MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Lược sử nghiên cứu Nấm trên thế giới
3
1.2. Tình hình nghiên cứu Nấm ở Việt Nam
5
1.3. Tình hình nghiên cứu và đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae
10
1.3.1. Tình hình nghiên cứu họ nấm Xylariaceae
10
1.3.2. Đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae
11
1.4. Một vài đặc điểm về vườn Quốc gia Ba Vì
16
Chƣơng 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
19
2.2. Đối tượng nghiên cứu
19
2.3. Địa điểm nghiên cứu
19
3.2.1. Danh lục các loài nấm đã ghi nhận
27
3.2.2. Một số đặc điểm hình thái và hiển vi của các loài nấm đã ghi nhận
29
3.2.3. Đặc điểm sinh thái của các loài đã được ghi nhận
32
3.2.4. Ý nghĩa thực tiễn của các loài nấm họ Xylariaceae ở vườn Quốc gia
Ba Vì – Hà Nội
33
3.3. Mô tả đặc điểm hình thái và hiển vi của các loài thu thập được
33
3.4. Nghiên cứu sự mọc và sự hình thành quả thể của một số chủng nấm
thuộc họ Xylariaceae
52
3.4.1. Sự hình thành sợi nấm trong nuôi cấy thuần khiết trên môi trường
thạch
52
3.4.2. Sự hình thành quả thể của nấm trong nuôi cấy thuần khiết trên môi
trường thạch
58
3.4.3. Sự mọc của nấm trong nuôi cấy trên giá thể
63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
68
1. Kết luận
68
2. Kiến nghị
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
69
hiện được hết mức độ đa dạng thực tế tại những vùng miền có đặc điểm khí
hậu nhiệt đới, thuận lợi cho nấm phát triển như ở Việt Nam.
2
Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa với điều kiện sinh thái rất
thích hợp để khu hệ nấm phát triển phong phú, đa dạng. Tuy nhiên tại Việt
Nam, bên cạnh các nghiên cứu về đa dạng động - thực vật đã có lịch sử lâu dài
thì các nghiên cứu về đa dạng nấm còn rất lẻ tẻ và rời rạc, đặc biệt là các
nghiên cứu về nấm túi. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về đa dạng nấm
túi tại vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội, một địa chỉ mà theo đánh giá của các
chuyên gia là có tiềm năng lớn về đa dạng sinh học với nhiều nguồn gen quý
hiếm, cần được bảo tồn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng nấm túi nhằm
xác định thành phần loài, bổ sung cho danh mục khu hệ nấm Việt Nam, đánh
giá tính đa dạng sinh học, xác định loài mới, loài đặc hữu là rất cần thiết, có ý
nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn đa dạng sinh vật tại Việt Nam và trên thế giới.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của họ Xylariaceae ở
vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội".
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu nấm trên thế giới
Nấm được xem là sinh vật có kích thước hệ sợi lớn nhất trên hành tinh
chúng ta (ở Armillaria bulbosa hệ sợi lan rộng tới 15ha, trọng lượng ước tính 10
tấn, thời gian tới 1.500 tuổi) và có giá trị to lớn trong đời sống con người từ xa
chuẩn hiện đại như: các phản ứng hoá học, sự phân tính, hệ sợi nấm, kiểu gây
mục, đặc điểm nuôi cấy, mà đặc biệt là cấu trúc phân tử ADN đã mang lại
những kết quả chính xác hơn. Armes (1913) là người đầu tiên nhận thấy sợi nấm
rất quan trọng trong nghiên cứu nấm lỗ, sau đó Corner (1933) đã mô tả hệ sợi
nấm, từ đó các nhà Nấm học sử dụng sợi nấm là một tiêu chuẩn mới để phân
loại.
Bên cạnh phương pháp phân loại truyền thống dựa vào hình thái (morpho
- taxonomy), việc sử dụng các phương pháp phân loại dựa vào hoá học (chemo -
taxonomy) và gene (geno - taxonomy) đã loại bỏ được những nhầm lẫn khi phân
loại những loài có hình thái tương đồng. Một số công trình nghiên cứu dựa vào
cấu trúc phân tử ADN như Aime Catherine M. et all (2006) [35] với công trình
―An overview of the higher level classification of Puccinionmycotyna based on
combined analyses of nuclear large and small subunit rDNA Sequences‖ có độ
chính xác cao.
Những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài và hệ thống phân loại của
nấm túi thuộc họ Xylariaceae bắt đầu từ những năm 1863. Đến nay 95 chi trong
họ với 1354 loài, đã được các nhà khoa học kiểm chứng và công nhận.
Trong công bố về hệ thống phân loại nấm túi Ascomycetes năm 1993,
Eriksson và Hawksworth đã ghi nhận họ Xylariaceae có 38 chi. Đến năm 1996,
Whalley đã tổng hợp các nghiên cứu trước và công bố họ Xylariaceae có 41 chi.
Tiếp tục những nghiên cứu về hệ thống phân loại nấm túi họ Xylariaceae,
năm 2001, Kirk và cs đã công bố 48 chi được công nhận trong họ Xylariaceae.
Con số này được tăng lên 64 chi vào năm 2004. Đến năm 2006, trong công bố
tiếp theo của Eriksson và cs, họ Xylariaceae đã lên tới 73 chi. Gần đây nhất,
5
Lumbsch và Huhndorf đã hệ thống lại và xác định được 77 chi (2010) trong họ
nấm túi Xylariaceae. Như vậy với 18 chi mới được phát hiện và công nhận thì
Nấm ở Việt Nam đã được công bố, trong số đó, phải kể đến những công trình
của Patouillard N. (1890 - 1928), nghiên cứu khu hệ nấm ở Đông Dương
―Contribution à la flore mycologique du Tonkin‖ (1890, 1897); Nghiên cứu khu
hệ nấm ở Việt Nam và Lào ―Nouvelle contribution à la flore mycologique de
l’Annam et du Laos‖ (1928), ông đã công bố 178 loài nấm ở Việt Nam.
Năm 1914, Hariot P. & Patouillard N. (1914) [62] công bố công trình
―Champignons recueillies dans l' Annam par M. Eberhardt‖. Ngoài ra còn có
một số nhà Nấm học khác cũng nghiên cứu nấm lớn ở Việt Nam như Roger,
Petelot, Eberhardt, vào năm 1928; Heim R., Maleneon G. đã công bố công
trình ―Champignons du Tonkin recuellies par M. V. Demange‖.
Người Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm là Phạm
Hoàng Hộ (1953) với tác phẩm ―Cây cỏ miền Nam Việt Nam‖. Ở miền Nam
Việt Nam còn có một số tác giả khác nghiên cứu về nấm như Hoàng Thị Mỹ
(1966) trong công trình ―Luận khảo về các bệnh thường hại cây cối tại miền
Nam Việt Nam‖ đã mô tả 15 loài nấm phá hoại gỗ; Joly P. (1968) với công trình
―Elements de la flore mycologique du Vietnam‖ đã định loại 20 loài thuộc chi
Xylaria.
Ở miền Bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm được bắt đầu vào năm 1954
tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của
Nguyễn Văn Diễn (1965) đã mô tả 28 loài nấm ăn được và 10 loài nấm độc,
Trương Văn Năm (1965) ―Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở Lâm trường Hữu
Lũng‖; Trịnh Tam Kiệt với đề tài ―Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng
Hà Nội‖ (1965) và ―Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính
ở một số vùng miền Bắc Việt Nam‖ (1966) [5]; P. Joly (1968) công bố các yếu
tố khu hệ nấm Việt Nam ―Elément de la flore mycologique du Vietnam‖; Trịnh
Tam Kiệt (1970) [6] đã công bố 348 loài thuộc khu hệ nấm lớn vùng Đông Bắc
Tam Đảo.
Bước sang thập niên 70, việc nghiên cứu nấm lớn đã đạt được nhiều thành
8
―Nghiên cứu khu hệ nấm lớn (Macrofungi) ở Thừa Thiên Huế‖ với 272 loài nấm
lớn, trong đó 46 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [1]; Trịnh Tam
Kiệt (1998) danh lục khu hệ nấm lớn Việt Nam ―Preliminary checklist of
macrofungi of Vietnam‖ [43] với 837 loài nấm lớn ở Việt Nam đã được công bố
và cùng năm 1998, Trịnh Tam Kiệt công bố đặc điểm khu hệ nấm lớn Việt Nam
―Charakteristika der Grosspilzflora Vietnam‖.
Năm 2000, Nguyễn Thị Đức Huệ [4] đã công bố 134 loài nấm lớn ở Tây
Ninh, trong đó có 27 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn Việt Nam. Cùng
thời điểm này, tại Hội nghị Sinh học Quốc Gia, những vấn đề cơ bản trong
nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U. Grafe và J. Dorfelt [17] đã
công bố ―Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và các hợp chất tự nhiên
của khu hệ nấm lớn Việt Nam‖, trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của
khu hệ nấm lớn Việt Nam và thông báo về các hợp chất tự nhiên được nghiên
cứu ở 25 loài nấm lớn Việt Nam, trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất
tự nhiên ở nấm lớn Việt Nam đã được xác định cho khoa học.
Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có nhiều báo cáo như:
Phan Huy Dục báo cáo ―Nấm lớn (Macromyces) ở vườn Quốc gia Tam Đảo
Vĩnh Phúc‖ [3] công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và
Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo ―Các taxon mới ghi
nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng‖
công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam [18]. Cùng năm 2001, Trịnh Tam
Kiệt công bố ―Nghiên cứu chi Wolfiporia Ryv. & Gilbin ở Việt Nam‖ [19];
Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H. M, Hartl A.
và Grafe U. đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm Triterpenoid: Colossolactones A -
G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma colossum (Fr.) C. F. Baker được thu thập
ở Thừa Thiên Huế [46].
Việt Nam tập II (2012) và Nấm lớn ở Việt Nam tập III (2013) công bố hơn 1800
loài nấm lớn của Việt Nam có kèm theo mô tả và tài liệu dẫn cũng như ảnh màu
minh họa đã cung cấp những dữ liệu khá chi tiết về các loài nấm đã ghi nhận
10
được [27,28].
1.3. Tình hình nghiên cứu và đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae
1.3.1. Tình hình nghiên cứu họ nấm Xylariaceae
Nghiên cứu đa dạng nấm ở Việt Nam không phải là lĩnh vực mới. Tuy nhiên
những nghiên đã được tiến hành chủ yếu trên đối tượng nấm đảm. Các nghiên
cứu về nấm túi ở trong nước còn quá ít và lẻ tẻ. Trong danh lục nấm túi Việt
Nam (năm 2001) chỉ có 26 loài thuộc chi Xylaria được phát hiện và miêu tả.
Năm 2008, Vũ Thị Thanh Tâm đã nghiên cứu đa dạng nấm túi Xylaria tại rừng
nguyên sinh Mường Phăng 1 Điện Biên, đã xác định thêm được 5 loài ngoài
danh sách 26 loài đã công bố. Gần đây nhất, năm 2010, Ngô Anh và cs trong
nghiên cứu: "Đa dạng các taxon và yếu tố địa lý cấu thành khu hệ nấm lớn Thừa
Thiên Huế” đã bổ sung 5 loài Xylaria mới cho khu hệ nấm Việt Nam, đưa tổng số
loài Xylaria tại Việt Nam hiện biết là 36. Gần đây nhất có đề tài: "Bước đầu
nghiên cứu đa dạng nấm túi chi Xylaria ở rừng quốc gia Cúc Phương" được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Minh Lam — Bộ môn công
nghệ sinh học I Vi sinh, Khoa Sinh học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Gần đây nhất, trong cuốn "Nấm lớn ở Việt Nam" tập 2 năm 2012, Trịnh
Tam Kiệt đã thống kê họ Xylariaceae có 69 loài thuộc 13 chi.
Ngoài các nghiên cứu về thành phần loài nấm túi họ Xylariaceae, một
hướng nghiên cứu về thành phần các hợp chất từ thể quả của các loài nấm túi
Xylariaceae ở Việt Nam cũng đã được chú ý hơn. Năm 2006, Đặng Ngọc Quang
và cs đã tách chiết và xác định được 2 loại hợp chất mới cho khoa học từ thể quả
loài Xylaria intracolorata là coloratin A và coloratin B.
không hình thành quả thể hay có quả thể rất bé. Theo quan niệm ấy, nấm lớn bao
gồm những nấm nhày có kích thước lớn của Myxomecetes, một số nấm có quả
thể phôi thai của họ Endogonaceae trong Zygomycetes, một số đáng kể nấm
nang có nang quả dạng chén, dạng đĩa, dạng củ của Discomycetes cũng như
nang quả dạng chai nằm sâu trong mô của Pyrenomycetes và tuyệt đại đa số
nấm đảm trừ nấm rỉ, nấm than, nấm chưa hoàn chỉnh mà ta quen gọi là ―nấm‖.
Nấm lớn có số lượng loài lớn. Châu Âu có khoảng 6000 loài đã được mô tả. Ở
12
Nhật Bản có khoảng hơn 3000 loài, Trung Quốc có khoảng 8000 loài. Trữ lượng
của nấm còn chưa có những số liệu đầy đủ. Mặc dù vậy, chỉ tính riêng nấm ăn
được, sản lượng hàng năm thu được trên toàn thế giới cũng đã lên đến khoảng 7
triệu [27].
Các nhóm nấm lớn khác nhau trải qua sự phát triển cá thể khác nhau và có
thành phần cấu trúc quả thể khác nhau.
Nấm nhày chính thức Myxomycetes: bào tử khi gặp điều kiện thuận lợi nảy
mầm cho amíp nhày hay thể nhày chuyển động bằng roi. Chúng có thể kết hợp
với nhau từng đôi một hoặc rụng tiên mao, phân chia cho hàng loạt amíp nhày
rồi mới diễn ra sự trao đổi nguyên sinh chất (plasmogamie) và quá trình hạch
giao (caryogamie). Sau đó, diễn ra sự phân chia có tơ hình thành thể nhày nhiều
nhân 2n. Các thể nhày nhiều nhân cũng có thể kết hợp thêm những thể nhày nhỏ
khác. Khi già thể nhầy thường đặc quánh lại, bò ra trên mặt giá thể và hình
thành nên thể sinh bào tử đặc trưng cho từng loài. Tiếp ngay sau đó diễn ra quá
trình giảm nhiễm để hình thành bào tử, chúng được phát tán đi bằng thể tóc
chính thức hay thể tóc giả.
Chu trình sống của nấm nang Ascomycota: nang bào tử nảy mầm hình
thành nên hệ sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn. Ở nhiều Ascomycetes hình
thành conidie trong giai đoạn này và có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong một
nhân đều phân chia để cho 4 nhân con, một nhân đi vào nhánh, một nhân ở lại
gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu của sợi. Tiếp sau đó khuỷu cong xuống,
hoà tan màng, đổ nội chất và nhân vào tế bào gốc, đồng thời xuất hiện vách ngăn
với tế bào đỉnh. Kết quả là hình thành nên tế bào song hạch mới, tế bào dưới tế
bào đỉnh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cầu của ổ khoá nên
được gọi là khoá hay cấu nối, móc nối. Quá trình song hạch hoá còn diễn ra theo
một vài cách khác mà không tạo thành khoá như trên. Sợi song hạch được tạo
thành có khả năng sinh trưởng vô hạn và hầu như chiếm toàn bộ đời sống của
nấm. Trong những điều kiện nhất định, sợi song hạch bện kết lại tạo nên quả thể
nấm với hình dạng, kích thước và cấu trúc đa dạng. Sau đó, trên quả thể hình
thành nên lớp sinh sản, tạo nên chủ yếu do các tế bào song hạch hữu thụ là mẹ
14
của đảm và đôi khi có cả các tế bào bất thụ như dạng giá, liệt bào sắp xếp theo
dạng bờ rào. Tế bào mẹ của đảm tăng kích thước, chứa chất nguyên sinh, thường
có dạng chuỳ chuyển thành đảm non và diễn ra sự giao phối hai nhân khác tính.
Tiếp sau đó diễn ra sự phân chia hai lần, trong đó có một lần giảm nhiễm để cho
4 nhân con. Lúc này, ở phần đỉnh của giá mọc ra 4 mấu lồi, nội chất cũng như
nhân từng chiếc một đi qua mấu lồi, hình thành nên 4 đảm bào tử ngoại sinh
bằng cách nảy chồi phình lên và thắt dần lại. Bào tử chín, được phát tán một
cách chủ động vào không gian và lặp lại chu trình sống [27].
Xylariaceae có mặt khắp nơi trên thế giới đặc biệt là những vùng có khí
hậu ôn hòa và nhiệt đới. Phần lớn chúng được tìm thấy trên các bộ phận của
thực vật hạt Kín (gỗ, hạt, lá, quả ) và thực vật hạt Trần, số còn lại liên quan
đến các tổ côn trùng và tàn tích thực vật, phân, đất như các chi Hypocopra.
Poronia. Podosordarìa [12].
Hiện nay Xylariaceae được biết đến với vai trò phân hủy cellulose và
lignin, nhờ đó làm sạch 70 - 80% gỗ và lá rụng trong rừng. Như vậy
tâm rất nhiều trong định loại nấm túi. Hầu hết các nấm túi trong họ Xylariaceae
có vỏ thể quả mềm khi còn non và cứng, giòn dạng cacbon khi trưởng thành.
Lỗ miệng là cấu trúc nằm trên đỉnh của thể quả, là vị trí phóng thích bào tử
trưởng thành ra môi trường bên ngoài. Lỗ miệng của các loài trong họ
Xylariaceae có 3 dạng chính phụ thuộc vào vị trí so với bề mặt chất nền: dạng 1
có nhú cao hơn bề mặt chất nền, dạng này phổ biến ở các chi Annulohypoxylon,
Hypoxylon, Biscogniauxia, Kretzschmaria. Riêng chi Annulohypoxylon lỗ miệng
có một vùng phẳng hình đĩa bao quanh. Dạng 2: lỗ miệng có nhú bằng bề mặt
chất nền, dạng này gặp ở một số loài thuộc chi Hypoxylon, Biscogniauxia. Dạng
3: lỗ miệng thấp hơn bề mặt chất nền. Lỗ miệng cũng là một chỉ tiêu định loại
nấm túi, đặc biệt là phân biệt các loài trong chi Annulohypoxylon, Hypoxylon.
Túi bào tử là cơ quan sinh sản, có chức năng lưu giữ và bảo vệ các bào tử.
Túi bào tử có thể hình chùy, phổ biến là hình trụ. Trong mỗi túi đều có 8 bào tử.
Túi bào tử có một lớp vỏ mỏng, trong suốt, thường có cuống nhỏ.
Mô không sinh sản là sợi nấm vô tính. Chúng bắt nguồn từ gốc của các túi
16
trong quả thể, phân nhánh hoặc không phân nhánh, các sợi không hợp thành bó.
Bảo tử túi (Ascospores) của nấm Xylariaceae có thể đơn bào hay đa bào với
bề mặt nhẵn. Hình dạng bào tử thường là elip hoặc dạng trứng. màu sắc bào tử
thường dao động trong một khoảng lớn như màu nâu sáng, nâu đậm và nâu
đen
Xylaria là một chi có hình thái phức tạp và đa dạng trong họ Xylariaceae, bộ
Xylariales, lớp nấm túi, ngành nấm túi, giời nấm. Tên gọi này xuất phát từ tiếng
Hy Lạp Xylaria có nghĩa là gỗ.
* Đặc điểm về sự phân bố
Nhiều loài Xylaria được tìm thấy trên toàn thế giới. Xylaria được biết đến
là nguyên nhân chính gây thối rữa nhiều loài thực vật. Tuy nhiên quả, hạt, lá
mới chỉ còn là: 6.786ha.
Vườn Quốc gia Ba Vì:
+ Phía Bắc giáp các xã: Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh.
+ Phía Tây giáp các xã: Khánh Thượng, Minh Quang.
+ Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài
+ Phía Nam giáp huyện Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình
Vườn quốc gia Ba Vì được chia thành 2 phân khu chức năng sau:
- Phân khu bảo tồn nguyên vẹn: 2.140ha từ độ cao cốt 400m trở lên
- Phân khu phục hồi sinh thái: 4.646ha từ cốt100m đến cốt 400m
- Ngoài ra còn có khu vùng đệm dưới cốt 100m với tổng diện tích:
14.144ha bao gồm 7 xã vùng đệm trực thuộc tỉnh Hà Tây cũ quản lý.
Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi tiếp giáp với vùng bán
sơn địa. Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp nổi lên giữa vùng đồng bằng, có 3
đỉnh cao nhất là: Đỉnh Vua cao 1296m, đỉnh Tản Viên cao 1227m, đỉnh Ngọc
Hoa cao 1131m vì thế có tên gọi là núi Ba Vì. Ngoài ra còn có các đỉnh thấp hơn
như đỉnh Tiểu Đồng cao 1100m, Hang Hùm hay còn gọi là đỉnh chàng rể
(800m), Gia Dê (714m). Nói chung Ba Vì là một vùng núi khá dốc, sườn phía
Tây đổ xuống sông Đà dốc hơn sườn phía Tây Bắc và Đông Nam. Độ dốc của
khu vực trung bình 25
0
, từ cốt 400m trở lên dốc hơn, độ dốc trung bình 35
0
có
nhiều chỗ vách đá dốc dựng đứng, xung quanh núi Ba Vì là dải đồi thấp, lượn
sóng xen kẽ đồng ruộng. Dải phía Tây nằm giữa núi Ba Vì và sông Đà hẹp gồm
các đồi thấp và ruộng nước. Dải phía Bắc và phía Đông gồm các đồi lượn sóng,
địa thế thấp, thuận lợi để xây dựng các hồ nhân tạo như: Suối Hai, Đồng Mô-
Ngải Sơn.
- Theo tài liệu điều tra lập địa cấp I vùng phục hồi sinh thái xác định diện
tích ở các dạng lập địa như sau:
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính. Phiến thạch
sét và biến chất có độ dốc >35
0
(D
'
FK, D
'
F
S
): 523ha chiếm 11,2%.
+ Các loại đất hồ, thổ cư, đất lầy thụt: 91ha chiếm 1,9%
Vườn quốc gia Ba Vì với 3 kiểu rừng: Rừng kín thường xanh mưa ẩm á
nhiệt đới; rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới
và kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp. Núi Ba Vì với
2 đai cao nên hệ thực vật nơi đây khá phong phú và đa dạng, đã ghi nhận 812
loài thực vật bậc cao thuộc 99 họ, 472 chi. Nhiều loài cây quý hiếm như: bách
xanh (Calocedrus marcrolepis), thông tre (Podocarpus nerrifolius), sến mật, giổi
lá bạc, quyết thân gỗ, bát giác liên. Ở Vườn quốc gia cũng đã thống kê được 169
loài cây thuốc, đến năm 1992 đã ghi nhận 250 loài cây thuốc chữa nhiều bệnh. 19
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài nấm thuộc họ Xylariaceae ở vườn quốc gia Ba
2.5. Thiết bị nghiên cứu
- Dụng cụ để thu mẫu ngoài thực địa: túi thu mẫu, nhãn, rìu nhỏ cầm tay,
bút chì, sổ ghi chép, dao nhọn cứng, túi giấy, kính lúp cầm tay, giấy báo và máy
ảnh.
- Dụng cụ để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Kính hiển vi Graf –
Apsco, kính hiển vi Olympus CH - 40, Kính hiển vi chụp ảnh Olympus Model
CHT, kính lúp cầm tay, kính lúp 2 mắt Bauch Lomb, kính hiển vi điện tử với độ
phóng đại 1000 cho đến 160000, máy ảnh điện tử, máy ảnh Pentax.
- Hoá chất:
1. Dung dịch KOH - KOH : 2 – 5%
- Nước
2. Formalin
3. Naphthalene (băng phiến)
4. Agar
5. Glucose
2.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và định loại theo phương pháp của
Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012) [27,28].
2.6.1. Phương pháp thu mẫu
Để thu mẫu những nấm sống trên gỗ, trên cây chúng tôi dùng dao nhọn
đục, hoặc dùng rìu nạy, tách hay bổ chúng ra khỏi giá thể. Khi tách cần lấy cả
một phần nhỏ mẫu gỗ mà trên đó nấm sống.
Ghi chép các kiểu gây mục của nấm (trắng, nâu, hỗn hợp, mục vết thương,
mục rễ, mục màng, mục thối, mục tạo nên những khoang trống nhỏ, xốp ), ở
phần nào của cây (cưa ngang để quan sát, ghi chép), tên địa phương và tên khoa
21
học cây mà trên đó nấm mọc. Gặp nhiều mẫu nấm cần thu thập ở các giai đoạn
22
hiện đại, mẫu có thể được làm khô theo phương pháp khô lạnh ở nhiệt độ và áp
suất thấp trong tủ lạnh, phòng có nhiệt độ thấp, có bơm hút không khí ẩm nên rất
ít biến dạng và giữ nguyên màu sắc.
Những mẫu nấm sau khi đã được làm khô như trên vẫn rất dễ bị ẩm trở lại,
dễ bị các vi khuẩn, nấm mốc, cũng như côn trùng phá hoại, nhất là trong điều
kiện nhiệt đới. Cho nên các mẫu nấm sau khi đã sấy khô, cần được bọc trong
giấy bóng mờ hay để trong túi polyetylen có băng phiến hay xông hơi formalin,
ete Nhưng tốt nhất là tẩm trong dung dịch HgCl
2
, trong cồn như ở thực vật bậc
cao. Những mẫu trên được xếp vào hộp carton, hộp gỗ hay thùng kẽm đựng
mẫu, đậy kín và sắp xếp theo thứ tự quy định cho tập bách thảo khô.
Bách thảo ngâm: nấm được ngâm trong dung dịch formalin 4% hay cồn
pha loãng 30 – 50%, cũng có thể dùng dung dịch hỗn hợp (1/3 cồn, 1/3 formalin
và 1/3 glyxerin) để ngâm mẫu. Các dung dịch trên vẫn còn làm nấm cong queo,
biến dạng và thay đổi màu sắc nên gần đây người ta đã ứng dụng phương pháp
của Latz để chống lại hai hiện tượng trên, đó là trộn lẫn 25g sunfat kẽm, 10ml
formalin trong 1lít nước cất rồi ngâm nấm vào. Thông thường sau khi ngâm,
dung dịch trở nên vẩn đục, tuy nhiên sau 24 giờ quá trình này sẽ ngừng lại. Lúc
đó có thể gặn lọc dung dịch hay thay thế để có dung dịch trong suốt.
Để có những mẫu đẹp ở vị trí như ý muốn, dùng các miếng kính cắt vừa
bình thuỷ tinh, buộc toàn bộ hay từng nửa nấm bổ đôi, ngâm trong dung dịch có
nồng độ thích hợp, đậy kín nắp, gắn bằng parafin nung chảy. Phương pháp bách
thảo ngâm thường được ứng dụng với nấm quả thể chất thịt.
Bách thảo nuôi trồng (herbar cultur): Cần phân lập thuần khiết nấm. Nấm
có thể được phân lập thuần khiết từ quả thể, hạch nấm, mô đệm, thể hình rễ và
ngay cả sợi nấm nằm trong giá thể hay rễ nấm của thực vật bậc cao. Khi phân
lần trước và ống cấy lần trước nữa.
Ngoài ra, cũng có thể giữ bào tử khô trong album. Tuy vậy, khả năng nảy
mầm của đảm bào tử giảm rất nhanh. Cho nên, biện pháp này ít được sử dụng ở
nấm lớn.
2.6.3. Phương pháp phân tích mẫu vật
Mẫu vật phân tích tốt nhất là các mẫu tươi vừa thành thục mới thu hái.
Phân tích tất cả các đặc điểm hình thái và các cấu trúc hiển vi. Những lát cắt
mẫu tươi thường được quan sát trong nước cất, còn những lát cắt mẫu khô phải
tiến hành quan sát trong những dung dịch đặc biệt như dung dịch KOH 3 – 5 %
hay dung dịch amôniăc 10 % có tác dụng làm cho mô phồng lên trở lại trạng thái
ban đầu hoặc các thủ thuật khác như chuyển lát cắt mẫu khô lên lam có nhỏ