ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA: ISOPTERA)
TRONG MỘT SỐ CÔNG TRÌNH DI TÍCH TỈNH THANH HÓA
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA: ISOPTERA)
TRONG MỘT SỐ CÔNG TRÌNH DI TÍCH TỈNH THANH HÓA
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
Chuyên ngành:
Mã số:
Động vật học
60 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trần Văn Thành
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1.
Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc trên thế giới ............... 3
1.2.
Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc tại Việt Nam ............ 14
1.3.
Tình hình nghiên cứu mối tại tỉnh Thanh Hóa ........................................ 18
Chương 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU...................................................................................................................... 19
2.1.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu .............................................................. 19
2.2.
Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội khu vực nghiên cứu ........... 21
2.3.
3.3.1. Loài Cryptotermes domesticus ............................................................. 43
3.3.2. Loài Coptotermes gestroi ..................................................................... 46
3.3.3. Loài Odontotermes hainanensis ........................................................... 48
3.4.
Đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính...................................... 50
3.4.1. Cơ sở khoa học phòng trừ mối ............................................................. 50
3.4.2. Đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả ................................................. 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 58
Danh mục bảng
Nội dung
Trang
Bảng 2.1.
Danh sách địa điểm các di tích nghiên cứu
Bảng 3.1.
Danh sách thành phần loài mối thu được trong các khu di tích
20
Phân bố của mối theo các vùng cảnh quan
37
Bảng 3.7.
Thành phần loài mối gây hại đối với công trình kiến trúc trong
các di tích trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.8.
Số lượng loài mối xâm hại đối với mỗi công trình di tích trong
khu vực điều tra
Bảng 3.9.
39
40
Tỉ lệ bắt gặp mối gây hại trong các hạng mục của các công
trình trong các di tích ở khu vực nghiên cứu
41
Danh mục hình
Nội dung
Hình dạng mối lính loài C. domesticus
44
Hình 3.5.
Hình dạng mối cánh loài C. domesticus
44
Hình 3.6.
Khung cửa bị hại bởi loài C. domesticus (trái) và phân mối khi
đùn ra bên ngoài (phải)
Hình 3.7.
45
Mối Coptotermes gestroi gây hại cột (A) và cấu kiện gỗ (B)
trong công trình di tích
47
Hình 3.8.
Hình dạng mối cánh loài O.hainanensis
48
Các công trình di tích là những công trình kiến trúc có ý nghĩa đặc biệt với
con người về văn hóa, lịch sử. Kết cấu đặc trưng của của loại công trình này chủ
yếu bằng các vật liệu gỗ truyền thống, khiến cho chúng trở thành đối tượng bị mối
gây hại nặng nề. Đã có rất nhiều những ghi nhận về tình hình mối gây hại trong
những công trình di tích nổi tiếng trên thế giới như tại một số đền thờ ở Trung
Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, thậm chí cả một số di sản thế giới do
UNESCO công nhận như Khiva… Tại Việt Nam, mối cũng được coi là một trong
những nguyên nhân quan trọng đối với sự xuống cấp của các di tích lịch sử, văn hóa
lâu đời.
Thanh Hoá là một trong các tỉnh Bắc Trung Bộ, có vị trí chuyển tiếp giữa
miền Bắc và miền Trung. Các điều kiện tự nhiên tại đây có những đặc trưng rất
khác biệt, tạo cho Thanh Hóa có một hệ động, thực vật đa dạng, đặc biệt là khu hệ
côn trùng phong phú trong đó có mối. Tuy nhiên, những nghiên cứu về mối tại khu
vực này còn khá ít ỏi và chưa được quan tâm. Thanh Hóa cũng là một vùng đất có
lịch sử lâu đời, có nhiều di tích lịch sử. Theo số liệu mới nhất của Sở Văn hóa, Thể
1
thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh có 715 di tích, trong đó, có 141 di tích
được xếp hạng di tích cấp Quốc gia và 574 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Phần lớn
các di tích lịch sử là đền, đình, chùa, có nhiều vật liệu gỗ trong kiến trúc. Trải qua
thời gian, nhiều di tích đang phải đối mặt với nguy cơ bị xuống cấp do nhiều tác
nhân gây hại khác nhau, trong đó có sự gây hại của mối.
Vì vậy, để đánh giá được hiện trạng mối gây hại di tích trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống mối cho công trình di tích nói
chung và di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng,
chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta:
Isoptera) trong một số công trình di tích tỉnh Thanh Hóa và đề xuất biện pháp
phòng trừ” với các mục tiêu chính:
-
thân cây, gỗ mục và có khả năng tấn công làm tổ trong các cấu kiện gỗ của công
trình kiến trúc. Nhóm mối đất xây tổ hoàn toàn trong đất hoặc liên hệ chặt chẽ với
đất, độ ẩm phụ thuộc vào đất.
Tại các vùng ôn đới như Hoa Kỳ, Châu Âu hay Nhật Bản, nghiên cứu mối
tập trung vào một số giống mối gây hại thuộc về họ Rhinotermitidae, bao gồm các
giống Reticulitermes, Coptotermes và Heterotermes. Thông thường hiếm khi có thể
tìm thấy một giống mối khác ngoài các giống mối trên gây hại các công trình kiến
trúc tại các khu vực này [48]. Tại Mỹ, có 45 loài được xem là gây hại và chỉ có 9
loài trong số chúng là loài gây hại nghiêm trọng [80]. Trong đó, bao gồm một loài
mối bậc cao Nasutitermes costalis (Holmgren), hai loài mối gỗ khô: Cryptotermes
brevis (Walker) và Incisitermes minor (Hagen) và 6 loài mối ngầm: Coptotermes
formosanus Shiraki, C. gestroi (Wasmann), Reticulitermes flavipes (Kollar), R.
virginicus (Banks), R. hesperus Banks, Heterotermes aureus (Snyder) [79], [85].
Ngược lại, các nước nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới là nơi có
các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài mối, sự đa dạng của các loài
mối tại đây cũng cao hơn hẳn so với tại các khu vực ôn đới. Tại Malaysia và
Singapore, có 12 loài mối thuộc 7 giống được tìm thấy ở trong và ngoài các công
trình
kiến
trúc
(Coptotermes,
Macrotermes,
Microtermes,
Globitermes,
phạm vi kiếm ăn, dinh dưỡng tương hỗ giữa các cá thể trong quần tộc mối làm cơ
sở cho việc nghiên cứu và sử dụng bả để phòng trừ mối hiệu quả cũng được tăng
cường. Vào năm 1988, Nan Yao Su và Rudolf Scheffrah đã nghiên cứu về quần thể
và phạm vi kiếm ăn của mối Coptotermes formosanus bằng phương pháp đánh dấu
– thả ra – bắt lại. Kết quả cho thấy số lượng cá thể kiếm ăn trong một quần tộc là
khoảng 1,4 – 6,8.106 cá thể, phạm vi kiếm ăn của quần tộc là 162 – 3.571m2 [78].
4
Năm 2004, Ngee P-S và các cộng sự đã nghiên cứu quần thể mối kiếm ăn, đưa ra
chiến lược kiểm soát loài mối đất trong môi trường đô thị [56].
Ngoài ra có các nghiên cứu của French (2010) đã dựa trên phương pháp vật
lý thực nghiệm và mô hình toán học của Reotramel (2003) để hỗ trợ trong việc tính
toán ước lượng tuổi của mối ngầm tấn công và gây hại trong các công trình kiến
trúc [29].
Các đặc điểm về bay phân đàn của mối cũng đã được nghiên cứu từ rất lâu.
Năm 1983, Higa và Tamashiro đã nghiên cứu thời điểm bay giao hoan của mối C.
formosanus tại Hawaii. Tại đây, loài mối này bay phân đàn vào từ tháng 4 đến
tháng 7, trong đó mạnh nhất là vào tháng 5, cùng thời gian bay của hai loài mối gỗ
khô Cryptotermes brevis và Incitistermes immigrans, tuy nhiên thời gian cực đỉnh
có thể muộn hơn 1 – 2 tháng [40].
Năm 2012 tại hội nghị TRG 9, Ching-Chen Lee, Foong-Kuan Foo và ChowYang Lee đã thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng cá thể mối và
kích thước hộp nuôi đến việc duy trì mối Macrotermes gilvus trong phòng thí
nghiệm, nhằm mục đích thử nghiệm các thuốc diệt trừ chúng [49]. Kok-Boon Neoh
và cộng sự (2009) đã nghiên cứu về hoạt động bay trong hai vùng phân bố của
Macrotermes gilvus và Macrotermes carbonarius tại Malaysia. Kết quả cho thấy,
mùa bay giao hoan của mối M. gilvus được ghi nhận trong vòng 7 tháng (từ tháng 3
đến tháng 9) trong khi ở M. carbonarius là từ tháng 11 đến tháng 1. Ngoài ra, các
tác giả còn nghiên cứu những điều kiện ảnh hưởng đến việc bay giao hoan của
tập thể các nhà nghiên cứu mối của Quảng Đông đã cùng cho xuất bản cuốn sách
“Nghiên cứu mối”, ngoài phần giới thiệu chung, mỗi tác giả lại đi sâu vào từng chủ
đề như mối hại công trình thủy lợi, mối hại công trình kiến trúc, mối hại cây xanh.
Lin Shu - Qing (2004) cùng các nhà khoa học của Trung tâm Phòng trừ mối toàn
quốc cũng biên soạn cuốn “Sổ tay hướng dẫn phòng trừ mối ở Trung Quốc”. Nội
dung cuốn sách bao gồm tất cả các kiến thức chung về mối như hình thái giải phẫu,
đặc điểm sinh học, sinh thái học cũng như thành phần loài và các biện pháp phòng
trừ. Năm 1986, trong cuốn sách của mình Edwards và Mill đã đưa ra được các đặc
điểm sinh học, nhận dạng phân bố, vòng đời, cũng như khóa phân loại đến các họ
mối. Ngoài ra, tác giả cũng nêu lên được các tác động về kinh tế của mối đến các
công trình kiến trúc. Các phương pháp xử lý mối, trong đó tập trung vào phương
pháp hóa học [26].
6
Ngày nay, với sự phát triển mạnh của công nghệ sinh học, trong các nghiên
cứu về mối hại công trình kiến trúc, việc ứng dụng công nghệ ADN, công nghệ gen
cũng được sử dụng rộng rãi. Đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định hệ thống phân
loại của các nhóm mối như Coptotermes, Reticulitermes, Odontotermes [91]. Năm
2009, Yeap và các cộng sự đã dựa vào bằng chứng sinh học phân tử khi xếp 11 loài
mối Coptotermes thành 6 nhóm. Các tác giả đã nhận định rằng C. cochlearus and C.
dimorphus có khả năng chỉ là loài đồng dạng với C. formosanus do sự sai khác về
ADN chỉ lên đến 1% [93].
Các nghiên cứu về mối trên thế giới tập trung vào tìm kiếm các biện pháp
phòng trừ. Việc kiểm soát mối cho một công trình kiến trúc bao gồm sự kết hợp của
các biện pháp bảo vệ như các hàng rào hóa học, vật lý.
Các rào cản vật lý được áp dụng cho việc ngăn chặn mối xâm nhập vào các
công trình kiến trúc, phát hiện tổ mối cũng như để diệt trừ mối. Harrington (2004)
đã đưa ra một rào cản để ngăn chặn xâm nhập của mối trên bề mặt của một cấu trúc,
bao gồm một chất keo dính có khả năng cản trở và bẫy mối trên bề mặt [39]. Các
quả tối ưu đã đạt được trên máy phát sóng điện từ với tần số 300 KHz và thời gian
chiếu xạ khoảng 60 phút cho cả C. curvignathus Holmgren và C. fcormosanus
Shirak [25].
Ngoài các phương pháp vật lý thì các phương pháp tiếp cận trong việc sử
dụng hóa chất để diệt trừ và ngăn cản mối đã được sử dụng từ những hơn 80 năm
trước. Việc xử lý bằng các chất hóa học trong đất tạo ra một rào cản hóa học trong
đất, ngăn không cho mối xâm nhập từ môi trường tự nhiên vào các công trình cần
bảo vệ. Phương thức này được thực hiện theo hai cách: áp dụng cho đất trước khi
đổ sàn và chu vi quanh công trình hoặc xung quanh tường nhà và đồ nội thất (đối
với công trình đã xây dựng) [60]. Ban đầu, các hóa chất được sử dụng là các hợp
chất của arsen được sử dụng để bảo vệ các cấu kiện bằng gỗ [62], [65]. Từ những
năm sau của thập kỉ 40 của thế kỉ 20, việc kiểm soát mối chuyển sang sử dụng chất
hóa học cho việc xử lý đất bằng các hợp chất clo hữu cơ (cyclodiene) [80]. Tuy
nhiên, các hợp chất này gây độc khá cao đối với môi trường cũng như với sức khỏe
con người, do đó chúng đã bị cấm sử dụng vào năm 1988. Sau đó người ta chuyển
sang sử dụng các hợp chất phosphate hữu cơ như chlorpyrifos, pryfon và các
pyrethroid tổng hợp. Tuy nhiên, các chlorpyrifos nhanh chóng bị ngừng sử dụng
cho lượng tồn dư ngắn và các phản ứng không tốt đối với môi trường, gây độc cao
8
đối với động vật và con người nhưng lại ít độc với mối đất ngầm [50], [73]. Các
pyrethroid tổng hợp mặc dù có tác dụng trong việc tiêu diệt mối bằng phương pháp
tiếp xúc trực tiếp nhưng đặc tính xua đuổi của chúng khiến cho các mối thợ khác
phát hiện ra hóa chất và sẽ tránh xa các khu vực được xử lý [79]. Do đó, việc sử
dụng các thuốc diệt côn trùng không có tác dụng xua đuổi trong quá trình kiểm soát
mối đất ngầm đã trở nên rất phổ biến từ những năm cuối thập niên 90 và đầu những
năm 2000. Một phần nào đó do tác động chậm của các thuốc diệt côn trùng cho
phép mối được xử lý có thể truyền các chất độc qua cá thể cùng tổ và dạng sinh sản
thông qua tương tác xã hội dẫn đến kết quả loại trừ được các tổ mối [34].
biến nhất trong và xung quanh công trình kiến trúc nhưng trong môi trường đô thị
thì họ mối Termitidae vẫn là họ có số lượng loài đa dạng nhất [45]. Nếu chỉ xử lý
nhóm mối gỗ ẩm thì sẽ gia tăng sự phát triển của nhóm mối bậc cao. Tuy nhiên
nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc loại trừ các tổ mối bậc cao bằng phương pháp
sử dụng bả, đặc biệt là đối với nhóm mối có xây dựng vườn nấm (Macrotermitinae)
là khá khó khăn. Lee Chow Yang chỉ ra rằng việc loại trừ các tổ mối Macrotermes
gilvus sẽ khó khăn hơn khi vùng bị nhiễm trước đó đã được xử lý bả đối với
Coptotermes. M. gilvus được tìm thấy trong nhà chỉ sau khoảng 2 tháng sau khi tổ
mối Coptoteremes bị yếu đi hoặc bị loại trừ. Phương pháp thường được áp dụng để
xử lý vấn đề này là sử dụng các thuốc hóa học nhằm xử lý đất ngăn ngừa mối [48].
Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu về bả sử dụng cho nhóm mối bậc cao. Năm
2006, các nhà khoa học Qiu-ying Huanga, Chao-liang Leib và Dong Xue đã tiến
hành đánh giá hiệu quả của bả fipronil đối với mối Odontotermes formosanus, một
trong những loài mối có vườn cấy nấm gây hại nhiều cho các công trình kiến trúc.
Kết quả cho thấy khoảng 3 - 5mg fipronil có thể hạn chế được tổ mối O.
formosanus có khoảng 0,4 - 0,7 triệu mối thợ kiếm ăn [42]. Neoh Kok Boon và
cộng sự (2011) đã có những nghiên cứu về việc sử dụng bả có hoạt chất bistrifluron
trong việc loại trừ các tổ mối Globitermes sulphureus [55]. Mo và cộng sự (2005)
đã nghiên cứu độc tính của acetamiprid đối với mối thợ của một số loài mối gây hại
cho công trình kiến trúc trong đó có loài O. formosanus. Hơn 90% cá thể mối chết
trong 120 giờ sau khi tiếp xúc với đất có chứa 4,8 ppm acetamiprid [53].
Ngoài ra, Indrayani (2010) đã bước đầu thí nghiệm bả diệt mối gỗ khô
Incisitermes minor trong phòng thí nghiệm. Hợp chất bả được dùng dưới dạng gel
với thành phần gồm hoạt chất (2,15% hydramethylnon) và chất hấp dẫn được sử
10
dụng để thử nghiệm. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng bả dạng gel có thể áp dụng
cho việc loại trừ mối gỗ khô và khuyến cáo nghiên cứu sâu hơn để áp dụng phương
thức này cũng như việc xây dựng hệ thống trạm bả để xử lý mối gỗ khô [43].
Phát kiến mang số hiệu của A1 Bedoukian và Raina (2011) cũng đã nghiên cứu và
chứng minh được các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên như carvone, linalool,
styralyl alcohol và tetrahydrolinalool có thể được dùng để kiểm soát một số côn
trùng hại trong đó có mối Coptotermes formosanus [64]. Upadhyay, Jaiswal và
Ahmad (2012) cũng đã nghiên cứu sử dụng những hợp chất được chiết xuất từ
Capparis deciduaand để diệt mối Odontotermes obesus tại Ấn Độ [90]. Thêm vào
đó, dựa vào những kinh nghiệm của các nông dân khi dùng rễ cỏ vetiver để làm lớp
phủ chống mối và các côn trùng khác cho cây trồng mới, các nhà khoa học tại Los
Angeles đã nghiên cứu sử dụng tinh dầu chiết xuất từ rễ loại cỏ này để diệt mối. Kết
quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng lớp phủ có chứa rễ của cỏ vetiver hay sử
dụng dầu được chiết xuất từ rễ của chúng để xử lý đất cho kết quả khả quan, làm
mối giảm xây dựng đường mui, giảm tiêu thụ thức ăn và tăng mức độ tử vong của
mối. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng cỏ vetiver có thể hữu dụng như
các hợp chất không có tác dụng xua đuổi đối với mối trong cảnh quan đô thị [57].
Tại Pakistan, năm 2009, Sheikh đã nghiên cứu tác động của lá cây Nerium oleander
lên mối Coptotermes heimi tại Pakistan. Tuy nhiên, kết quả không cho thấy sự thay
đổi rõ rệt nào trong hoạt động kiếm ăn và đắp đường mui của mối, nhưng lại cho
thấy tỉ lệ chết của mối thay đổi theo nhiệt độ và độ ẩm. Điều này mở ra hướng
nghiên cứu mới về việc tách chiết các thành phần hóa học của cây từ các bộ phận
khác nhau nhằm chế tạo các hợp chất diệt mối [68].
Một hướng nghiên cứu nữa trong các biện pháp sinh học phòng trừ mối là
việc nghiên cứu các vi sinh vật gây bệnh hoặc kí sinh trên mối. Các đối tượng
thường được thử nghiệm là nấm, giun tròn kí sinh và vi khuẩn. Trong số các loài
nấm được nghiên cứu để phòng chống mối có 2 đối tượng được quan tâm nhiều hơn
cả là Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae lên nhiều giống mối như
Nasutitermes,
Coptotermes,
Reticulitermes,
aureus và G. perplexus gây ra bởi S. riobrave. Nồng độ giun tròn và khả năng ủ
bệnh ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ chết của mối H. aureus. S. riobrave là nguyên
nhân gây ra các mức độ lây nhiễm và tỷ lệ tử vong cao nhất của H. aureusin [94].
Thêm vào đó, các đoạn gen, đoạn ARN cũng được sử dụng như những tác
nhân gây bệnh cho mối, được nghiên cứu trở thành biện pháp phòng trừ đáng được
lưu tâm trong tương lai [88]. Nghiên cứu của Zhou và các cộng sự (2008) cho thấy
đã có những biến dạng về hình thái của mối Reticulitermes flavipes khi chúng tiêu
hóa sợi kép hex-2 ds ARN [95].
Đối với các công trình di tích trên thế giới, mối từ lâu đã được ghi nhận là
một trong những loài sinh vật hại lớn. Tại Mỹ, Nan Yao Su và cộng sự đã áp dụng
phương pháp kiểm soát các loài mối ngầm bằng việc sử dụng hệ thống trạm bả trên
nhiều công trình di tích nổi tiếng như Tượng Nữ thần Tự do [84], phức hợp phố cổ
kiểu Pháp Cabildo [77], khu di tích quốc gia San Juan [81], và tại khu di tích quốc
gia Christiansted, St. Croix (2003) [82]. Công tác kiểm soát mối cũng được thực
hiện tại một số công viên quốc gia như Cane River Creole, và New Orleans Jazz
13
[30]. Tại Hàn Quốc đã có những nghiên cứu bước đầu về tình hình mối hại trong
các di tích của Viện Nghiên cứu quốc gia về Di sản văn hóa. Tại Bồ Đào Nha, Lina
Nunes cũng chỉ ra mối nguy hại của các loài mối ngầm thuộc giống Reticulitermes
và mối gỗ khô Cryptotermes trong các tòa nhà cổ tại đất nước này [58]. Bả diệt mối
cũng được sử dụng trong công tác diệt mối tại Santa Maria della Sanità tại Naples
(Italia) [32].
1.2.
Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc tại Việt Nam
Bên cạnh những nghiên cứu điều tra thành phần loài, xác định các loài gây
hại chính cho các đối tượng cần bảo vệ, các nghiên cứu chuyên sâu hơn về phân
[12]. Trịnh Văn Hạnh và cộng sự (2007) đã xác định tỉ lệ đẳng của mối
Coptotermes formosanus. Kết quả cho thấy, trong phòng thí nghiệm tỷ lệ mối lính
và mối thợ trưởng thành trong tổ luôn được điều chỉnh ổn định, trung bình khoảng
80,6% mối thợ 13,3% mối lính và 6,3% mối non. Tỷ lệ mối thợ trong đàn mối kiếm
ăn ngoài tự nhiên trung bình nằm trong khoảng 79,2% - 91,1%. Năm 2008, Trịnh
Văn Hạnh và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu phương pháp nuôi mối
Coptotermes formosanus tách chúa trong điều kiện phòng thí nghiệm để nghiên cứu
thời gian sống sót của chúng để thử nghiệm bả diệt mối. Trong đó tỉ lệ các đẳng cấp
càng gần với tỉ lệ trong quần tộc C. formosanus ngoài tự nhiên giữa mối thợ: mối
lính: mối non là 80:15:5 thì tỉ lệ sống sót càng tăng [4]. Nguyễn Thị My và cộng sự,
năm 2011, đã nghiên cứu ước lượng cá thể mối Coptotermes trong tổ mối bằng cách
sử dụng phương pháp đánh dấu - thả ra - bắt lại. Kết quả cho thấy, số lượng cá thể
mối vào khoảng 647,595 ± 205,026 (trong khoảng từ 119,170 đến 159,357) [11].
Như vậy, có thể thấy hai loài thuộc về hai nhóm mối khác nhau có tỉ lệ đẳng cấp và
sự phân công lao động không giống nhau. Các kết quả nghiên cứu của các tác giả
trên là cơ sở quan trọng trong quá trình lựa chọn các biện pháp phòng chống mối
thông qua con đường lây nhiễm. Nguyễn Văn Quảng và cộng sự (2012) cũng đã
tiến hành nghiên cứu tỉ lệ đẳng cấp và sự phân công lao động của mối Macrotermes
annandalei trong các hoạt động kiếm ăn, xây tổ và nhận thấy trong các hoạt động
này mối thợ lớn luôn chiếm ưu thế về tỉ lệ so với mối thợ nhỏ và mối lính.
Trịnh Văn Hạnh (2007) đã tiến hành theo dõi hoạt động bay phân đàn của
mối Coptotemes formosanus tại 6 tổ mối ở Hà Nội và xác định được số lượng mối
cánh trung bình bay phân đàn trong tổ (vào khoảng 21.666 cá thể), cũng như thời
điểm bay của chúng trong năm (vào khoảng đầu tháng 4 đến tháng 5 hàng năm. Đây
15
là một dẫn liệu quan trọng trong phòng trừ Coptotermes formosanus vốn được xem
là loài mối chủ yếu gây hại cho các công trình kiến trúc và kho tàng.
Dựa trên những hiểu biết về sinh học, sinh thái mối, các biện pháp phòng trừ
mối, gây ô nhiễm môi trường. Ngô Trí Côi và cộng sự (2007) đã ứng dụng công
nghệ ra đa để xác định tổ mối và đã xác định chính xác các khoang tổ mối, thậm chí
cả những khoang có kích thước 20 cm.
Từ khoảng nửa sau thập niên 90 tại Việt Nam đã xuất hiện một số hướng đi
mới trong lĩnh vực nghiên cứu mối. Một mảng nghiên cứu được nhiều tác giả quan
tâm là thử nghiệm và sản xuất chế phẩm Metarhizium phòng trừ mối
Tạ Kim Chỉnh và Nguyễn Đức Khảm (1996) đã bước đầu thử nghiệm độc
tính của một số chủng vi nấm diệt mối hại kiến trúc và cây vải thiều [1]. Tạ Kim
Chỉnh và cộng sự (2001) đã công bố các dẫn liệu về đặc điểm sinh học của hai
chủng vi nấm Metarhizium Ma6 và Baeuveria Bb phân lập từ các mẫu khác nhau
cùng với hiệu lực diệt mối (Coptotermes) của chúng [2]. Chế phẩm Metarhizium để
diệt mối Odontotermes hainannensis trên đê đã được Trịnh Văn Hạnh và cộng sự
(2005) nghiên cứu và thử nghiệm khá thành công đã và đang dần thay thế cho các
hóa chất trong quá trình xử lý mối hại đê [6]. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể
tiêu diệt tổ mối bằng cách bơm dung dịch chế phẩm qua lỗ bay phân đàn của mối
mà không cần đào bới tổ. Ngoài ra, Nguyễn Quốc Huy và cộng sự (2011) đã tiến
hành thử nghiệm so sánh hiệu lực của các loại bả ức chế quá trình tổng hợp kitin
của mối. Trịnh Văn Hạnh (2007) đã giới thiệu 3 loại chế phẩm sinh học dùng trong
phòng chống mối là Metavina 90DP dùng diệt mối cho công trình kiến trúc;
Metavina 10DP dùng phòng mối cho công trình kiến trúc và sản phẩm Metavina
80LS dùng diệt mối cho đê, đập. Đây có thể coi là bước tiến quan trọng trong lịch
sử nghiên cứu về phòng chống mối của Việt Nam. Lần đầu tiên, Việt Nam có
những sản phẩm chống mối hiệu quả và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên do giá
thành xử lý cao và yêu cầu người sử dụng phải có trình độ kỹ thuật nhất định, nên
các cán bộ của Viện Sinh thái và bảo vệ công trình tiếp tục nghiên cứu các sản
phẩm bả diệt mối mới mang tính ứng dụng cao và dễ sử dụng hơn.
Năm 2004, Nguyễn Tân Vương và cộng sự giới thiệu công trình nghiên cứu
về 1 loại bả diệt mối mới với tên gọi BDM 04. Theo tác giả, loại bả này có hiệu quả
cao với giống mối Coptotermes gây hại chủ yếu đối với công trình kiến trúc tại Việt
Nam. Liều lượng sử dụng là 10- 20g/tổ và hiệu quả của bả phát huy trong thời gian
vực riêng biệt.
Các nghiên cứu về mối hại công trình kiến trúc nói chung cũng như mối hại
công trình di tích nói riêng đều chưa được tiến hành trên địa bàn.
18