Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính cho di tích cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Quang Thịnh NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA:
ISOPTERA) VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ LOÀI GÂY HẠI
CHÍNH CHO DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo
nhiều thận lợi trong quá trình học tập của Ban Lãnh đạo Viện Sinh thái và
Bảo vệ công trình, đặc biệt Viện trưởng PGS. TS. Trịnh Văn Hạnh.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp trong Viện Sinh thái
và Bảo vệ công trình, các cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, điều tra khảo sát để có số
liệu viết luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn vợ, các con và người thân trong gia đình đã
dành những tình cảm, sự quan tâm và kích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn.
Học viên Lê Quang Thịnh MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới 4
1.2. Tình hình nghiên cứu mối ở Việt Nam 11
1.3. Tình hình nghiên cứu mối ở Thừa Thiên Huế 19
CHƢƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 22
2.1. Địa điểm nghiên cứu 22
2.2. Vị trí địa lý, địa hình và đặc điểm tự nhiên khu di tích Cố đô Huế 23
2.2.1. Vị trí địa lý 24
2.2.2. Đặc điểm địa hình 24

3.3.2. Đặc điểm bay phân đàn của Coptotermes gestroi 54
3.3.3. Cấu trúc tổ của loài mối Coptotermes gestroi 57
3.3.4. Tỉ lệ đẳng cấp trong quần tộc Coptotermes gestroi kiếm ăn 59 3.3.5. Quá trình lan truyền thức ăn trong quần tộc Coptotermes gestroi 62
3.4. Đề xuất biện pháp phòng trừ mối cho các công trình di tích trong
khu di tích Cố đô Huế 64
3.4.1. Cơ sở khoa học của biện pháp đề xuất 64
3.4.1.1. Xu hướng phòng trừ mối cho công trình kiến trúc ở Việt Nam và
Thế giới 64
3.4.1.2. Các biện pháp phòng trừ mối Coptotermes đã áp dụng cho các
công trình di tích thuộc khu di tích Cố đô Huế 66
3.4.1.3. Những ưu, nhược điểm của các biện pháp phòng trừ mối cho các
công trình di tích thuộc khu di tích Cố đô Huế 68
3.4.2. Biện pháp đề xuất phòng trừ mối Coptotermes gestroi cho các công
trình di tích trong khu di tích Cố đô Huế 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1
Các tiêu chí đánh giá dùng để xác định điểm số gây hại
của mối cho công trình di tích
31

Tỉ lệ % mối thợ, mối lính và mối non trong đàn mối
Coptotermes gestroi kiếm ăn
60
Bảng 3.10
Tỷ lệ % cá thể mối Coptotermes gestroi có thức ăn được
đánh dấu trong ruột trong tổng số 200 cá thể sau những
khoảng thời gian thí nghiệm khác nhau
62 DANH MỤC CÁC HÌNH Trang
Hình 2.1
Sơ đồ vị trí các điểm nghiên cứu
22
Hình 2.2
Sơ đồ Đại Nội thuộc Kinh thành Huế
23
Hình 2.3
Điều tra, thu mẫu trong sinh cảnh công trình kiến trúc
28
Hình 2.4
Điều tra, thu mẫu trong sinh cảnh thảm cỏ, đất trống xung
quanh di tích
28
Hình 2.5
Điều tra, thu mẫu trong sinh cảnh cây trồng
29

Hình 3.9
Tổ mối Coptotermes gestroi trong gốc cây chết ở lăng Tự Đức
57 Hình 3.10
Tổ phụ rỗng của mối Coptotermes gestroi trong lăng Tự Đức
58
Hình 3.11
Một phần tổ mối Coptotermes gestroi thu được trong khu vực
Đại Nội
59
Hình 3.12
Giao động của tỉ lệ % các đẳng cấp ở đàn mối Coptotermes
gestroi kiếm ăn
61
Hình 3.13
Biến thiên tỷ lệ % cá thể mối Coptotermes gestroi có thức ăn
được đánh dấu trong ruột theo thời gian thí nghiệm
63
Hình 3.14
Hệ thống trạm phòng chống mối được thử nghiệm tại lăng Tự
Đức
67
Hình 3.15
Công tác phun tẩm hóa chất vào các cấu kiện gỗ trước khi đưa
vào thi công
68
Hình 3.16
Công tác khoan tạo hàng rào hóa chất xung quanh công trình

tự nhiên.
Với con người, mối được xếp vào nhóm côn trùng gây hại. Do thức ăn
của mối là các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên đối tượng gây hại của mối
là các công trình kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, di tích lịch sử, văn hóa v.v.);
các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện (đê, đập đất); các loại cây trồng (cây nông
nghiệp, cây công nghiệp, cây cổ thụ, cây xanh đường phố)…. Mỗi đối tượng
có một loài hay một nhóm loài gây hại chính. Ví dụ: giống mối Coptotermes
gây hại chủ yếu cho công trình kiến trúc, giống mối Odontotermes gây hại
trên các công trình thủy lợi hoặc cây trồng.
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối tập trung
chủ yếu theo hai hướng chính: điều tra đa dạng sinh học của mối và nghiên
cứu các giải pháp phòng trừ các loài mối gây hại trên các đối tượng cụ thể. Đã
có nhiều nghiên cứu về điều tra đa dạng sinh học mối được tiến hành như:
Nguyễn Đức Khảm (1976) [10], Lê Trọng Sơn (1996) [23], Nguyễn Tân
Vương (1997) [40], Nguyễn Văn Quảng (2003) [18], Ngô Trường Sơn (2009)
[28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], v.v. Các nghiên cứu thường tập trung vào
môi trường tự nhiên như vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Những
dẫn liệu về thành phần loài mối vùng đồng bằng, thành phố đặc biệt là tại các
khu di tích lịch sử, văn hóa còn ít và tản mạn. Theo hướng nghiên cứu giải
2

pháp phòng trừ mối trên các đối tượng ở Việt Nam có thể kể đến những công
trình của Trịnh Văn Hạnh (2002, 2005, 2008, 2011) [3, 4, 5, 6], Ngô Trường
Sơn (2009) [28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], Nguyễn Tân Vương (2005,
2008, 2010) [41, 42, 43] v.v. Trong đó, biện pháp lây nhiễm sử dụng bả độc
được áp dụng có hiệu quả cao đối với giống mối Coptotermes gây hại công
trình kiến trúc.
Khu di tích Cố đô Huế bao gồm một quần thể các di tích lịch sử - văn
hoá do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến
nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới
Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) được coi là công trình đầu tiên
có tính hệ thống học về mối trên thế giới. Kể từ đó bắt đầu thời kỳ phát triển
mạnh mẽ các nghiên cứu về phân loại học hình thái mối.
Holmgren (1912, 1913) đã nghiên cứu phân loại và một phần sinh học
mối khu hệ Ấn Độ. Müller (1915, 1921) mô tả một số giống mối, trong đó tập
trung chủ yếu về các loài thuộc giống Anoplotermes. Oshima (1919) đã
nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin. John (1913, 1925) đã tiến hành
nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia. Muộn
hơn có Light và Wilson với các nghiên cứu về mối ở Trung Quốc và Philippin
(Light, 1929, 1931, 1934 và Light et al., 1936). Kalshoven đã đầu tư một thời
gian khá dài cho việc điều tra và nghiên cứu mối ở Java, các công bố của ông
được đăng tải trong những năm 1930, 1941, 1950, 1952 đến 1960 (dẫn theo
Nguyễn Quốc Huy, 2010) [8].
Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20 đến nay, các công trình nghiên cứu hệ
thống học về mối đã phát triển khá mạnh mẽ dựa trên các công trình cơ bản
của Snyder, Holmgren và Emerson.
Năm 1949, Snyder liệt kê tổng cộng 1.745 loài mối trên toàn thế giới và
đã cho xuất bản cuốn “Danh lục về mối trên thế giới”, trong đó ông lập được
một danh sách các loài thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae,
Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) với 130 giống, bao gồm cả
những loài hoá thạch [78]. Constantinho (2007), tổng hợp lại và công bố tổng
5

số loài mối được phát hiện trên toàn thế giới là 2.858 loài, thuộc 286 giống
[57].
Trong gần 3.000 loài mối được phát hiện thì các loài mối thuộc giống
Coptotermes trong phân họ Coptotermitinae và các giống Macrotermes,

tác mô tả và định loại đã được Roonwal (1969) [70] đưa ra. Cho đến nay,
phương pháp định loại mối đựa trên các đặc điểm hình thái ngoài vẫn là
phương pháp phổ biến. Một số nghiên cứu về sự biến đổi hình thái của mối đã
được thực hiện bởi Akhtar (1974) [50], Chootani và Das (1979) [55], Akhtar
và Ahmad (1991) [51] v.v dựa trên những nghiên cứu về vị trí và góc của
răng hàm trên bên trái mối lính và hình dạng của đầu như chỉ số giữa chiều
rộng nhất của đầu và chiều rộng đầu ở gốc hàm (ở mối lính), số đo của chiều
dài và rộng của môi trên (ở mối cánh).
Một công trình tiêu biểu khác về phân loại học mối phải kể đến là của
Manzoor Farkhanda (2002). Tác giả đã nghiên cứu về sự biến đổi hình thái
giữa 52 loài mối thuộc giống Odontotermes từ những nước như Bangladesh,
Burma, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan…. Tác giả đã lựa chọn đo
đạc và thống kê 10 thông số hình thái của 52 loài mối này [66]. Sự biến thiên
về kích thước của mỗi loài đã được tác giả mô tả khá rõ.
Tuy nhiên, có những loài mối có tập tính sinh học khác nhau nhưng hình
thái rất giống nhau, như các loài thuộc giống Coptotermes. Các đặc điểm này
là nguyên nhân gây khó khăn và nhầm lẫn cho công tác phân loại dựa vào
hình thái. Do đó cần phải có các phương pháp chính xác để bổ trợ. Sands
(1998) [75] đã sử dụng các đặc điểm hình thái của ruột như cấu tạo của van
7

ruột sau, cấu tạo của hệ thống ống Malpighi để phân loại đến giống và lập cây
chủng loại phát sinh của chúng. Tài liệu này là công cụ hữu ích để giải quyết
một số trường hợp các mẫu phân loại có đặc điểm hình thái ngoài phân biệt
không rõ ràng. Belyaeva (2006) [53] sử dụng hình thái cấu tạo cơ quan sinh
dục ngoài của mối cái để phân biệt các loài thuộc họ Kalotermitidae,
Hodotermitidae và Termitidae. Schefffrahn và Nan-Yao Su (2011) [76] đưa ra
một số đặc điểm hình thái đặc trưng của mối lính và mối cánh để phân biệt 2
loài mối Coptotermes formosanus và Coptotermes gestroi.
Phương pháp phân loại dựa trên hình thái ngoài không đòi hỏi nhiều

thấy tại Ấn Độ và Srilanka. Tác giả cũng là người đầu tiên mô tả cấu trúc ụ
nổi và vườn nấm của một loài mối, chú ý đến hoạt động nuôi cấy nấm và các
quả thể nấm tròn trắng trong cấu trúc vườn nấm.
Một nghiên cứu khác về sinh học, sinh thái học của mối cũng được
Noirot tiến hành từ năm 1970. Abe (1979, 1987) [44, 45] đã nghiên cứu một
số đặc điểm sinh thái của mối ở miền Tây Malaysia. Sen-Sarma (1974) [77]
cũng đã công bố công trình nghiên cứu về sinh thái học và địa sinh học của
một số loài mối ở Ấn Độ. Trong công trình này, tác giả đã bàn về đặc điểm
sinh thái học, đặc trưng phân bố của loài mối và mối quan hệ trong quần xã
động vật. So với những tiến bộ ngày nay thì công trình của ông còn mang tính
đại cương, tuy nhiên nó cũng đáp ứng được phần nào mục đích làm sáng tỏ
một số vấn đề còn đang gây tranh cãi thời đó.
Hou-Feng Li và cs. (2013) [63] nghiên cứu về cơ chế cạnh tranh và bảo vệ
vùng lãnh thổ của loài Coptotermes gestroi và Coptotermes formosanus và sử
dụng mô hình phân bố loài để dự đoán môi trường sống phù hợp cho loài
9

Coptotermes gestroi. Kết quả nghiên cứu của tác giả chứng minh rằng vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới là môi trường sống phù hợp hơn với loài Coptotermes gestroi.
Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học đạt được
là cơ sở quan trọng để các nhà nghiên cứu đưa ra các biện pháp phòng trừ phù
hợp cho từng loài. Các nghiên cứu về phương pháp phòng trừ mối chủ yếu tập
trung theo một vài hướng sau: (i) hướng nghiên cứu sử dụng các phương pháp
vật lý; (ii) hướng nghiên cứu phòng trừ mối bằng biện pháp sinh học và (iii)
hướng nghiên cứu sử dụng hóa chất diệt mối, trong đó biện pháp sử dụng bả
diệt mối được quan tâm hơn cả bởi những ưu điểm vượt trội so với các biện
pháp khác.
Ở hướng nghiên cứu phòng trừ mối bằng cách sử dụng các phương pháp
vật lý đã có một loạt công bố được cấp bằng sáng chế. Theo Ragon (2007)
[68], các nghiên cứu chủ yếu sử dụng các biện pháp và thiết bị điện, điện từ

- Nhóm chất ức chế sinh trưởng như: Hexaflumuron, Flufenoxuron,
Lufenurong, Diflubenzuron, Noviflumuron và Dimilin…
- Nhóm hormone kích thích sinh trưởng sớm như Methprene,
Pyripproxyfen…
- Nhóm gây độc dạ dày như Sulfluramid, Abemectin, Cryolite, Alkali,
Alkali kết hợp với acid boric…
- Nhóm các loại thuốc trừ sâu tổng hợp: Thiamethoxam, Imidacloprid,
Fipronil…
Những năm gần đây, với xu hướng bảo tồn đa dạng sinh học cũng như
bảo vệ môi trường, biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sử dụng bả được
11

quan tâm đặc biệt. Biện pháp này dựa trên nguyên tắc duy trì mật độ của các
quần tộc mối ở dưới ngưỡng cho phép cho một khu vực kiểm soát.
Năm 2004, Nan-Yao Su thuộc trường Đại học Florida, Hòa Kỳ đã xây
dựng một chiếc lược quản lý mối Coptotermes cho cả bang New-Orlands,
Hoa Kỳ [79]. Kết quả cho thấy, mật độ mối Coptotermes trong đô thị giảm rõ
rệt và giành được rất nhiều sự đánh giá cao của các nhà quản lý do tiết giảm
kinh phí xử lý, công sức cũng như sự hư hại của các cấu kiện gỗ trong các
công trình. Trong chiến lược này, công tác kiểm soát mối Coptotermes gây
hại được theo dõi định kỳ qua các hệ thống trạm nhử có gắn thiết bị theo dõi.
Do vậy, mối Coptotermes gây hại bị xử lý kịp thời trước khi chúng gây ra bất
kỳ một tổn thất đáng kể nào. Cũng với chiến lược quản lý dịch hại như vậy,
Nan-Yao Su và cs. (2004) [79] đã áp dụng thành công ở Lauderhill, Florida,
Hoa Kỳ. Forschler và Jenkins (2000) [59] đã ứng dụng quy trình quản lý dịch
hại cho cả một vùng nông thôn ở Bắc Mỹ và tác giả đã kết luận rằng, sự thành
công của dự án chủ yếu là các nhờ ứng dụng các hệ thống trạm bả.
1.2. Tình hình nghiên cứu mối ở Việt Nam
Nghiên cứu về phân loại, khu hệ và đa dạng về mối ở Việt Nam được
Bathellier (1927) [52] là người công bố đầu tiên. Ông đã mô tả hình thái của

Lê Văn Triển và cs. (1999-2003) đã tiến hành điều tra cơ bản các ẩn hoạ
cho đập nói chung, trong đó chú trọng các ẩn hoạ do mối gây ra. Tác giả công
bố các dẫn liệu về thành phần loài mối hại hệ thống đập đất của vùng Bắc
Trung Bộ (2000), vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (2000), vùng Nam
Trung Bộ (2001), vùng Đông Bắc Bắc Bộ (2002) và vùng Tây Bắc (2003)
[32, 33, 34, 35]. Kết quả đã xác định thành phần loài mối hại hệ thống đập các
13

vùng nói trên, nêu rõ các loài gây hại chính và cấu trúc khoang tổ của chúng.
Đồng thời tác giả đã công bố thành phần mối ở môi trường xung quanh đập
của các vùng nghiên cứu.
Nguyễn Quốc Huy (2010) [8] nghiên cứu thành phần loài mối ở Tây
Nguyên. Tác giả đã xác định được 95 loài thuộc 26 giống của 8 phân họ trong
3 họ mối: Kalotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae. Trong danh sách 95
loài có 15 loài bổ sung thêm cho khu hệ mối Việt Nam và có 6 giống, 30 loài
được ghi nhận lần đầu cho khu hệ mối Tây Nguyên.
Phương pháp định loại mối tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên các đặc
điểm hình thái. Tuy nhiên, trong quá trình sinh trưởng, phát triển ở các điều
kiện sinh thái khác nhau, mối có những biến đổi về hình thái trong cùng một
loài. Vì vậy, sự sai khác về hình thái trong cùng một loài dễ làm cho các nhà
phân loại gặp khó khăn trong định loại dẫn đến nhầm lẫn, điển hình là việc
định loại 2 loài Coptotermes gestroi và Coptotermes formosanus [79].
Song song với việc nghiên cứu thành phần loài mối, các nghiên cứu về
mối còn tập trung nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của các loài gây hại
chính làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng trừ mối một cách hợp
lý và hiệu quả. Ngoài ra các điều tra nghiên cứu mối đã đi sâu vào từng nhóm
đối tượng bị hại riêng như: mối hại các công trình thuỷ lợi (đê, đập), mối hại
nhà cửa, kho tàng và mối hại cây trồng, hướng tới xác định thành phần loài
mối đặc trưng và các biện pháp phòng trừ phù hợp.
Nghiên cứu sớm nhất về đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối ở

Nguyễn Văn Quảng (2003) [18] đã công bố kết quả nghiên cứu đặc điểm
sinh học, sinh thái học của mối Macrotermes Holmgren ở miền Bắc Việt Nam
15

và đề xuất biện pháp phòng trừ. Tác giả đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ
của các yếu tố cấu thành và duy trì cân bằng trong tổ mối như: Tỉ lệ đẳng cấp,
sự phân công lao động giữa các đẳng cấp trong quần tộc, quan hệ giữa mối và
nấm Termitomyces cộng sinh, từ đó định hướng cho công tác phòng trừ mối
Macrotermes đáp ứng với nhu cầu thực tế. Cụ thể là tác giả đã đề xuất bổ
sung biện pháp phòng trừ mối Macrotermes là sử dụng bả độc gây chết chậm,
ít độc cho môi trường, có thể lây truyền trong đàn mối, làm thay đổi tỷ lệ
thích hợp giữa mối và nấm, tạo điều kiện cho nấm lạ phát triển, dẫn đến thay
đổi vi khí hậu trong tổ mối theo hướng bất lợi đối với mối. Diệt mối bằng
cách kiềm chế hoặc diệt nấm Termitomyces trên vườn nấm thông qua việc sử
dụng các chất diệt nấm, gây nhiễu chu trình chế biến thức ăn của mối, cắt đứt
nguồn thức ăn của mối, nhất là mối thợ kiếm ăn. Đồng thời kích thích sự phát
triển nấm lạ vốn có trong vườn nấm, làm thay đổi vi khí hậu trong tổ mối. Tác
giả cũng đã đề nghị tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp sử dụng
bả trong phòng chống mối có vườn cấy nấm nói chung và mối Macrotermes
nói riêng.
Trịnh Văn Hạnh (2008) [5] đã tiến hành nghiên cứu về tỉ lệ mối thợ, mối
lính trưởng thành và mối non ở các điều kiện, vị trí và trạng thái khác nhau
của tổ mối C. formosanus và cho biết, mối thợ trưởng thành của tổ mối C.
forrmosanus chỉ có một loại, chúng đảm nhận cả chức năng kiếm ăn, xây tổ,
chăm sóc các thành phần khác, nên chúng chiếm tỉ lệ rất cao ở nơi kiếm ăn
(84,3%) cũng như trong tổ (86,0%). Do sử dụng thức ăn trực tiếp, trong quần
thể mối kiếm ăn ngoài đẳng cấp mối thợ và mối lính (10,8%) còn có cả mối
non (3,0%). Hầu hết các cá thể trong cùng một tổ của loài này đều luân phiên
ra ngoài tổ đi kiếm ăn và quay trở về tổ. Bằng thí nghiệm sử dụng chất bột
nhuộm màu, tác giả cũng chứng minh được sự lan truyền chất bột màu qua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status