ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Trần Đông Anh NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA MỘT SỐ ĐẠI DIỆN THUỘC HỌ NẤM TÁN PLUTEACEAE
Ở MỘT SỐ VÙNG SINH THÁI CHÍNH CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Mã số: 60 42 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TSKH. TRỊNH TAM KIỆT
Hà Nội - 2013 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Đặc điểm chung của nấm lớn
21
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
24
3.1. Thu thập mẫu nấm thuộc họ Nấm tán Pluteaceae ở một số vùng sinh thái
chính của Việt Nam
24
3.2. Thành phần loài nấm thuộc họ Nấm tán Pluteaceae của Việt Nam và một
số đặc điểm sinh học của chúng
24
3.2.1. Danh lục các loài nấm đã ghi nhận
24
3.2.2. Một số đặc điểm hình thái và hiển vi của các loài nấm đã ghi nhận
27
3.2.3. Đặc điểm sinh thái của các loài đã được ghi nhận
31
3.2.4. Ý nghĩa thực tiễn của các loài nấm họ Pluteaceae của Việt Nam
31
3.3. Mô tả đặc điểm hình thái và hiển vi của các loài đã ghi nhận
32
3.4. Nghiên cứu sự mọc và sự hình thành bào tử của một số chủng Volvariella
volvacea
47
3.4.1. Trong nuôi cấy thuần khiết
47
3.4.2. Nuôi trồng trên giá thể
53
3.4.3. Nghiên cứu sợi nấm các chủng Volvariella volvacea
55
3.4.4. Nghiên cứu sự hình thành bào tử nấm của các chủng Volvariella
DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH
Trang
Hình 1.1. Chu kỳ sống của nấm rơm
15
Hình 3.1. Mũ và phiến nấm Pluteus ephebeus
27
Hình 3.2. Mũ và phiến nấm Pluteus plautus
27
Hình 3.3. Mũ và phiến nấm Pluteus leoninus
27
Hình 3.4. Liệt bào Pluteus ephebeus
28
Hình 3.5. Liệt bào Pluteus plautus
28
Hình 3.6. Bào tử đảm Pluteus plautus trên kính hiển vi thường và kính hiển vi
điện tử quét
28
Hình 3.7. Bào tử đảm Pluteus ephebeus
28
Hình 3.8. Bào tử đảm Pluteus leoninus
29
Hình 3.9. Mũ và phiến nấm Volvariella volvacea
29
Hình 3.10. Mũ và phiến nấm Volvariella murinella
29
Hình 3.11. Bao gốc ở Volvariella volvacea
30
Hình 3.12. Bao gốc ở Volvariella murinella
Hình 3.27. Quả thể và bào tử đảm Pluteus ephebeus
45
Hình 3.28. Quả thể Pluteus tomentosulus
46
Hình 3.29. Quả thể Pluteus sp.
47
Hình 3.30. Hệ sợi các chủng nấm trên môi trường nuôi cấy thuần khiết ở 25
o
C.
47
Hình 3.31. Đồ thị so sánh tốc độ mọc của các chủng nấm ở 25
o
C
48
Hình 3.32. Hệ sợi các chủng nấm trên môi trường nuôi cấy thuần khiết ở 30
o
C.
50
Hình 3.33. Đồ thị so sánh tốc độ mọc của các chủng nấm ở 30
o
C
51
Hình 3.34. Hệ sợi các chủng nấm trên môi trường nuôi cấy thuần khiết ở 35
o
C.
51
Hình 3.35. Đồ thị so sánh tốc độ mọc của các chủng nấm ở 35
o
C
52
năng của hệ sinh thái. Nấm hình thành đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất (phân
hủy gỗ, thân và là cây, xác côn trùng, …), tăng cường sự mọc cho cây và lựa chọn
cây từ môi trường của chúng. Chúng gây ngộ độc chúng ta, ký sinh trên cơ thể ta
nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và nhiều bệnh hiểm
nghèo cho chúng ta. Chúng phá hoại mùa màng, nhà cửa, các thiết bị quý và cả
sách vở trong thư viện, tranh trong bảo tàng … nhưng cũng sản sinh ra các sản
phẩm sinh hóa quý giá như rượu, bia, đồ uống, các chất kháng sinh và các chất có
hoạt tính sinh học. Chính vì thế, về cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, việc
đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng được đẩy mạnh ở
nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển.
Giới Nấm (Fungi) có số lượng loài lớn, bao gồm 97861 loài, 8283 chi (và
gần 5101 synonym), 560 họ, 140 bộ, 36 lớp đã được mô tả [45] và ước tính số
lượng loài có thể lên tới 1,5 triệu [37] bên cạnh giới Thực vật (Plantae), Động vật
(Animalia), Vi khuẩn (Bacteria). Số lượng loài nấm lớn (Marcrofungi) có quả thể
nhìn thấy bằng mắt thường khoảng 14 nghìn loài và có thể lên tới 22 nghìn loài
[37].
Trong số các loài nấm lớn, họ nấm tán Pluteaceae được biết đến gồm các loài
nấm có kích thước nhỏ đến trung bình, có phiến đính tự do và bào tử màu hồng.
Họ Pluteaceae bao gồm 4 chi trong đó 2 chi Volvariella và Pluteus có phân bố
rộng rãi, 1 chi hiếm gặp là Chamaeota và chi Volvopluteus mới được mô tả năm
2011 dựa trên các kết quả của các phân tích về sinh học phân tử còn chưa được
dẫn ra trong từ điển Nấm của Kirk và các tác giả khác [41]. Trong các loài trong
họ này, loài Volvariella volvacea được chú ý hơn cả bởi giá trị dược liệu và giá trị
thực phẩm của nó, loài này có khu phân bố rộng rãi và cho phép nuôi trồng chủ
động với số lượng ngày càng lớn nên có ý nghĩa kinh tế cao.
Việc nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc họ Pluteaceae ở nước ta hầu như
mới chỉ ở mức độ nêu lên danh lục một số loài gặp trong tự nhiên [20]; các đặc
điểm sinh học mới chỉ tiến hành chủ yếu ở loài Volvariella volvacea. Như vậy, nhìn
chung cho tới nay chưa có chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn
thức, 8283 chi (và gần 5101 synonym), 560 họ, 140 bộ, 36 lớp đã được mô tả.
Ngoài ra còn 1083 loài nấm nguyên sinh động vật, 103 chi, 26 họ, 9 bộ, 5 lớp; 1033
loài nấm tảo, 124 chi, 29 họ, 16 bộ, 3 lớp [45]. Chúng là những cơ thể hoại sinh,
cộng sinh hay ký sinh trên các sinh vật khác và ngay cả trên nấm (hyperparasit);
phân bố trên toàn thế giới [27].
Nấm lớn (Macro Fungi) bao gồm những nấm có thể sinh bào tử (thường được
gọi là quả thể) đạt kích thước lớn hơn 4 mm trở lên, dù chúng thuộc taxon phân loại
nào. Nấm lớn không phải là những “nấm bậc cao” hay “nấm thượng đẳng” như một
số tác giả quan niệm, vì có nhiều loại nấm ở những bậc taxon thấp lại có quả thể lớn
tới vài centimét, và ngược lại rất nhiều loại nấm bậc cao không hình thành quả thể
hay có quả thể rất bé. Theo quan niệm ấy, nấm lớn bao gồm những nấm nhày có
kích thước lớn của Myxomycetes, một số nấm có quả thể phôi thai của họ
Endogonaceae trong Zygomycetes, một số đáng kể nấm nang có nang quả dạng
chén, dạng đĩa, dạng củ của Discomycetes cũng như nang quả dạng chai nằm sâu
trong mô của Pyrenomycetes và tuyệt đại đa số nấm đảm trừ nấm rỉ, nấm than, nấm
chưa hoàn chỉnh. Chúng bao gồm những nấm mà ta quen gọi là “nấm”. Nấm lớn có
số lượng loài lớn. Châu Âu có khoảng 6000 loài đã được mô tả. Ở Nhật Bản có
khoảng hơn 3000 loài, Trung Quốc có khoảng 8000 loài. Trữ lượng của nấm còn
chưa có những số liệu đầy đủ. Mặc dù vậy, chỉ tính riêng nấm ăn được, sản lượng
hàng năm thu được trên toàn thế giới cũng đã lên đến khoảng 7 triệu [27].
Phát sinh cá thể của nấm lớn
Các nhóm nấm lớn khác nhau trải qua sự phát triển cá thể khác nhau và có
thành phần cấu trúc quả thể khác nhau.
Nấm nhày chính thức Myxomycetes: bào tử khi gặp điều kiện thuận lợi nảy
mầm cho amíp nhày hay thể nhày chuyển động bằng roi. Chúng có thể kết hợp với
nhau từng đôi một hoặc rụng tiên mao, phân chia cho hàng loạt amíp nhày rồi mới
diễn ra sự trao đổi nguyên sinh chất (plasmogamie) và quá trình hạch giao
(caryogamie). Sau đó, diễn ra sự phân chia có tơ hình thành thể nhày nhiều nhân 2n.
Các thể nhày nhiều nhân cũng có thể kết hợp thêm những thể nhày nhỏ khác. Khi
sợi song hạch. Ở phần lớn các loài, tế bào mọc ra một khuỷu – thường gọi là khoá
(cầu nối) giữa hai nhân khác tính. Sau đó cả hai nhân đều phân chia để cho 4 nhân
con, một nhân đi vào nhánh, một nhân ở lại gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu
của sợi. Tiếp sau đó khuỷu cong xuống, hoà tan màng, đổ nội chất và nhân vào tế
bào gốc, đồng thời xuất hiện vách ngăn với tế bào đỉnh. Kết quả là hình thành nên
tế bào song hạch mới, tế bào dưới tế bào đỉnh lại trở nên song hạch và vết tích còn
lại như chiếc cầu của ổ khoá nên được gọi là khoá hay cấu nối, móc nối. Quá trình
song hạch hoá còn diễn ra theo một vài cách khác mà không tạo thành khoá như
trên.
Sợi song hạch được tạo thành có khả năng sinh trưởng vô hạn và hầu như
chiếm toàn bộ đời sống của nấm. Trong những điều kiện nhất định, sợi song hạch
bện kết lại tạo nên quả thể nấm với hình dạng, kích thước và cấu trúc đa dạng. Sau
đó, trên quả thể hình thành nên lớp sinh sản, tạo nên chủ yếu do các tế bào song
hạch hữu thụ là mẹ của đảm và đôi khi có cả các tế bào bất thụ như dạng giá, liệt
bào sắp xếp theo dạng bờ rào. Tế bào mẹ của đảm tăng kích thước, chứa chất
nguyên sinh, thường có dạng chuỳ chuyển thành đảm non và diễn ra sự giao phối
hai nhân khác tính. Tiếp sau đó diễn ra sự phân chia hai lần, trong đó có một lần
giảm nhiễm để cho 4 nhân con. Lúc này, ở phần đỉnh của giá mọc ra 4 mấu lồi, nội
chất cũng như nhân từng chiếc một đi qua mấu lồi, hình thành nên 4 đảm bào tử
ngoại sinh bằng cách nảy chồi phình lên và thắt dần lại. Bào tử chín, được phát tán
một cách chủ động vào không gian và lặp lại chu trình sống [27].
1.2. Lƣợc sử nghiên cứu Nấm lớn trên thế giới
Nấm được xem là sinh vật có kích thước hệ sợi lớn nhất trên hành tinh chúng
ta (ở Armillaria bulbosa hệ sợi lan rộng tới 15ha, trọng lượng ước tính 10 tấn, thời
gian tới 1.500 tuổi) và có giá trị to lớn trong đời sống con người từ xa xưa [57].
Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều
công trình nổi tiếng của Patouillard [64,65,66,67,68,69]. Vào đầu thế kỷ XX, Nấm
học phát triển rực rỡ, trở thành một ngành khoa học thực sự [12]. Nhiều công trình
nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Trong một
bảo can (bảo vệ gan), cường tâm (mạch tim), kiện vị (giúp tiêu hoá ở dạ dày),
cường phế (giúp phổi), giải độc, giải cảm và giúp con người sống lâu, tăng tuổi thọ.
Trong thời kỳ Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX, một số công trình nghiên cứu
Nấm ở Việt Nam đã được công bố, trong số đó, phải kể đến những công trình của
Patouillard N. nghiên cứu khu hệ nấm ở Đông Dương “Contribution à la flore
mycologique du Tonkin”; nghiên cứu khu hệ nấm ở Việt Nam và Lào “Nouvelle
contribution à la flore mycologique de l’Annam et du Laos”, ông đã công bố 178
loài nấm ở Việt Nam [64,65,66,67,68,69].
Năm 1914, Hariot P. & Patouillard N. công bố công trình “Champignons
recueillies dans l' Annam par M. Eberhardt” [62]. Ngoài ra còn có một số nhà Nấm
học khác cũng nghiên cứu nấm lớn ở Việt Nam như Roger, Petelot, Eberhardt, ;
Heim R., Maleneon G. đã công bố công trình “Champignons du Tonkin recuellies
par M. V. Demange” [63], Joly P. với công trình “Elements de la flore mycologique
du Vietnam” đã định loại 20 loài thuộc chi Xylaria [60].
Ở miền Bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm được bắt đầu vào năm 1954 tại
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Trịnh
Tam Kiệt với đề tài “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở
một số vùng miền Bắc Việt Nam” [5]; P. Joly công bố các yếu tố khu hệ nấm Việt
Nam “Elément de la flore mycologique du Vietnam” [60]; Trịnh Tam Kiệt đã công
bố 348 loài thuộc khu hệ nấm lớn vùng Đông Bắc Tam Đảo [6] .
Bước sang thập niên 70, việc nghiên cứu nấm lớn đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể, tiêu biểu là các công trình của Trịnh Tam Kiệt: “Đặc điểm khu hệ nấm
lớn ở miền Bắc Việt Nam” - “Einige charakteristika der Grosspilzflora Nord -
Vietnams” [71]; “Những yếu tố hình thành khu hệ nấm lớn ở miền Bắc Việt Nam
và các nhóm sinh thái của chúng” [7]; cũng trong năm 1977, tác giả công bố tiếp
công trình “Góp phần nghiên cứu hệ nấm Heterobasidiomycetidae ở Việt Nam” [9]
và năm 1978 công trình “Đặc điểm khu hệ nấm phá gỗ, tre ở Việt Nam” [8] trong
đó đã giới thiệu 400 loài nấm sống trên gỗ. Từ các kết quả trên, tác giả đã tổng kết
“Đặc điểm khu hệ nấm lớn sống trên gỗ và tre của Việt Nam” [10]. Tính đến năm
trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất tự nhiên ở nấm lớn Việt Nam đã được
xác định cho khoa học [17].
Tại hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có nhiều báo cáo như:
Phan Huy Dục báo cáo “Nấm lớn (Macromyces) ở vườn Quốc gia Tam Đảo Vĩnh
Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes [3]; Trịnh
Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo “Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt
Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ
Việt Nam [18]. Cùng năm 2001, Trịnh Tam Kiệt công bố “Nghiên cứu chi
Wolfiporia Ryv. & Gilbin ở Việt Nam” [19]; Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt,
Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H. M, Hartl A. và Grafe U. đã công bố 7 hoạt chất
mới nhóm Triterpenoid: Colossolactones A - G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma
colossum (Fr.) C. F. Baker được thu thập ở Thừa Thiên Huế [46].
Năm 2003, Ngô Anh với công trình “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở
Thừa Thiên Huế” đã xác định được 346 loài thuộc 134 chi nằm trong 3 ngành
Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota [1].
Năm 2004, Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo trong một số công trình:
“Nghiên cứu dưới chi Elfvingia và chi Tomophagus ở Việt Nam” đã xác định được
13 loài thuộc dưới chi Elfvigia và 1 loài thuộc chi Tomophagus; “Nghiên cứu chi
Phellinus ở Việt Nam” đã xác định 22 loài thuộc chi Phellinus và 1 loài thuộc chi
Phylloporia; “Nghiên cứu thành phần loài nấm đa niên thuộc họ Coriolaceae” đã
công bố 17 loài trong 8 chi [21].
Tiếp đó, đến năm 2008, Trịnh Tam Kiệt với công trình “Poisonous
mushrooms of Vietnam” [44]; Trịnh Tam Kiệt và Trịnh Tam Bảo với công bố
“Thành phần loài nấm dược liệu của Việt Nam” [24]; Trịnh Tam Kiệt và Phan Văn
Hợp với công bố “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của chi nấm ly
của Việt Nam” [25]; Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt với công bố “Nghiên cứu thành
phần loài nấm Mộc nhĩ Auricularia của Việt Nam” [31]; Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam
Kiệt “Nghiên cứu thành phần loài nấm Ngân nhĩ Tremella của Việt Nam” [32].
Năm 2010, Trịnh Tam Kiệt công bố “Hệ thống của nấm tới các taxon lớn theo
Trong họ Pluteaceae, Pluteus là một chi lớn của nấm với hơn 100 loài. Chúng
sống trên gỗ mục hay chủ yếu trên gỗ mục với bụi bào tử màu hồng và các phiến
đính tự do; không có bao gốc hay vòng nấm (ngoại trừ loài hiếm gặp ở Bắc Mỹ mới
được phân loại gần đây là Pluteus mammillatus và trước đó là Chamaeota
sphaerospora). Dưới kính hiển vi, có thể quan sát thấy nhiều dạng liệt bào khác
nhau; các bào tử thường có dạng hình trứng, bề mặt nhẵn hay gồ ghề. Chi này được
tách biệt với chi Volvariella bởi chúng không có bao gốc và khác với chi Entoloma
bởi chúng sống trên gỗ và đặc trưng của bào tử (chi Entoloma có bào tử hình đa
giác) [75].
Volvariella là chi nấm với phiến và bụi bào tử màu hồng. Chúng không có
vòng và có bao gốc ở cuống giống như chi Amanita. Một vài loài của chi Amanita
nhìn rất giống Volvariella nhưng khác biệt ở chỗ Amanita có bào tử màu trắng và
thường có vòng. Khi còn non các phiến của Volvariella cũng màu trắng do đó
chúng rất dễ bị nhầm với Amanita. Chi này ước tính có khoảng 50 loài. Nhiều
nghiên cứu trước đây đều chỉ ra Volvariella là một chi thuộc họ Pluteaceae, nhưng
những nghiên cứu về ADN gần đây đã tiết lộ ra rằng Pluteus và Volvariella tách
biệt nhau về mặt tiến hóa và có sự khác biệt rất lớn về AND. Những nghiên cứu này
đã chỉ ra rằng Volvariella có quan hệ rất gần với các loài nấm "schizophylloid" như
Schizophyllum commune. Một số loài Volvariella là những loài nấm ăn phổ biến ở
Châu Âu, chiếm 16% tổng sản lượng nấm nuôi trồng trên thế giới [76].
Chamaeota là một chi thuộc họ Pluteaceae với kích thước nhỏ đến trung bình.
Chúng có cuống đính giữa; phiến tự do; bào tử nhẵn, màu hồng và có một lớp màng
hình thành nên vòng trên cuống. Chamaeota có thể phân biệt được với Volvariella ở
chỗ chúng không có bao gốc và khác với Entoloma ở phiến tự do và bào tử nhẵn.
Các loài của chi Chamaeota rất hiếm gặp, hầu hết đều là loài nhiệt đới nhưng có ít
nhất hai loài được phát hiện ở Hoa Kỳ [77].
Volvopluteus là chi mới được định nghĩa năm 2011 từ những kết quả phân tích
về phân tử [78].
Bên cạnh những nghiên cứu về nấm nói chung, những nghiên cứu về họ
thuộc chi Volvariella ở Iberian Peninsula và các đảo Balearic [39].
Năm 2011 có một số công trình tiêu biểu như “Species recognition in Pluteus
and Volvopluteus (Pluteaceae, Agaricales): morphology, geography and phylogeny”
của Justo A. và cộng sự đã nghiên cứu cây phát sinh chủng loại của 185 loài thuộc
chi Pluteus và Volvopluteus ở Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ [Justo
A. (2011)]; Dutta A. K. và cộng sự với công trình “Volvariella of West Bengal,
India I.” đã đưa ra khóa phân loại và mô tả 3 loài thuộc chi Volvariella ở phía Tây
của vịnh Bengal [36]. Năm 2012, Trần Đông Anh, Trịnh Tam Kiệt công bố công
trình “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số đại diện thuộc
họ nấm tán Pluteaceae” đã chỉ ra 24 loài nấm thuộc họ nấm Pluteaceae ở Việt Nam
trong đó có 16 loài thuộc chi Pluteus và 8 loài thuộc chi Volvariella đồng thời cũng
chỉ ra 8 loài nấm thuộc họ này là mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam [2].
* Đặc tính sinh học của Nấm rơm Volvariella volvacea
Trong các loài thuộc họ Pluteaceae, loài nấm rơm Volvariella volvacea được
xem là loài có ý nghĩa kinh tế và ứng dụng trong thực tiễn hơn cả. Nấm rơm là loài
đồng tản sơ cấp, chu kỳ sống được bắt đầu từ khi quả thể trưởng thành, phóng thích
bào tử đảm vào không khí và được phát tán nhờ các yếu tố khác nhau của môi
trường (hình 1.1). Gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm), bào tử đảm nảy mầm,
cho ống mầm đạt chiều dài nhất định thì phân nhánh tạo thành hệ sợi đơn bội
(haploid). Các sợi đơn bội này có thể kết hợp với nhau để tạo nên sợi song hạch tuy
không có khoá (móc nối) được hình thành. Cả hai loại sợi đơn bội và song hạch đều
có khả năng hình thành bào tử màng dày nhiều nhân màu nâu hồng (hậu bào tử),
hậu bào tử gặp điều kiện thuận lợi lại nảy mầm cho ra hệ sợi đơn bội hay hệ sợi
song hạch. Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt phần lớn các bào tử đảm của nấm rơm là
các bào tử hữu thụ (75%), tức là từ một đơn bào tử nảy mầm cho ra ống mầm, rồi tự
diễn ra quá trình song hạch hoá để hoàn thành vòng đời mà không cần có sự kết hợp
hệ sợi đơn bội của hai bào tử khác tính, nghĩa là hai tế bào khác tính trên cùng một
sợi nấm giao phối nhau; số còn lại (khoảng 25%) là các bào tử bất thụ, không có
khả năng tự hoàn thành vòng đời mà cần phải có sự kết hợp của hai đơn bào tử khác
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài nấm thuộc họ Pluteaceae thu thập ở một số
vùng sinh thái của Việt Nam.
Để có nguyên liệu nuôi cấy tốt chúng tôi đã chọn những ống giống có cùng
ngày tuổi, cắt lấy hệ sợi ở mép colonie và nuôi cấy trên môi trường nghiên cứu. Các
chủng giống gốc hiện được lưu trữ tại Bộ mẫu Giống gốc Nấm của Phòng Công
nghệ Giống gốc Nấm - Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học - ĐHQGHN.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Việc thu thập mẫu được tiến hành chủ yếu tại Hà Nội và các tỉnh kế cận trong
đó bao gồm các vườn Quốc gia Ba Vì, Tam Đảo, Cúc Phương; vùng đồi bán sơn địa
và vùng đồng bằng.
Mẫu được xử lý, nghiên cứu đặc điểm sinh học, bảo quản và lưu trữ tại
Phòng Công nghệ giống gốc nấm - Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học - Đại
học Quốc Gia Hà Nội.
2.1.3. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập mẫu ngoài thiên nhiên, xử lý các mẫu thu được, xây dựng bách
thảo, phân lập thuần khiết một số chủng có khả năng ứng dụng.
- Phân tích đặc điểm hình thái và hiển vi nhằm xác định thành phần loài nấm
đã thu thập được.
- Nghiên cứu sự mọc của sợi và sự hình thành bào tử của một số loài quan
trọng trên môi trường nuôi cấy thuần khiết và trên giá thể.
2.1.4. Thiết bị nghiên cứu
- Dụng cụ để thu mẫu ngoài thực địa: túi thu mẫu, nhãn, rìu nhỏ cầm tay, bút
chì, sổ ghi chép, dao nhọn cứng, túi giấy, kính lúp cầm tay, giấy báo và máy ảnh.
- Dụng cụ để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Kính hiển vi Graf – Apsco,
kính hiển vi Olympus CH - 40, Kính hiển vi chụp ảnh Olympus Model CHT, kính
lúp cầm tay, kính lúp 2 mắt Bauch Lomb, kính hiển vi điện tử với độ phóng đại
1000 cho đến 160000, máy ảnh điện tử, máy ảnh Pentax.
- Hoá chất:
Sau đó gói nấm lại. Dùng giấy báo gói lại thành dạng phễu, đặt phần cuống
nấm xuống đáy phễu còn mũ nấm ở phía trên. Mỗi mẫu nấm được gói riêng, không
để lẫn hay gói lẫn những mẫu nấm, nhất là những loài khác nhau, tránh bào tử nấm
sẽ lẫn lộn nhau. Những nấm có kích thước nhỏ, dễ gãy vỡ được đựng riêng trong
các lọ nhỏ, hộp nhựa, hộp đựng phim Không dùng túi ni lông để đựng mẫu vì nó
không thoát khí và hơi nước, tạo điều kiện thuận lợi cho mốc và vi khuẩn phát triển.
Điều tra trong nhân dân để biết thêm giá trị sử dụng, cũng như tác hại của một số
loài nấm.
2.2.2. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật
Mẫu lấy được bảo quản nơi thoáng mát. Nếu giấy bọc bị bẩn hay ướt thì được
thay thế, mô tả, ghi chép tiếp những đặc điểm của nấm vào phiếu điều tra: kích
thước, hình dạng, màu sắc, các đặc điểm của mặt mũ, mép mũ, bào thể, bụi bào tử,
cuống nấm, thịt nấm Những mẫu chưa phân tích được và đủ tiêu chuẩn thì cần
tiến hành làm bách thảo nấm (bách thảo khô, bách thảo ngâm, bách thảo nuôi
trồng).
Bách thảo khô: nấm được phơi khô tự nhiên dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy
khô từ từ bằng đốt than củi, bếp điện hay tủ điện ở nhiệt độ 60 - 80
o
C để tránh bị
biến dạng và thay đổi màu sắc nhiều. Phòng thí nghiệm có phương tiện hiện đại,
mẫu có thể được làm khô theo phương pháp khô lạnh ở nhiệt độ và áp suất thấp
trong tủ lạnh, phòng có nhiệt độ thấp, có bơm hút không khí ẩm nên rất ít biến dạng
và giữ nguyên màu sắc.
Nấm được xếp lên phên đan hay lưới thép mắt cáo có gờ xung quanh treo lên
trên nguồn nhiệt. Đối với những nấm nạc có kích thước lớn có thể chẻ đôi hoặc bổ
ra làm nhiều lát mỏng hơn để sấy cho chóng khô. Nấm có thể xếp giữa các lớp giấy
bản, giấy báo, lót và phủ vải mịn rồi ép và sấy khô từ từ và thay giấy để hút bớt độ