i
Đại Học quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
*** Nguyn Mnh Cng
NGHIấN CU THNH PHN LOI MI (INSECTA: ISOPTERA)
V XUT BIN PHP PHềNG TR CC LOI GY HI
CHNH KHU PH C HI AN, TNH QUNG NAM Luận văn thạc sĩ khoa học
V XUT BIN PHP PHềNG TR CC LOI GY HI
CHNH KHU PH C HI AN, TNH QUNG NAM
Chuyên ngành
: Động vật học
Mã số
: 60 42 10 Luận văn thạc sĩ khoa học Ng-ời h-ớng dẫn khoa học
TS. Trnh Vn Hnh
Hà Nội - 2012
Hà Nội -2012
ii
2. 4. 5. Phƣơng pháp xác định mức độ gây hại của mối 37
2.4.6. Phƣơng pháp lựa chọn, đề xuất các biện pháp phòng trừ các loài mối
gây hại chính trên khu vực nghiên cứu 38
2. 4. 7. Phƣơng pháp xử lý số liệu 38
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Kết quả điều tra, thu mẫu, thành phần loài và phân bố của mối ở khu vực
nghiên cứu. 39
3.1.1. Thành phần loài mối chung 39
3.1.2. Thành phần loài mối trên các sinh cảnh khác nhau 42
3.2. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học các loài mối ở khu vực nghiên cứu. 45
3.2.1. Loài Coptotermes ceylonicus Homlgren, 1911 45
3.2.2. Loài Coptotermes emersoni Ahmad, 1953 46
3.2.3. Loài Coptotermes havilandi Homlgren, 1991 48
3.2.4. Loài Coptotermes formosanus Wasmann, 1896 51
3.2.5. Loài Coptotermes travian Haviland, 1898 53
3.2.6. Loài Cryptotermes domesticus Haviland, 1898 54
3.2.7. Loài Microtermes pakistanicus Ahmad 56
3.3. Phạm vi hoạt động của mối Coptotermes 57
3.4. Hiện trạng công tác phòng trừ mối tại khu phố cổ Hội An và đề xuất biện
pháp phòng trừ các loài gây hại chính 62
3.5. Kết quả thử nghiệm diệt mối bằng bả BDM 10 63
CHƢƠNG 4 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
4.1. Kết luận 66
4.2 Kiến nghị 66
iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Danh sách các tuyến phố điều tra, khảo sát, thu mẫu mối
1
MỞ ĐẦU
Mối (Isoptera) là nhóm côn trùng đa hình thái, thuộc lớp côn trùng (Insecta),
có sự phân chia đẳng cấp và phân công chức năng rõ rệt, có hoạt động tập tính phức
tạp, tạo nên quần tộc có tổ chức xã hội cao. Đến nay, trên thế giới ngƣời ta đã xác
định đƣợc hơn 2800 loài mối thuộc 8 họ, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới.
Hoạt động của mối có ảnh hƣởng quan trọng đến nhiều mặt trong đời sống
của con ngƣời. Trong tự nhiên, mối tham gia vào quá trình phân huỷ các chất hữu
cơ có nguồn gốc Xenlulose để tạo thành đƣờng và các chất đơn giản hơn trong chu
trình chuyển hoá vật chất. Đồng thời mối là nguồn thức ăn giàu chất dinh dƣỡng
cho nhiều loài động vật khác nhau, góp phần duy trì đa dạng sinh học của thế giới
tự nhiên. Nhƣng mặt khác nhiều loài mối đã gây ra tác hại to lớn cho nền kinh tế -
xã hội ở nhiều nƣớc. Ngƣời ta đã xếp chúng vào nhóm côn trùng kinh tế quan trọng
trong số các loài côn trùng gây hại. Đối tƣợng gây hại của mối gồm các công trình
kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, công sở, khu di tích v.v…); các công trình thuỷ lợi,
thuỷ điện (đê, đập đất); các loại cây (cây công nghiệp, cây di tích, cây xanh đƣờng
phố v.v…). Mỗi loại đối tƣợng có thể bị gây hại bởi nhiều loài mối, nhƣng trong đó
chỉ có một hoặc một nhóm loài gây hại chính. Chẳng hạn đối với các công trình
kiến trúc vùng đồng bằng chủ yếu là các loài thuộc giống Coptotermes. Do ý nghĩa
quan trọng nhƣ vậy, từ lâu mối đã đƣợc nhiều nhà khoa học điều tra nghiên cứu.
Nhìn chung, nghiên cứu về mối hiện nay tập trung chủ yếu theo hai hƣớng chính:
điều tra đa dạng sinh học của mối và nghiên cứu các giải pháp phòng trừ các loài
mối gây hại. Theo hƣớng điều tra đa dạng sinh học đã có nhiều nghiên cứu đƣợc
tiến hành nhƣ: Nguyễn Đức Khảm (1976), Nguyễn Tân Vƣơng (1996), Nguyễn Văn
Quảng (2003) v.v Phần lớn các điều tra mối chỉ tập trung trong các khu bảo vệ
nhƣ vƣờn quốc gia và khu bảo tồn. Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài mối
vùng đồng bằng, thành phố hầu nhƣ còn khá ít ỏi hoặc tản mạn. Đối với nghiên cứu
giải pháp phòng trừ mối, đặc biệt là phòng chống nhóm mối nhà Coptotermes đã có
các di tích đơn lẻ hợp thành. Ngoài khu vực phố cổ còn rất nhiều di tích trong vùng
tạo nên một quần thể di tích lịch sử, kiến trúc, nhân văn. Việc đầu tƣ để xử lý phòng
3
trừ mối không chỉ nhằm xử lý phòng trừ mối cho những di tích có giá trị đặc biệt
mà phải xử lý và phòng trừ tổng thể các di tích đơn lẻ hợp thành trong khu vực, bao
gồm: các di tích lịch sử, các di tích kiến trúc nghệ thuật, đình chùa, miếu mạo, cầu
Nói chung là toàn bộ khu di tích phố cổ Hội An, không phân biệt của Nhà nƣớc
quản lý hay thuộc quyền sở hữu của ngƣời dân hay tổ chức khác. Muốn vậy cần
phải điều tra nghiên cứu thành phần loài mối; xác định loài gây hại chính; nghiên
cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học quan trọng của chúng, làm cơ sở đề xuất biện
pháp phòng trừ thích hợp và hiệu quả thì mới đảm bảo xử lý mối triệt để lâu dài cho
toàn bộ khu di tích phố cổ Hội An.
Mục tiêu đề tài.
+ Xác định thành phần loài mối ở khu phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam
+ Xác định các loài gây hại chính và đề xuất biện pháp phòng trừ chúng
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
+ Cung cấp các dẫn liệu có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài mối ở
khu vực phố cổ Hội An tính đến nay.
+ Xác định đƣợc các loài gây hại chính, đồng thời cung cấp các dẫn liệu sinh
học, sinh thái học của các loài dùng làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trừ
chúng cho khu vực phố cổ Hội An và mở rộng cho các địa phƣơng khác.
+ Đề xuất các biện pháp, kỹ thuật phòng trừ các loài gây hại chính tại khu
phố cổ Hội An.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
+ Nghiên cứu thành phần loài mối tại khu vực phố cổ Hội An, tỉnh Quảng
Nam
+ Các biện pháp và thí nghiệm phòng trừ mối cho một số công trình đặc thù
của phố cổ Hội An và đánh giá hiệu quả trên các loài gây hại chính
Do thời gian nghiên cứu ngắn, khả năng có hạn, nên luận văn chắc chắn còn
nghiên cứu mối ở Java, các công bố của ông đƣợc đăng tải trong những năm 1930,
1941, 1950, 1952 đến 1960 [68]. Đặc biệt, Snyder (1949) đã cho xuất bản cuốn
“Danh mục về mối trên thế giới”, trong đó ông lập đƣợc một danh sách các loài
5
thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và
Termitidae) với 130 giống, bao gồm cả những loài hoá thạch [69].
Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20 đến nay, các công trình nghiên cứu hệ thống
học về mối đã phát triển khá mạnh mẽ dựa trên các công trình cơ bản của Snyder,
Holmgren và Emerson.
Đầu tiên phải kể tới sự tăng nhanh về số lƣợng loài đƣợc phát hiện. Năm
1949, Snyder liệt kê tổng cộng đƣợc 1.745 loài mối trên toàn thế giới; nhƣng hơn 50
năm sau, theo số liệu công bố của Constantinho (2007), tổng số loài mối đƣợc phát
hiện trên toàn thế giới đã là 2.858 loài, thuộc 286 giống [70].
Các danh mục thành phần loài của bộ Cánh đều hoặc của một họ mối cho
từng khu vực cũng lần lƣợt đƣợc công bố, phần lớn các công trình này đều kèm
theo khoá định loại riêng và mô tả cho từng loài. Ahmad (1958) [71] đã nghiên cứu
và phát hiện 397 loài thuộc 48 giống 4 họ trong khu hệ mối Đông Phƣơng; đến
1965, tác giả nghiên cứu khu hệ mối ở Thái Lan đã phát hiện có 74 loài, 28 giống
và 3 họ [72]. Tuy nhiên, đến 2004, Yupaporn Sornnuwat (2004) [73] đã tổng hợp
các nghiên cứu về thành phần loài mối ở Thái Lan và công bố có 199 loài mối.
Krishna (1965) [74] công bố thành phần loài mối tại Burma gồm 103 loài.
Sen - sarma (1974) [75] đã mô tả và ghi chú về phân bố địa lý của 20 loài mối ở
Pradesh, Ấn Độ. Thapa (1981) [76] đã tiến hành nghiên cứu mối ở Malaysia. Những
nghiên cứu mối ở khu vực Đông Phƣơng về sau tập trung vào các vấn đề phân loại
học, địa động vật học cũng nhƣ vai trò đối với kinh tế của từng họ hoặc phân họ, cụ
thể nhƣ Thakur (1979, 1980) [77],[78] tiến hành nghiên cứu về mối gây hại cho cây
rừng và các vƣờn ƣơm ở Ấn Độ.
Những nghiên cứu về phân loại cũng đƣợc tiến hành ở Bắc Kinh, Thƣợng
Hải và Viện Côn trùng học Quảng Châu. Gần đây nhất, Huang Fu Sheng và cộng sự
phân tích hình thái của mối O. assammemsis và đã kết luận rằng, giữa mối lính của
O. assammemsis và O. obessus có sự khác nhau, và họ đã giữ lại đƣợc vị trí phân
loại của O. assammemsis mà trƣớc đó theo Krishna (1965) [68] là một phân loài của
O. obessus.
Một công trình tiêu biểu khác phải kể đến là của Farkhanda Manzoor (2002).
7
Tác giả đã nghiên cứu về sự biến thiên hình thái giữa 52 loài mối thuộc giống
Odontotermes từ những nƣớc nhƣ Bangladesh, Burma, Ấn Độ, Trung Quốc,
Indonesia, Thái Lan… Tác giả đã lựa chọn đo đạc và thống kê 10 thông số hình thái
của 52 loài mối này. Sự biến thiên về kích thƣớc của mỗi loài đã đƣợc tác giả mô tả
khá rõ [84].
Tuy nhiên, có những loài mối có tập tính sinh học khác nhau nhƣng hình thái
rất giống nhau, nhƣ các loài thuộc giống Coptotermes. Các đặc điểm này là nguyên
nhân gây khó khăn và nhầm lẫn cho công tác phân loại dựa vào hình thái, do đó cần
phải có các phƣơng pháp chính xác để bổ trợ. Trên thực tế, đã có những công trình
nghiên cứu thể hiện hƣớng đi mới nhƣ Burnham (1978) công bố dẫn liệu điều tra
các loài hoá thạch của côn trùng xã hội, trong đó có 48 loài mối; Sands (1998) [83]
đã sử dụng các đặc điểm hình thái của ruột nhƣ cấu tạo của van ruột sau, cấu tạo của
hệ thống ống Malpighi để phân loại đến giống và lập cây chủng loại phát sinh của
chúng. Tài liệu này là công cụ hữu ích để giải quyết một số trƣờng hợp các mẫu
phân loại có đặc điểm hình thái ngoài phân biệt không rõ ràng. Belyaeva (2006) sử
dụng hình thái cấu tạo cơ quan sinh dục ngoài của mối cái để phân biệt các loài
thuộc họ Kalotermitidae, Hodotermitidae, Termitidae.
Phƣơng pháp phân loại dựa trên hình thái ngoài không đòi hỏi nhiều trang
thiết bị phức tạp và có thể đƣợc áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế có thể có
những loài mối có rất nhiều dạng biến dị hình thái, trong đó các cá thể mối cùng
một loài có nhiều dạng khác nhau nhƣng các cá thể mối cánh vẫn có thể giao phối
với nhau do có sự tƣơng đồng nhất định về nguồn gốc gen.
Cùng với sự phát triển của sinh học phân tử khi bƣớc sang thế kỷ XXI, có
loài (Nguyễn Đức Khảm, 1971) [10].
Trong những năm tiếp theo của đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu mối tại Việt
Nam chỉ đƣợc tiến hành rất hạn chế bởi một số tác giả nƣớc ngoài nhƣ: Bathellier
(1933); L. Caresch (1937); Alloward (1947). Các công trình này chủ yếu giới thiệu
các bài thuốc diệt mối, cách phòng trị mối cho cây trồng và công trình kiến trúc.
Sau năm 1954, ở miền Bắc Việt Nam tiến hành công cuộc khôi phục và phát
triển nền kinh tế, tốc độ xây dựng kiến thiết cơ bản tăng nhanh, nông nghiệp, lâm
9
nghiệp cũng đƣợc chú trọng v.v… nên công tác nghiên cứu cơ bản về mối cũng
đƣợc quan tâm. Nhiều tác giả nhƣ: Nguyễn Thế Viễn (1960-1964), Nguyễn Ngọc
Kiểng (1961) Đỗ Ngọc Thảo (1962), Bùi Huy Dƣỡng (1963), Nguyễn Xuân Khu
(1964), Phạm Văn Phú (1965), Nguyễn Chí Thanh (1966, 1968, 1971) v.v… đã
công bố các kết quả nghiên cứu về phòng chống mối cho kho tàng, nhà cửa, lán trại,
các công trình quốc phòng và các công trình kiến trúc khác (Nguyễn Đức Khảm,
1971) [10]. Trong đó, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Khảm
(1961-1971). Ông đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ và đặc điểm sinh học, sinh
thái học của mối ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã
tổng kết khá đầy đủ trong luận án PTS, đƣợc bảo vệ năm 1971. Tác giả đã ghi nhận
61 loài thuộc 20 giống mối ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có 56 loài lần đầu tiên
đƣợc tìm thấy cho khu vực nghiên cứu, 8 loài mới cho khoa học. Đến năm 1976,
cũng chính tác giả đã cho xuất bản cuốn sách “Mối miền Bắc Việt Nam”. Nội dung
cuốn sách đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài mối
thu đƣợc, đồng thời nêu lên những nét khái quát về địa lý động vật học của khu hệ
mối Việt Nam cũng nhƣ về vai trò của mối trong nền kinh tế quốc dân [10][11].
Cũng vào thời kỳ này ở miền Nam Việt Nam, Harris (1968) đã công bố một
công trình điều tra về mối đƣợc tiến hành ở Việt Nam, Campuchia và Thái Lan
[56]. Năm 1971, Patrick Durand và Lâm Bình Lợi cho xuất bản cuốn sách “Les
termites du Vietnam”, đề cập tới hai nội dung chính: hình thái phân loại và đặc
điểm sinh học của 37 loài mối có ở Việt Nam và kết quả thử nghiệm tính chống
Termitidae có 30 loài. Đồng thời tác giả cũng là ngƣời đầu tiên giải thích nguyên
nhân sự có mặt của mối ở trong đập và cho rằng cấu trúc tổ của chúng là đặc điểm
quan trọng hàng đầu để đánh giá mức độ gây hại và làm cơ sở để tiến hành các biện
pháp phòng trừ.
Lê Văn Triển và cộng sự đã tiến hành điều tra cơ bản các ẩn hoạ cho đập nói
chung, trong đó chú trọng các ẩn hoạ do mối gây ra, đồng thời nghiên cứu thành
phần loài mối hại hệ thống đập đất của vùng Bắc Trung Bộ (1999), vùng Tây
Nguyên và Nam Trung Bộ (2000), vùng Nam Trung Bộ (2001), vùng Đông Bắc
Bắc Bộ ( 2002) và vùng Tây Bắc (2003). Kết quả đã xác định thành phần loài mối
11
hại hệ thống đập các vùng nói trên, nêu rõ các loài gây hại chính và cấu trúc khoang
tổ của chúng. Đồng thời tác giả đã công bố thành phần mối ở môi trƣờng xung
quanh đập của các vùng nghiên cứu. Trong báo cáo đã đƣa ra nhận định, đánh giá
tình hình an toàn đập hồ chứa thông qua kết quả điều tra, thăm dò tổ mối bằng thiết
bị địa vật lý nhƣ: rađa đất, điện đa cực v.v… và định hƣớng giải pháp thích hợp cho
công tác phòng trừ mối hại đập trong phạm vi nghiên cứu. Kiến nghị kịp thời các
cấp quản lý ở Trung ƣơng và địa phƣơng về công tác phòng trừ mối cho các đập đã
điều tra [34].
Nguyễn Tân Vƣơng (1997) đã tiến hành nghiên cứu về mối Macrotermes
(Termitidae, Isoptera) ở miền Nam Việt Nam [36]. Tác giả đã phát hiện đƣợc 14
loài mối thuộc giống mối Macrotermes ở phía nam đèo Ngang, trong đó, có 4 loài
mới cho khu vực nghiên cứu và 3 loài mới cho khoa học. Tác giả cũng đã nghiên
cứu khá chi tiết thời gian bay giao hoan, hình thái, cấu tạo vƣờn nấm đặc trƣng
riêng cho loài hay nhóm loài và có thể dùng định loại. Đồng thời nhấn mạnh 2 loài
mối Macrotermes gilvus và M. annandalei là những loài phân bố rộng ở các dải độ
cao, trong các loại đất và các sinh cảnh nghiên cứu. Còn các loài M. tuyeni, M.
chaiglomi, M. serrulatus, M. hienenis là những loài phân bố hẹp theo dải độ cao,
trong các loại đất và các sinh cảnh nghiên cứu. Đặc điểm phân bố của Macrotermes
còn phụ thuộc vào địa hình của mặt đất và thành phần độ hạt của đất. Ngoài ra, tác
thuốc bảo vệ thực vật đƣợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt
Nam. Qua đó cho thấy các biện pháp phòng trừ mối gây hại đã đƣợc nghiên cứu và
sử dụng mặc dù có hiệu quả nhƣng ít nhiều còn sử dụng hoá chất dễ gây ô nhiễm
môi trƣờng. Để khắc phục hạn chế này, một số nhà khoa học đã và đang tìm hƣớng
đi mới cho công tác phòng trừ mối.
Nguyễn Dƣơng Khuê và cộng sự (2001) đã nghiên cứu tuyển chọn một số
chủng Metarhizium để thử nghiệm diệt mối Coptotermes formosanus trong phòng
thí nghiệm. Kết quả, các tác giả đã tuyển chọn đƣợc 3 chủng nấm có hiệu lực diệt
mối khá cao trong điều kiện thí nghiệm trên.
Đáng chú ý là những nghiên cứu về việc sử dụng vi nấm Metarhizium diệt mối của
Trịnh Văn Hạnh (2002, 2005) [3][4]. Tác giả không chỉ đã thử nghiệm thành công
13
dùng vi nấm Metarhizium để diệt mối trong phạm vi phòng thí nghiệm mà đã thành
công trong bƣớc đầu áp dụng thực tế ngoài hiện trƣờng với quy mô nhỏ. Những kết
quả thử nghiệm của tác giả đƣợc đánh giá là có triển vọng trong phòng trừ không
chỉ đối với mối thuộc giống Coptotermes (mối không có vƣờn cấy nấm) mà còn cả
với các loài mối thuộc nhóm mối có vƣờn cấy nấm (Macrotermitinae), đặc biệt là
mối Odontotermes. Tuy nhiên, nghiên cứu về lĩnh vực phòng trừ những loài mối
này vẫn còn đang đƣợc tiếp tục nghiên cứu.
Mối hại cây trồng cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Tuy nhiên, trong hệ
sinh thái tự nhiên, mối có vai trò rất quan trọng, không thể thiếu đƣợc ở quá trình
chu chuyển vật chất, phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulose và trả lại
mùn cho đất (Lee and Wood, 1971; Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển, 1985;
Abe, 1987) (theo Nguyễn Văn Quảng, 2003) [18]. Vì vậy, việc phòng chống mối
cho cây trồng nhƣ thế nào để đạt đƣợc hiệu quả vẫn là một vấn đề cần đƣợc đặt ra.
Những nghiên cứu về mối và cây trồng cần hƣớng tới phát huy những mặt lợi do
mối đem lại, đồng thời hạn chế những thiệt hại mà chúng gây ra.
Những nghiên cứu phòng trừ mối hại cây trồng đã đƣợc nhiều tác giả tiến
hành từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc. Có thể nêu ra một số công trình nhƣ sau:
chu trình chế biến thức ăn của mối, cắt đứt nguồn thức ăn của mối, nhất là mối thợ
kiếm ăn. Đồng thời kích thích sự phát triển nấm lạ vốn có trong vƣờn nấm, làm thay
đổi vi khí hậu trong tổ mối. Tác giả cũng đã đề nghị tiếp tục nghiên cứu và hoàn
thiện phƣơng pháp sử dụng bả trong phòng chống mối có vƣờn cấy nấm nói chung
và mối Macrotermes nói riêng [18].
Hƣớng nghiên cứu thứ 2 về mối đối với cây trồng là điều tra đa dạng sinh học
của mối ở các khu bảo tồn và vƣờn Quốc gia, cung cấp cơ sở khoa học cho việc
đánh giá đa dạng sinh học và đề xuất các biện pháp bảo tồn.
Đi sâu theo hƣớng này có các nghiên cứu của Bùi Công Hiển và cộng sự
(2003) điều tra về thành phần loài mối Vƣờn Quốc gia Ba Vì. Một năm sau đó, Bùi
Công Hiển và Nguyễn Văn Quảng (2004) đã công bố danh sách loài mối phát hiện
đƣợc tại Vƣờn Quốc gia Côn Đảo. Nguyễn Văn Quảng và Nguyễn Thị My (2004)
đã tổng kết nghiên cứu đa dạng mối tại Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bằng
15
báo cáo khoa học về số lƣợng loài mối tìm thấy trong khu vực này. Trong năm
2005, Nguyễn Văn Quảng đã công bố kết quả điều tra về mối tại A Lƣới, Khu bảo
tồn Thiên nhiên Dakrong và khu vực Hƣơng Sơn, Hà Tĩnh [9][19][20][21]. Tác giả
cũng đã chủ trì nhóm nghiên cứu thành phần loài mối và sự phân bố của mối tại
VQG Cát Tiên và năm 2006 đã công bố công trình nghiên cứu này về khu hệ mối ở
khu vực điều tra.
1.3. Nghiên cứu phòng trừ loài mối thuộc giống mối Coptotermes ở trong nƣớc
Coptotermes là giống mối gây hại nặng nề cho các công trình kiến trúc ở
nhiều nƣớc trên thế giới. Theo thống kê, ở Mỹ 80% các thiệt hại do mối gây ra là do
các loài mối thuộc giống mối Coptotermes. Theo Nguyễn Tân Vƣơng (2007) [40]
loài mối này cũng gây hại chính cho các công trình kiến trúc trong khu phố cổ Hà
Nội, chiếm tới 51,8% trong số các loài gây hại. Vì vậy nghiên cứu các biện pháp
phòng trừ mối nói chung và phòng trừ mối thuộc giống mối Coptotermes nói riêng
cho công trình kiến trúc là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Mặc dù ở phần
các nghiên cứu về mối hại công trình kiến trúc và kho tàng nói chung, chúng tôi đã
không cần liên hệ với đất. Cũng có trƣờng hợp do một điều kiện bất lợi nào đó
(chẳng hạn nhƣ nền nhà bị ngập nƣớc), mối di cƣ tổ từ dƣới đất vào trong kết cấu
của công trình xây dựng. Ngƣời ta đã thống kê đƣợc 25% tổ mối Coptotermes
formosanus tìm thấy ở các thành phố phía Đông Nam bang Florida thuộc về loại tổ
không tiếp xúc với đất 50.
Mối Coptotermes có 3 thành phần chính: mối sinh sản, mối lính và mối thợ,
ngoài ra còn có mối non. Mối sinh sản gồm mối vua, mối chúa, mối cánh nguyên
thuỷ và mối cánh ngắn hay còn gọi là mối chúa thay thế 63. Chúng có chức năng
sinh sản hoặc sẽ làm nhiệm vụ sinh sản trong tƣơng lai. Mối thợ gồm mối thợ lớn và
mối thợ nhỏ làm nhiệm vụ kiếm ăn, xây tổ và chăm sóc mối vua, mối chúa và mối
non Mối lính làm nhiệm vụ bảo vệ đàn mối kiếm ăn và bảo vệ tổ. Các đẳng cấp này
có mặt đầy đủ ở các quần thể trƣởng thành, tỉ lệ số lƣợng cá thể của mỗi đẳng cấp
thay đổi phụ thuộc vào trạng thái và tuổi của đàn mối.
Mối cánh có 2 loại: mối cánh nguyên thuỷ (còn gọi là mối cánh thực thụ) và
mối cánh ngắn (còn gọi là mối cánh thay thế hay mối cánh bổ sung).
17
Cơ thể mối cánh nguyên thuỷ thƣờng có màu vàng nâu, dài 12-15mm và có
cánh. Trên cánh có rất nhiều lông nhỏ và hệ gân cánh đặc trƣng, có thể dùng để
phân biệt với các loài mối khác. Mắt có chức năng. Lớp vỏ cơ thể dầy, nên mối có
thể bay và sống ở điều kiện khô trong vài ngày và chúng có khả năng bay giao hoan
phân đàn tạo lập tổ mới. Ở nƣớc ta, hàng năm mối cánh của loài Coptotermes
formosanus phân đàn tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 7 dƣơng lịch; một
lƣợng nhỏ hơn có thể bay vào thời gian không thuộc giai đoạn trên. Chúng bị hấp
dẫn bởi ánh sáng đèn (hƣớng quang) vào buổi tối. Vào mùa mối bay có thể bắt gặp
hàng ngàn mối cánh bay ở gần cửa sổ, xung quanh những nguồn sáng cố định lúc
chập choạng tối và muộn hơn. Sau một thời gian bay, chúng hạ cánh xuống đất hoặc
bất kỳ chỗ nào có thể, rồi tự rụng cánh và cặp đôi.
Khi đào đƣợc một khoang nhỏ cho mình, đôi mối bắt đầu đẻ trứng. Đợt đầu
mối cái đẻ khoảng 15 - 30 trứng. Sau khoảng 2 - 4 tuần trứng nở thành mối non.
2
, tập đoàn đi kiếm ăn
gần nhất là 43m với diện tích vùng kiếm ăn là 162m
2
. Nghiên cứu của Thomas
G.Shelton đã xác định vùng kiếm ăn của một tập đoàn rộng tới 16.150m
2
54.
Tóm lại, các đặc điểm sinh học và tập tính làm tổ, kiếm ăn, phƣơng thức tổ
chức xã hội, cách trao đổi chất và giao tiếp sinh học trong quần tộc Coptotermes
cho thấy chúng là một loài mối có khả năng thích nghi rất cao, gây hại nguy hiểm
và khó phòng trừ. Nếu không dựa vào những hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm sinh
học, sinh thái học của chúng thì bất kỳ phƣơng pháp nào cũng khó có thể kiểm soát
đƣợc chúng. Ý thức đƣợc điều đó, gần đây rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề
cập đến vấn đề này. Nhiều kết quả nghiên cứu đã làm thay đổi nhận thức đơn giản
trƣớc đây về Coptotermes.
Nhiều phƣơng pháp diệt các loài mối thuộc giống Coptotermes đã đƣợc các
tác giả trong nƣớc đề cập đến trong các công trình nghiên cứu nhƣ Nguyễn Đức
Khảm (1976, 1985) [11][12]; Nguyễn Ngọc Kiểng (1987) [15]; Nguyễn Chí Thanh
(1996) [24]; Vũ Văn Tuyển (1993) [33]. Phƣơng pháp diệt mối gián tiếp, không
phải tìm tổ với kỹ thuật nhử và phun thuốc TM67 hoặc DM90 của Nguyễn Chí
Thanh (1996) đƣợc phát triển dựa trên cơ sở phƣơng pháp “Lây nhiễm trực tiếp trên
19
tổ mối” của Lý Thuỷ Mỹ (1961) [17] và cách nhử mối của Nguyễn Thế Viễn (1964)
[38]. Cơ sở khoa học của phƣơng pháp là sự tác động làm mất tính ổn định của tổ
mối một cách đột ngột, quần thể còn lại không thể phục hồi đƣợc trạng thái cân
bằng cần thiết trƣớc đó dẫn đến tổ mối sẽ bị tiêu diệt. Đây là một phƣơng pháp đƣợc
áp dụng chủ yếu ở nƣớc ta trong những năm trƣớc đây. Nhƣng phƣơng pháp này có
hạn chế là nếu nhử mối ở xa tổ thì tỷ lệ thành công thấp và thƣờng phải dùng hoá