i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Lâm
nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy
giáo, cô giáo. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám
hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo cùng toàn thể
cán bộ Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới GS.TS. Trần Văn Mão,
người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các phòng, ban của trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp
đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này. Tôi vô
cùng biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè
đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về
thời gian, nhân lực, tài chính và nội dung nghiên cứu của đề tài còn tương đối
rộng, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng
nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội , ngày 24 tháng 03 năm 2013
Tác giả luận văn
Vũ Trí Dũng
ii
MỤC LỤC
Trang
3.2.4. Thực bì .......................................................................................... 19
3.3. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu .................................. 19
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 21
4.1. Bệnh hại lá thầu dầu .......................................................................... 21
4.1.1.Đặc điểm chung của bệnh hại lá .................................................. 21
4.1.2.Bệnh hại điển hình........................................................................ 25
4.2.Bệnh hại rễ ........................................................................................... 50
4.2.1. Đặc điểm chung ............................................................................ 50
4.2.2.Một số bệnh hại rễ cây thầu dầu .................................................. 58
4.3. Thống kê các loài bệnh hại trên cây thầu dầu ................................. 63
4.4. Kết quả điều tra bệnh hại chủ yếu trên cây thầu dầu .................... 67
4.5. Một số đề xuất ý kiến về phòng trừ sâu bệnh hại cây thầu dầu .... 70
4.5.1. Cơ sở lý luận của IPM ................................................................. 70
4.5.2. IPM đối với phòng trừ bệnh hại cây thầu dầu ........................... 71
KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
2.1
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
3.1
4.1
4.2, 4.3
4.4, 4.5, 4.6
4.7, 4.8
4.9, 4.40
4.11, 4.12
4.13, 4.14
4.15, 4.16
4.17, 4.18
4.19, 4.20
4.21
4.22, 4.23
4.24, 4.25,
4.26
4.27, 4.28
4.29, 4.30,
4.31
4.32, 4.33
4.34, 4.35
4.36
4.37
Tên hình
Trang
Số loài trong các ngành phụ nấm gây bệnh thầu
dầu
49
59
27
31
33
35
37
39
40
41
42
43
44
47
48
61
62
66
66
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây thầu dầu có tên khoa học là Ricinus communis L. thuộc họ Thầu dầu
Thầu dầu nguyên sản ở Châu Phi, đặc tính sinh vật học liên quan với
vùng nguyên sản. Chúng ưa ấm, sinh trưởng dai. Hạt ở nhiệt độ trên 10oC mới
nẩy mầm, khi nhiệt độ 10-30oC, phát tán nhanh hơn; khi nhiệt độ 15oC, sau 45 ngày có thể nây mầm 98,5 %; nhiệt độ 20oC, sau 3-4 ngày nẩy mầm 98,5%;
nhiệt độ 30oC, chỉ 2-3 ngày là nẩy mầm 98,5%. Khi nhiệt độ 35oC khả năng
nẩy mầm sẽ bị ức chế. Ở ngoài đồng ruộng nhiệt độ ban đêm và ban ngày giữ
ở 15-18oC, lượng nước vừa phải, dộ phì vừa, hạt ở độ sâu 3-5cm, sau 15-17
ngày là cây mọc trên 50%.
Cây thầu dầu rất nhạy cảm với sương muối. Cây con ở nhiệt độ 1oC là
cây bị chết. Cây to nếu gặp nhiệt độ đó là bị héo, cành bi khô, đối với cây
sống lâu năm một số dòng chịu lạnh, cây vẫn không chết. Đặc biệt là cây sống
trên 3 năm. Thầu dầu muốn hoàn thành quá trình sinh trưởng phát triển, phải
đủ ánh sáng và nhiệt lượng. Từ khi mọc đến thành thục phải có tích ôn hữu
hiệu ngày đêm là 3500oC. Đương nhiên giữa các dòng khác nhau nhiều.
Theo các tài liệu đã dẫn dầu thầu dầu có vị trí chiến lược quan trong
đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân.
Dầu thầu dầu có 3 tác dụng: trước hết là nguồn năng lượng sinh học,
còn gọi là dầu đốt sinh học. Thứ hai là làm dầu bôi trơn máy bay, thứ ba là
làm dược liệu.
Hiện nay thầu dầu là 1 trong 10 loài cây cho dầu, theo nghiên cứu của
Brazin có 4 loại dầu được sản xuất là thầu dầu, hướng dương, đậu và hạt bông
có tỷ lệ dầu theo thứ tự là 47%,42%, 18% và 15%. Chứng tỏ dầu thầu dầu có
tỷ lệ dầu cao nhất. Sản lượng dầu trên mỗi ha là 705kg, 630kg, 540kg và
450kg. Chứng tỏ sản lượng dầu thầu dầu cũng chiếm ưu thế.
3
Công ty tư vấn Forest & Sullivan của Mỹ có báo cáo công bố thầu dầu
có thể trồng ở các nước nhiệt đới như châu Phi, các nước trồng thầu dầu ngày
càng tăng như Nigieria, Angola, Uganda đến năm 2010 cho sản lượng dầu là
nhưng năm 2007 chỉ đạt một nửa số đó. Rõ ràng dầu thầu dầu có giá trị sử
dụng rất lớn, yêu cầu nhiều nơi trồng cho lợi nhuận cao hơn lúa, ngô. Hy
vọng sẽ có cơ hội phát triển cây thầu dầu trong tương lai.
Thầu dầu có nhiều chất hoá học, theo phân tích của các công ty hóa chất
dầu thầu dầu bao gồm: Protein18%-26%, oil 64%-71% carbohydrate2%, phenolic dubstance2.50%,ricin ricinine 0.087%-0.15% triglyceride glycerol ester,
sterol, phospholipid free fattyacid, hydrocarbon, wax, ricinoleic acid)84%91% oleic acid 3.l%-5.9% linoleic acid)2.9%-6.5% stearic acid 1.4%-2.1%,
palmitic acid 0.9%-1.5% phosphatidyl ethanolamine vật phân giải 83%,
phosphatidyl choline 13%, octadecadienoic acid 8.4%,octadecenoic acid 5.2%,
acidicricin ngoài ra có basic ricin, agglutinin, lipase, 30-norlupan-3β-ol-20-one.
Thầu dầu có các tác dụng dược lý như sau:
a) Chống u bướu, u nhọt.
b) Chống ung thư gan, ung thư cổ tử cung
c) Chất tạo nguồn nhiệt chỉ cần 0.05-0.2mcg/kg là co thể sản sinh
nguồn nhiệt, cần thiết cho con người và động vật có vú.
d) Tác dụng miễn dịch sinh ra phản ứng kháng thể và dị ứng.
e) Tác dụng huyết quản tim và hệ thống hô hấp.
g) Chất độc của thầu dầu có thể ảnh hưởng hô hấp các tế bào bạch cầu
nuôi ngoài cơ thể.
Một trong những vấn đề cần phải giải quyết là phòng trừ sâu bệnh hại.
Thông qua điều tra các dòng xuất xứ thầu dầu được gieo trồng tại khu vực
Xuân Mai, chúng tôi nhận thẩy rằng, lâu nay ít người để ý đến cây thầu dầu
với một trong những lý do là thầu dầu bị khá nhiều loài sâu bệnh và hơn cả
các loài cây trồng khác như bệnh thối cổ rễ, bệnh khô lá, bệnh thối quả, thối
hoa, bệnh khô héo; sâu róm thầu dầu, sâu ngài đêm, rệp, rầy...
5
Trong phạm vi đề tài về sâu bệnh thầu dầu chúng tôi chỉ thực hiện với
tên đề tài:" Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh vật học một số
lần, nặng thì dùng vài lần sẽ khỏi.
Về kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây thầu dầu có rất nhiều trong dân
gian. Trong các tài liệu đã công bố thì chỉ có một số tài liệu của GS. Đỗ Tất
Lợi. Theo ông dầu thầu dầu không gây hiện tượng xót ruột, chỉ làm cho ruột
co bóp nhiều hơn, không gây ảnh hưởng gì đến màng ruột, bởi vậy chúng
được dùng cho phụ nữ mang thai là rất tôt để chống táo bón mà không gây
nguy hiểm...
8
Tuy nhiên về vấn đề nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và chọn giống, nhất
là vấn đề phòng trừ sâu bệnh thì chưa có một tài liệu nào đề cập đến. Việc
nghiên cứu các loài sâu bệnh hại và phòng trừ chúng là hết sức cần thiết.
Về bệnh cây thầu dầu đến nay vẫn chưa có tài liệu đề cập đến nhưng
bệnh cây nông nghiệp và lâm nghiệp thì đã có nhiều tác giả đề cập trong các
giáo trình và tài liệu chuyên khảo của Đường Hồng Dật (1983), Lê Lương Tề
(2005) Lê Văn Liễu, Trần Văn Mão (1978) Nguyễn Sỹ Giao ( 1982) Phạm
Quang Thu ( 2009) Phan Thuý Hiền (2009)...
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo Yi Weidou, viện sỹ công trình Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh)
cho biết theo Bộ Năng lượng Mỹ và Uỷ ban Năng lượng thế giới dự báo
nguồn năng lượng hoá thạch không còn nhiều, dầu mỏ chỉ dùng 39 năm, khí
thiên nhiên dùng trong 60 năm, than đá 111 năm là cạn kiệt, năm 2005 nhu
cầu dầu mỏ đã tăng thêm 35%. Điều này sẽ dự báo cho biết lượng xăng dầu sẽ
tăng gấp nhiều lần trong 2 thập kỷ tới và bắt buộc phải tìm nguồn năng lượng
sinh học.
Nguồn năng lượng sinh học là nguồn năng lượng thay thế có thể tồn tại,
tái sinh và điều chỉnh theo ý muốn của con người.
Dầu thầu dầu lấy từ hạt là một trong những nguồn năng lượng thay thế
theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp IPM.
Theo thống kê của Liu Wenrong ( 1991) trên cây thầu dầu có 9 loài
bệnh, 94 loài sâu bao gồm các bệnh trên lá, thân cành, rễ và gây tổn thất đáng
kể đến cây con và sản lượng hoa, quả, hạt và sản lượng thầu dầu. Gần đây
Zhang cũng phát hiện được 27 loài nấm gây bệnh trên thầu dầu, 1 bệnh sinh
lý hoặc vi khuẩn gây nên, trên thế giới phổ biến nhất là bệnh khô cành do nấm
mốc sương, bệnh đốm than, bệnh gỉ sắt và bệnh đốm lá do vi khuẩn Zhong
Deyu (2011) trong vấn đề kỹ thuật trồng thầu dầu cũng đã đề cập nhiều đến
phòng trừ sâu bệnh hại thầu dầu. Các tác giả khác như Yang Zhonghua (2010),
10
Ye Jianda(2011) Zhang Shuanhu (2011) đều nêu lên việc trồng thầu dầu phải
đi đôi với phòng trừ sâu bệnh.
Nhiều tài liệu của Thái Lan đều đề cập đến sâu bệnh hại cây thầu dầu
( Zhang, 2011) Trong đó bệnh thối cổ rễ, bệnh thối gốc, bệnh gỉ sắt, bệnh khô
lá, bệnh đốm lá là những bệnh được nhiều tác giả đề cập đến. Chúng liên quan
với các loài sâu hại như sâu ngài đêm, sâu róm 4 túm lông, sâu chích hút như
rầy lưng trắng, rầy nâu, rệp sáp, rận ...
Về bệnh hai cây thầu dầu mấy năm gần đây nhiều tác giả đã dề cập đến
nhiều bệnh hại và biện pháp phòng trừ. Năm 2010 Zhong Deyu đã đề cập đến
bệnh đốm lá thầu dầu đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng và chất
lượng thầu dầu. Năm 2006 trong nguồn tin qzny.gov.cn cho biết bệnh thối cổ
rế trong điều kiện nhiệt độ cao độ ẩm cao thoát nước kém thường xây ra bệnh
thối cổ rễ và cần phải dùng biện pháp xử lý hạt để phòng trừ. Tron cuốn hạc
vấn : xuewen.cnki.net cho biết bệnh hại trên cây thầu dầu có tất cả 27 bệnh
trong đó có 25 bệnh do nấm gây ra, 1 bệnh do vi khuẩn và 1 bệnh do thiếu Fe.
Trên thế giới phát sinh phổ biến có bệnh dịch, bệnh đốm than, bệnh gỉ sắt và
bệnh đốm lá do vi khuẩn.
vùng Đông Bắc Trung Quốc.
Nhiều tài liệu cho biết cây Thầu dầu nguyên sản ở một số nước Đông
Phi cánh đây hơn 1000 năm, được di thực đến các nước châu Á, trước hết là
Ấn Độ, cho nên những bệnh hại cũng bắt đầu từ Ấn Độ , Tài liệu bệnh thầu
dầu công bố sớm nhất là SK. Bose (1949) đề cập đến bệnh đốm là do nấm
Phyllosticta bosenssis n. sp. D. Karan (1966) đề cập đến một só bệnh hại thầu
dầu, bệnh thối cổ rễ do nấm Fusarium oxysporum f.sp.ricini, bệnh thối rễ do
nấm Macrophomina phaseolina , bệnh mốc xám ( Botrytis ricini là những
bệnh hại chủ yếu ở Ấn Độ. G.S Saharan Dr. Naresh Mehta (1954) cũng đề
cập đến bệnh đốm là do nấm Alternaria gây nên. Các tác giả khác như CV
Kapadia (2012) J. Iqbal (2012) đều nêu lên các xuất xứ chống chịu bệnh và là
biện pháp chọn cây chống chịu bệnh quan trọng...
12
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1.Mục tiêu chung
Xác định thành phần loài vi sinh vật gây bệnh trên cây thầu dầu và đề
xuất hướng phòng trừ trên cơ sở quản lý vật gây hại tổng hợp nhằm tăng sinh
trưởng phát triển cây thầu dầu.
2.1.2.Mục tiêu cụ thể
Điều tra xác định các loài bệnh hại hiện có tại khu vực nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm triệu chứng, vật gây bệnh, quy luật phát bệnh.
Tìm hiểu mối quan hệ bệnh hại chủ yếu với các giống xuất xứ, kỹ thuật
trồng và điều kiện sinh thái của chúng.
Tìm hiểu vấn đề phòng trừ tổng hợp hay quản lý vật gây hại tổng hợp
Tiếp cận cũng là phương pháp nghiên cứu bao gồm tiếp cận hệ thống,
tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận nhân rộng và nâng cao. Chủ yếu là điều tra.
Điều tra sâu bệnh có thể theo phương pháp điều tra sâu bệnh của giáo trình
điều tra sâu bệnh hại cây rừng, cụ thể như sau:
- Tìm hiểu triệu chứng bệnh, thông thường một loại bệnh trên cây sẽ
xuất hiện các triệu chứng khác nhau. Bệnh trên vị trí cây khác nhau cũng xuất
hiện triệu chứng khác nhau. Triệu chứng bệnh thể hiện sự nhận biết đầu tiên
để đặt tên cho bệnh. Vì vậy chúng tôi quan sát triệu chứng để tìm hiểu một
loại bệnh. Sau khi quan sát chúng tôi tiến hành mô tả đặc điểm hình thái của
bộ phận bị bệnh đồng thời chụp ảnh với chiếc máy ảnh Canon.
- Tìm hiểu vật gây bệnh. Nguyên nhân gây bệnh cây có thể là do điều
kiện phi xâm nhiễm và xâm nhiễm, những bệnh xâm nhiễm thường do vật gây
bệnh gây nên. đối với bệnh cây hầu hết là do nấm gây ra. Vì vậy phải quan sát
qua kính hiển vi để tìm hiểu vật gây bệnh. Kính hiển vi được sử dụng là kính
Canon phóng đại 400 lần. Quan sát có thể tiến hành mô tả, chụp ảnh dưới
kính kiển vi.
14
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của vật gây bệnh. Do điều kiện thí
nghiệm, chúng tôi chỉ tiến hành quan sát và mô tả đặc điểm hình thái rồi đối
chiếu với các tài liệu đã công bố để xác định.
- Điều tra tỷ lệ cây bệnh, mức độ bị bệnh của các loài bệnh đã phát hiện.
Công việc điều tra được tiến hành 3 đợt, đợt đầu vào tháng 10 đợt 2 vào đầu
xuân tháng 2 và đợt cuối vào cuối mùa xuân tháng 3-4. Mục đích của việc điều
tra ngoài việc tìm hiểu tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh còn tìm hiểu thêm một
số đặc điểm sinh thái của bệnh và phát hiện thêm một số bệnh mới phát sinh.
- Xác định bệnh hại chủ yếu, muốn xác định được bệnh hại chủ yếu cần
có một số chỉ tiêu sau:
Tuổi cây bq
Độ tàn che
Sinh trưởng
Địa hình
Tình hình vệ sinh
Loài
cây
DT bị
hại
Loài
bệnh
Bộ
phận
bị hại
DT mức độ bị hại
Nhẹ
Vừa
Nặng
(+)
(++)
P(%) =n.100/N
Trong đó n là số cây bệnh , N là tổng số cây điều tra.
Phân cấp cây bệnh. Trong cây bị bệnh có cây bị nặng có cây bị nhẹ.
Phương pháp trên không thể phản ánh mức độ bị hại.
Phân cấp cây bị hại là vấn đề mấu chốt. Để tiện việc điều tra người ta thường
phân làm 4-5 cấp, tiêu chuẩn phân cấp phải rõ ràng, cụ thể và thích hợp.
Đối với bệnh hại lá, quả, cành có thể phân cấp như sau:
16
Bng 2.2. Tiờu chun phõn cp bnh hi lỏ, qu, cnh
Cp bnh
Tiờu chun cp
0
Khụng bnh
I
b bnh di 25%
II
b bnh 26-50%
III
Cõy cht
+ Tính chỉ số bị bệnh
Chỉ số bị bệnh phản ánh tỷ lệ cây bệnh và mức độ bị hại. Công thức nh- sau:
R% = 100. nv/NV
Trong ú n l s n nguyờn (lỏ, cnh, qu, thõn) b hi mi cp,v l
s cp, N tng s n nguyờn, V l cp cao nht (4).
Thụng thng ngi ta kt hp tớnh t l cõy bnh v ch s b bnh
tớnh ch s tn tht nh sau:
DI = P (%) x R(%)
17
Tóm lại đối với điều tra bệnh cây ta phải làm rõ các chỉ tiêu: mức độ
phân bố hay tỷ lệ cây bệnh, mức độ bị bệnh hay chỉ số bệnh và chỉ số tổn thất
để xác định bệnh hại chủ yếu và phòng trừ kịp thời và hiệu quả.
Kết quả điều tra có thể tiến hành so sánh các chỉ tiêu theo phương pháp
thống kê toán học, tính phương sai hoặc sai dị trên máy vi tính.
- Tìm hiểu về phương pháp phòng trừ theo bài giảng quản lý hệ thống và
phòng trừ tổng hợp IPM cho lớp cao học để đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý.
18
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính
Thị trấn Xuân Mai nằm trên vị trí 20,54' độ Vĩ Bắc, 106, 34' độ Kinh
Đông, trên điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A, nay là Đường Hồ
2T
200
P
150
100
50
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
Hình 3.1.Sơ đồ khí hậu khu vực Xuân Mai, theo Gaussen- Walter ( 1963)