng bọ xít bắt
mồi (Orius sauteri) phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, lợi dụng bọ xít hoa bắt mồi
Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây bông đay.
Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18], Vũ Quang Côn và ctv (2007) [5]
cho rằng nghiên cứu và lợi dụng các loài bọ xít cổ ngỗng Sycanus falleni và
Sycanus croceovittatus phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây bông và
đậu tương ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu
này, nhất là nghiên cứu về nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trên cây đậu
rau còn chưa được quan tâm đúng mức, ngoại trừ một số nghiên cứu về sinh
học, sinh thái và vai trò của một số loài bọ rùa bắt mồi trong việc phòng trừ
rệp muội trên rau họ hoa thập tự.
Cây đậu rau là cây thực phẩm quan trọng trong đời sống con người và
càng ngày chứng tỏ là cây trồng có giá trị không chỉ trong vai trò là thức ăn
mà còn có giá trị bổ dưỡng, điều hòa cơ thể con người. Chính vì vậy, đậu rau
đã được trồng rộng rãi ở rất nhiều nơi trong cả nước nói chung và Hà Nội nói
riêng. Ở Hà Nội đang hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô lớn
nhiều loại cây trồng trong đó có vùng trồng rau. Theo Sở NN&PTNT Hà Nội
năm 2010 [29] có nhiều vùng sản xuất rau tập trung đang nhân rộng và phát
triển ở Ðông Anh, Gia Lâm, Mê Linh, Hoài Đức, Những năm gần đây cây
đậu rau thường xuyên bị một số loài sâu hại chính tấn công gây hại từ đầu vụ

9
đến cuối vụ, đã gây nên những tổn thất nặng nề cho vùng trồng đậu rau, một
số nơi năng suất chỉ còn đạt 8-10 tạ/ha, có lúc đã gây ra hiện tượng thiếu đậu
rau cung cấp cho thành phố Hà Nội và các vùng phụ cận.
Bùi Sĩ Doanh và ctv (1995) [7] cho rằng để bảo vệ cây đậu rau và tăng
năng suất, hiện nay ở các vùng trồng cây đậu rau ở Hà Nội, biện pháp được
sử dụng phổ biến nhất để trừ các loài sâu hại là sử dụng thuốc hóa học. Do
thời gian sinh trưởng của cây không dài, sâu hại nhiều nên người dân trồng

Muốn phát triển biện pháp sinh học để phòng chống sâu hại đạt hiệu
quả chúng ta cần xác định thành phần thiên địch của chúng, xác định đặc
điểm sinh học, sinh thái học của loài thiên địch có ý nghĩa, đặc biệt các
loài bắt mồi sâu hại trên các cây trồng trong hệ sinh thái đồng ruộng ở
nước ta, đặc biệt nhóm loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Hà Nội là rất
cần thiết. Chúng không những góp phần duy trì tính đa dạng sinh học, sự
cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn giảm thiểu số lần
phun thuốc hóa học ở các vùng trồng rau, nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm, tạo ra những sản phẩm đậu rau an toàn cung cấp cho Thủ đô Hà
Nội và vùng phụ cận.
1.2. Tổng quan tài liệu
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.1. Nghiên cứu về thành phần loài của BXBM thuộc bộ Heteroptera
Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển việc định danh thiên
địch nói chung các loài bắt mồi sâu hại nói riêng do các chuyên gia phân
loại tiến hành nên công việc có phần thuận lợi. Các kết quả nghiên cứu về
loài bọ xít bắt mồi (BXBM) phải kể đến những công trình nghiên cứu về
thành phần loài có liên quan tới khu hệ BXBM ở vùng Đông Phương - Ấn
Độ và các nước lân cận với Việt Nam mà điển hình là những nghiên cứu

11
của các tác giả Ấn Độ như Distant (1904, 1910) [50, 51] đã mô tả và phân
loại hình thái 422 loài bọ xít bắt mồi, trong đó 322 loài thuộc họ bọ xít ăn
sâu Reduviidae.
Ở Đông Dương, Vitalis (1919) [84] đã công bố 14 loài BXBM bao gồm
họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ
Pentatomidae có 2 loài thuộc giống Cazira và Dalpada.
Dẫn theo Price (1975) [78] ở Trung Quốc cho đến năm 1971, đã ghi
nhận được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ
xít bắt mồi.

Các công trình nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi ở một
số nước khác trên thế giới cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như: China
and Miler., (1955) [47] đã ghi nhận 56 loài bọ xít ăn sâu thuộc họ Reduviidae
ở Anh và xây dựng khóa định tên cho các loài này.
Ishikawa Tadashi et al., (2005) [58] công bố 6 loài bọ xít bắt mồi thuộc
họ Reduviidae lần đầu tiên phát hiện ở Nhật Bản đó là: Ploiaria zhengi Cai &
Yiliyar, 2002 (Emesinae), Peirates atromaculatus (Stồl, 1871) (Peiratinae),
Caunus noctulus Hsiao, 1977, Oncocephalus impudicus Reuter, 1882,
Sastrapada robustoides P. V. Putshkov, 1987 (Stenopodainae) và Coranus
spiniscutis Reuter, 1881 (Harpactorinae).
1.2.1.2. Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của một số các loài
BXBM
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài BXBM đầu tiên
phải kể đến nghiên cứu của Distant (1910) [51] mô tả hình thái của 322 loài
thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, trong đó trưởng thành của 2 loài Coranus
fuscipennis Reuter, Coranus spiniscutis Reuter được mô tả chi tiết.

13
Miller (1956) [71] đã đưa ra một số dẫn liệu về đặc điểm hình thái
pha trưởng thành của 41 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ bọ xít ăn sâu
Reduviidae, 4 loài thuộc họ bọ xít giả ăn sâu Nabidae, 1 loài thuộc họ bọ
xít đo nước Hydrometridae. Đồng thời chỉ rõ hình thái trứng của các loài
này, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho 24 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ
Reduviidae. Hình thái của thiếu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 4 của 7 loài bọ xít
thuộc họ này cũng đã được tác giả mô tả (Dẫn theo Trương Xuân Lam,
2002a) [16].
Vennison and Ambrose., (1990) [83] cho thấy các loài BXBM thuộc
họ Reduviidae thường đẻ trứng tập trung, cấu tạo như hình giỏ cua với nắp
giỏ có tua vươn ra. Dựa vào hình thái trứng, tác giả cũng đã xây dựng khóa
định loại cho các loài thuộc 3 giống trong đó có các loài thuộc giống

đến 8 ổ trứng, số trứng/ổ giao động từ 16 đến 71 quả, trung bình 41,2 trứng/ổ.
Javadi et al., (2005) [61] cho biết với thức ăn là loài sâu hại Chilo
suppressalis trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 23,18 ± 1
o
C, ẩm độ
92,57 ± 2% một con cái của loài Andrallus spinidens đẻ 241,66 ± 30,40
quả trứng.
Singh et al., (1989) [82] chỉ rõ một BXNVT cái đẻ 288 - 562 quả trứng
gồm 5 - 9 ổ, trung bình 34 - 87 quả trứng/ổ.
Theo Hideo Uematse (2006) [54] nuôi BXNVT ở nhiệt độ là 25°C,
nuôi theo nhóm 10 cá thể/hộp và thức ăn là ấu trùng tuổi 3 đến tuổi 5 của sâu
khoang Spodoptera litura. Kết quả cho thấy cứ 2 - 3 ngày BXNVT lại đẻ tiếp
1 ổ trứng, trung bình có 75,4 quả trứng/ổ và tổng số 499 trứng/1 con cái. Như
vậy với nhiệt độ nuôi khác nhau, con mồi và số cá thể/hộp nuôi khác nhau, sức
sinh sản của BXNVT nói riêng và BXBM nói chung khác nhau.
Amaral Filho et al., (1995) [44] đã nghiên cứu vòng đời của loài bọ xít
bắt mồi Apiomerus lanipes trong điều kiện phòng thí nghiệm ở Brazil (nhiệt
độ 26,25
o
C, ẩm độ 77,07%). Kết quả cho thấy, vòng đời của loài bọ xít bắt
mồi này trung bình 294,85 ngày, thời gian phát dục ở giai đoạn thiếu trùng
trung bình 260,02 ngày với thức ăn là trưởng thành của loài ruồi dấm
Drosophilla sp. và loài Ceratitis capitata.

15
Gupta et al., ( 2004) [53] nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
loài bọ xít ăn sâu Zygogramma bicolorata cho thấy trong điều kiện phòng
thí nghiệm (nhiệt độ 26
o
C, ẩm độ 78%) vòng đời của loài bọ xít bắt mồi

Geetha et al., (1992) [52] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
của loài bọ xít mù xanh bắt mồi Cyrtorhinus lividipennis (Reuter) trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status