Tài Liệu Tham Khảo
1. Phan Nguyên Hồng, 1997. Vai trò của Rừng ngập mặn Việt Nam. Nxb Nông
Nghiệp.224 trang
2. UBND xã Cẩm Thanh, “Báo cáo thuyết minh bản đồ hiện trạng sử dụng đất
năm 2005 của xã Cẩm Thanh”.
3. Dự án “ Phục hồi và bảo tồn Rừng Dừa Nước Cẩm Thanh phục vụ du lịch sinh
thái và phát triển bền vững”.Quỹ môi trường toàn cầu.
4. Cao Phương Nam, Cao Thanh Liêu ( Tháng 12/2008), “Khảo sát diễn biến các
chỉ tiêu TOC, Fe
2+
, NH
3
và H
2
S ở lớp nước đáy, bùn đáy trong các mô hình nuôi
tôm sú trên đất phèn hoạt động ở Cà Mau”, tạp chí Nông Nghiệp và Phát triển
Nông Thôn, số 12, trang 68-73.
5. Đinh Thanh Giang, Ngô Đình Quế ( Tháng 11/2008), “Nghiên cứu đặc điểm đất
dưới rừng trồng ngập mặn và mô hình lâm ngư kết hợp vùng ven biển huyện
Thái Thuỵ- Thái Bình”, tạp chí Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, số 11,
trang 88-92.
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn (2005), Khoa học công nghệ nông
nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới (Tập 3,Đất- Phân Bón), Nhà
xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội.
7. Ngô Đình Quế và CTV, “Đề xuất cơ chế chính sách nhằm khôi phục và phát
triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Việt Nam”, tạp chí Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, số 2, trang 3-8.
8. UBND xã Cẩm Thanh, “Báo cáo thuyết minh tổng kiểm kê đất đai năm 2000”
9. UBND xã Cẩm Thanh, “Báo cáo tóm tắt phương án quy hoạch sử dụng đất đai
thời kỳ 2006-2015”.
PHẦN 1:
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cau dừa - Arecaceae sinh sống trong vùng đất ngập nước ven biển và quần tụ thành
rừng. Đây là một loài cây đa tác dụng, trong đó tác dụng phòng hộ là nổi bật nhất.
Ngoài tác dụng phòng hộ như chắn sóng, chắn gió, bảo vệ bờ đất, cố định khí phát thải,
rừng Dừa nước còn là nơi cư trú và sinh sống của các loài sinh vật thủy sinh, các loài
chim nước và nhiều loài động vật có giá trị khác. Dừa nước còn có nhiều giá trị sử
dụng khác như: thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất hàng thủ công, mỹ
nghệ có giá trị kinh tế và thân thiện với môi trường, làm thức ăn gia súc, nguồn mật
nuôi ong đồng thời mang lại nguồn lợi thủy sản lớn và tạo thêm nhiều việc làm cho
người lao động vùng ven bờ vốn thường thiếu đất canh tác.
Khu vực Trung Trung bộ, là nơi luôn hứng chịu thiên tai nhiều ở mức hàng đầu
nước ta. Diện tích đất ngập nước, đặc biệt là nước mặn và nước lợ ở đây khá lớn nhưng
diện tích có rừng che phủ lại rất thấp và phân tán. Tuy vậy trong khu vực này vẫn tồn
tại một số điểm phân bố của loài cây Dừa nước là loài cây có tiềm năng phát triển
mạnh trên các vùng đất ngập nước có ảnh hưởng của thủy triều và độ nhiễm mặn của
biển. Cá biệt có những địa phương thuộc thành phố Hội An (Quảng Nam) diện tích
rừng Dừa nước vẫn còn hàng chục đến hàng trăm hecta. Đây là cơ hội tốt cho việc bảo
tồn và mở rộng diện tích gây trồng loài cây đa tác dụng này trên các vùng phân bố tự
nhiên của loài và cả trên những vùng đất ngập nước khác có điều kiện sinh thái phù
hợp trong khu vực.
Để góp phần bảo tồn và phát triển loài cây Dừa nước một cách khoa học và bền
vững trong vùng, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu hiện trạng phân bố và đặc
điểm sinh thái học của loài cây Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.) tại khu vực Trung
Trung bộ".
II. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu nghiên cứu
1.1. Mục tiêu chung: Góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu và cơ sở khoa học cho việc bảo
tồn và phát triển bền vững hệ thống rừng ngập mặn nói riêng và đất ngập nước nói
đổ ra biển Cửa Đại, T.P. Hội An. Dòng chảy thượng nguồn sông Thu Bồn đi ngang qua
huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam ngăn chia hai thôn Đồng Làng và Ngọc Linh.
Sông Thu Bồn hợp với hạ lưu sông Vu Gia ở huyện Điện Bàn ( Quảng Nam). Cả hai
dòng sông này đã trải phù sa cho vùng đất này, rồi lại hoà cùng dòng Trường Giang
chảy qua phố cổ Hội An và cuối cùng đổ ra biển Cửa Đại.
Phần hạ lưu của sông Thu Bồn đã tạo nên khu vực đất ngập nước ( ĐNN) rộng lớn,
quan trọng và đáng chú ý nhất là khu vực các xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Hà, Cẩm
Nam và vùng phụ cận với hơn 1200 hecta diện tích mặt nước. Các nhánh sông Ba
Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn đã tạo ra đa dạng các
cồn gò như thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã, gò Hí, gò Già…Hai bên bờ các kênh rạch
là các loài cây ngập mặn sinh sống, trong đó quan trọng nhất là các dãy cây dừa nước
(DN).
2.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu về các hệ sinh thái RNM và tình hình sử dụng
cây Dừa nước
Theo công ước Ramsar, (Điều 1.1), các vùng đất ngập nước được định nghĩa
như sau:” các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, tự nhiên
hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đúng hay chảy, nước ngọt, lợ hay
mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m”.
Ngoài ra, công ước ( Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước:” có thể
bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các
đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6 m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập
nước”. Vùng ĐNM hạ lưu sông Thu Bồn có rất nhiều hệ sinh thái quan trọng, trong đó
hệ sinh thái RNM là nổi bật nhất.
Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN
hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện đất đai cả nước, chủ yếu phân bố ở vùng châu thổ sông
Hồng, sông Cửu Long với các hệ sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông,
rừng ngập mặn dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên. ĐNN ở Việt Nam rất đa
dạng về loại hình, chức năng, gắn liền với tính đa dạng điều kiện của Việt Nam. Kế
hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam. Kế hoạch hành động Đa dạng sinh
học của Việt Nam( 1995) đã xác định 61 khu đất ngập nước quan trọng và gần đây cục
nước theo thuỷ triều.
Người dân ở Bangladesh trồng dừa nước thành ruộng để dùng cho nhu cầu làm
nhà.
DN phát triển ở các vùng nước ngọt và nước biển nơi có tác động của thuỷ triều.
Nhiều dân tộc biết khai thác đa dạng các sản phẩm từ DN như chế tạo đường từ dịch
chiết của buồng DN. Đây là công nghệ rất lý thú ở vùng quê của Dawei Township
(Thái Lan).Trong tiến trình chế tạo đường từ DN, trước tiên là cuống buồng DN sẽ
được cắt, sau đó dùng ống tre hứng phía dưới cuống buồng quả qua 1 đêm để lấy nước
nhựa từ cuống chảy ra. Sáng hôm sau ống tre sẽ đầy nước dừa và được thu hoạch.
Nước quả này sẽ được lọc rồi đun sôi trong chảo rộng. Khi sôi sẽ được vớt bọt để làm
nước đường sạch hơn. Sau khi đun sôi 3 giờ, nước quả này sẽ keo lại, để nguội và thu
được đường từ DN. Cuối cùng các ống tre sẽ được rửa sạch và được xông khói để dùng
cho việc thu thập nước quả DN vào ngày mai, và cứ lặp lại như vậy.
Đường DN rất ngọt, vì vậy chúng thường được dùng để làm nhiều thứ trong các
bữa ăn ở địa phương.
Nước quả DN dùng để uống vào buổi sáng nhưng vào buổi chiều chúng sẽ lên
men thành vị đắng, có thể làm say. Nước đắng của DN bây giờ rất giống với rượu,
được dân địa phương uống gọi là “Pa Ohn Ye”. Sau 2 ngày chứa trong hủ, bình. Nó
cũng còn được sử dụng để làm giấm. Dân địa phương còn biết làm mứt DN, đó là mứt
hoa DN. Khi DN trổ hoa, sẽ được cắt và nấu với đường chế tạo từ DN. Mứt sẽ được ăn
tráng miệng với trà xanh, sử dụng rất truyền thống ở địa phương.
2.2 Một số các đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Bắc
và Tây Nam. Hàng năm thường chịu ảnh hưởng từ 2-3 cơn bão và áp thấp nhiệt đới và
cũng từng ấy đợt lũ lụt. Do ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện tự nhiên đã tạo cho
vùng có các loại hình ĐNN đặc thù so với các vùng khác trong dải ven biển miền
Trung.
2.2.1 Thuỷ triều
Thuỷ triều là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phân bố và
nhật
triều
3,2 3,2 3,0 2,5 2,8 2,8 3,4 2,6 3,1 3,8 4,1 3,0 37,5
Biên độ
triều TB
48 48 47 48 49 48 49 49 48 46 42 45 47,25
Biên độ
triều cao
nhất(cm)
112
98 82 96 106
113
109
101 94 91 99 113
101
(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn Trung Trung Bộ)
2.2.2 Chế độ dòng chảy
-Vào thời kỳ mùa khô
Kết quả đo đạc tại trạm liên tục 1 ngày/đêm tại vùng Cửa Đại( có toạ độ là
108
0
23
0,2H 6,4-42,9
TB: 21,24
0,00-0,24
TB:0,10
0,6H 12,2-45,4
TB:29,06
0,00-0,23
TB:0,08
0,8H 1,9-35,4
TB:23,64
0,03—0,20
TB:0,08
(Nguồn:Đề tài KHCN 06-08)
1.2.3 Độ mặn
Độ mặn cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới sự phân bố và phát
triển của các loài cây DN nới riêng và các loài cây ngập mặn,loài thuỷ sinh vật
nóichung.
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, để đánh giá khả năng truyền mặn vào thời
kỳ mùa khô đã tiến hành khảo sát đo đạc theo mặt cắt dọc từ Cửa Đại lên đến Cầu Câu
Lâu( bảng 3)
Bảng 3: Số liệu nhiệt muối thời kỳ mùa khô( tháng 5) theo mặt cắt dọc từ Cửa Đại đến
Cầu Câu Lâu
Toạ độ địa lý TT
Kinh độ Vĩ độ
Độ sâu(m) Nhiệt độ
nước tầng
mặt(
0
C)
”
9,5 27,88 11,35
3 108
0
23
’
22,14
”
15
0
52
’
20,7
”
9,0 28,10 10,24
4 108
0
23
’
7,62
”
15
0
52
’
14,52
”
8,0 28,29 10,27
5 108
0
15
0
51
’
42,24
”
4,5 28,64 9,69
8 108
0
22
’
8,64
”
15
0
51
’
41,94
”
8,0 28,88 8,05
9 108
0
21
’
30,42
”
15
0
51
’
Các kết quả này được đo vào tháng 5, hơi thấp so với số liệu các kết quả đo
được trong chuyến khảo sát này, từ tháng 6 đến tháng 7/2010. ( có thể do mưa)
2.2.4 Tài nguyên đất
Trên địa bàn nghiên cứu có các loại đất sau:
- Đất cát pha:
Tập trung chủ yếu ở các khu vực Thuận Tình, Gò Già và khu vực Lùm Bà.
Đất thường có màu vàng xám, cấu trúc hạt nhẹ, xen với đất thịt nhẹ. Tầng canh
tác từ 10-15 cm
Đất xốp, nghèo chất hữu cơ
Thích hợp cho việc trồng cây lâu năm
- Đất mặn sú, vẹt, đước:
Tập trung ở các khu vực đất ngập nước vùng cửa sông thôn 2, thôn 7 và thôn 8.
Thực vật chủ yếu là dừa nước, cói, mắm,…
- Đất mặn nhiều:
Tập trung ở các vùng có địa hình thấp và trung bình. Phổ biến ở các thôn 2,7,8
và các khu vực gần đê ngăn mặn của các thôn 3,4,6.
Đất có chứa nhiều muối tan( chủ yếu là NaCl), không đồng nhất về màu sắc, lúc
khô có màu trắng.
Phẫu diện đơn giản, các tầng phát sinh chưa rõ.
Thành phần cơ giới nặng, sét vật lý 5-60%, cát vật lý 15-20%, lượng muối tan>
0,5%, độ PH trong đất 6-7,5%.
Thực vật chủ yếu là cói, tra, ô rô, các loại cây bụi ưa mặn.
Đất này thích hợp cho việc nuôi trồng thuỷ sản.
- Đất mặn trung bình và ít:
Nằm ở địa hình cao hơn đất mặn nhiều.
Tập trung ở khu vực hai bên đê ngăn mặn( trừ thôn 5)
Đất mặn do xâm nhập của nước thuỷ triều, do nước mạch mạnh, gió biển đưa
muối vào.
Đất có màu vàng nâu
o Khả năng tái sinh (dễ/ khó; mạnh/ TB/ kém )
o Hình thức, khả năng tự phát tán và mở rộng phân
bố quần thế
• Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cá thể và quần thể
o Tốc độ ra lá và sinh trưởng của tàu lá
o Khả năng tích lũy sinh khối khô của các bộ phận
khí sinh
o Tuổi ra hoa kết quả và thành thục tái sinh
• Đặc điểm vật hậu học (mùa ra lá, ra hoa, quả chín )
3.1.4 Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh trưởng, phát triển của
loài và lâm phần;
• Các yếu tố khí hậu
o Nhiệt độ không khí và tổng nhiệt
o Độ ẩm không khí
o Lượng mưa
o Chế độ bức xạ mặt trời
o Các yếu tố khí hậu khác (gió, gió mùa, thiên tai )
• Các yếu tố thổ nhưỡng
o Loại đất
o Đặc điểm vật lý của đất
Thành phần cơ giới
Độ ẩm đất
Độ dày tầng đất, độ sâu lớp bùn
o Đặc điểm hóa học đất
Độ pH
Độ mặn trong đất
Hàm lượng mùn và các chỉ tiêu đa lượng (N,P, K, Ca )
• Các yếu tố thủy văn/ hải văn
• Khác (an ninh, quốc phòng, giáo dục đào tạo )
3.1.6 Thử nghiệm xây dựng vùng phân bố lý thuyết và vùng phân bố tiềm năng của loài
trong khu vực Trung Trung bộ;
3.1.7 Bước đầu đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài trong hệ thống
rừng phòng hộ ven biển tại khu vực Trung trung bộ.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp khảo cứu, kế thừa số liệu thứ cấp
• Tham khảo tài liệu để nắm được các thông tin cơ bản về:
o Vị trí phân loại và danh pháp loài
o Nguồn gốc và vùng phân bố (trên thế giới và ở Việt Nam)
o Đặc điểm hình thái và sinh thái của loài (nếu có);
o Giá trị sử dụng của loài
• Kế thừa các số liệu do cơ quan chuyên ngành, tổ chức cá nhân thực hiện trên
cùng địa bàn nghiên cứu trong nhiều năm và những năm gần đây, bao gồm:
o Số liệu về khí hậu, thủy văn, hải văn;
o Số liệu về thổ nhưỡng, địa chất;
o Số liệu về diện tích đất ngập nước, ngập mặn;
o Diện tích và tài nguyên rừng ngập mặn, rừng trên đất ngập nước;
o Các thông tin về kinh tế xã hội có liên quan;
3.2.2 Phương pháp điều tra chuyên ngành
• Phỏng vấn thu thập thông tin trong cộng đồng và các bên liên quan, về:
o Nguồn gốc rừng Dừa nước tại địa phương
o Diễn biến diện tích, phân bố của rừng Dừa nước qua các thời kỳ
o Các nhân tố ảnh hưởng đến rừng Dừa nước
o Kiến thức bản địa trong bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng
o Đánh giá của cộng đồng và các bên liên quan đến vai trò, chức năng
và giá trị của rừng Dừa nước tại địa phương;
o Nhận thức, nguyện vọng của người dân trong việc sử dụng đất ngập
nước có rừng phân bố và vấn đề bảo tồn, phục hồi và phát triển loài.
• Điều tra tại thực địa
• Phân tích ảnh viễn thám qua các thời kỳ (lấy các mốc thời gian, gián cách là
5 năm hay 10 năm, tùy theo khả năng nguồn ảnh cung cấp, ví dụ: 2005,
2000, 1995, 1990, ) để thấy được thực trạng phân bố và biến động diện tích
của loài theo thời gian.
• Phương pháp phân tích mẫu quan sát trong phòng thí nghiệm
o Phân tích mẫu đất (thành phần cơ giới đất, hàm lượng mùn, độ pH, )
o Phân tích mẫu nước (độ pH, độ mặn )
o Sấy và cân xác định sinh khối khô; xác định tương quan hay tỷ lệ giữa
sinh khối khô với sinh khối tươi
3.2.3 Tổng hợp và phân tích kết quả nghiên cứu
• Thống kê toán học ứng dụng trong lâm nghiệp
• Sử dụng các công cụ của Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Sử dụng một sồ phần mềm chuyên dụng trong phân tích kết quả nghiên cứu. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1.1. Lịch sử hình thành quần thể, hiện trạng và động thái phân bố của loài
• Nguồn gốc hình thành các quần thể Dừa nước trong khu vực
o Nguồn gốc hình thành (tự nhiên, nhân tạo) các quần thể hiện còn;
Cây ngập mặn trong vùng nghiên cứu chủ yếu là cây dừa nước. Theo ý kiến
của nhiều người lớn tuổi, cây dừa nước ở đây được tổ tiên họ di trồng trước
đây, chỉ có cây dừa nước, không có các loài cây khác
o Nhận định về hướng di cư và mở rộng vùng phân bố của loài trong
quá khứ
• Sự thay đổi về mặt không gian (vùng phân bố, quy mô diện tích) theo các
mốc thời gian và các yếu tố tác động chủ yếu
Tài liệu lịch sử về rừng dừa nước ở Hội An rất hiếm hoi. Phần lớn rừng dừa nước ở
khắp các kênh rạch và các triền sông của xã Cẩm Thanh, Cẩm Nam và trước đây là
Cẩm Châu.
Hiện nay, diện tích phân bố của DN ở khu vực chính rừng dừa Bảy Mẫu và các
vùng phân bố rải rác này là khoảng 65 ha. Ngoàu ra còn phải kể đến các khu vực
DN ở các xã Duy Nghĩa, Duy Thành và Duy Vinh thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng
Nam với tổng diện tích khoảng 18 ha. Trong đó quan trọng nhất là thảm DN ở thôn
3( còn được gọi là thôn Trà Vinh), Duy Vinh. Như vậy, tổng diện tích phân bố của
DN hiện nay ở hạ lưu sông Thu Bồn khoảng hơn 80 ha.
1.2. Đặc điểm hình thái cá thể loài và cấu trúc lâm phần Dừa nước
• Đặc điểm hình thái loài:
•
Cây mọc thành dãy ven sông lạch nước lợ, gồm phần gốc thân ngầm với hệ thống
rễ chằng chịt và phần trên là lá to.
Thân cây dừa nước mọc ngang dưới lòng đất, chỉ có lá và cuống hoa mọc lên trên
mà thôi. Vì vậy, nó không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá có thể cao
đến 9 mét.
Cuống lá tròn, dài. Phần trên là bẹ lá phình to. Lá dùng để lợp nhà, làm vách,cuống
lá có thể ghép lại dùng làm cửa, vách và các trang trí trong nhà.
Cụm hoa dài 60-90 cm. Gié đực dài 3-5 cm. Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cụm
hoa hình cầu, hoa đực màu đỏ hoặc vàng dạng đuôi sóc trên những nhánh
kế sau.
Theo nhiều tài liệu,
hoa thụ phấn nhờ
một loài ruồi thuộc
họ ruồi Dấm
(Drosophilidae)
Khi hoa đã thụ phấn,
những trái nhỏ ép
mét vuông ở khu vực cuối cồn Thuận Tình. Cho đến nay, các cây Đước này
có chiều cao trung bình chừng 3-5 mét.
Đây là loài cây thân mộc, có thể cao 20-30 mét, đường kính gốc có thể đạt
đến 0,7 m, mọc tốt trên đất phù sa bùn đã được nén chặt. Hệ thống rễ chống
rất phát triển, là một cây ngập mặn được trồng ưu thế thành rừng ở các tỉnh
Nam bộ. Lá cây thuôn dài, chót lá nhọn, cụm hoa hình tán, mỗi cặp có hai
hoa. Quả có hình xoan dài, màu nâu, trụ mầm dài 20-30 cm, phía dưới phình
to. Trụ mầm khi dài có vòng cổ giữa quả và trụ mầm. Khi vòng cổ dài 1,5-2
cm có màu cánh gián là trụ mầm đã già, có thể hái quả để trồng. Cây thường
ra hoa quanh năm nhưng mùa rộ nhất thường từ tháng 4-5, trụ mầm dài vào
các tháng 8-10.
Vỏ cây Đước có nhiều tanin. Gỗ rất tốt, dùng làm nhà. Thân Đước có nhiệt
lượng cao, rất được ưa chuộng.
(2) Vẹt dù Bruguiera gymnorhiza (L.) Lamk
Cây Vẹt dù được tìm thấy rải rác ven bờ kênh rạch các thôn của xã Cẩm
Thanh. Người dân xung quanh vùng cho biết loài cây này cũng được dân địa
phương di trồng. Đây là một loài cây thân mộc có tán lá rất đẹp, ở các tỉnh
phá Nam có thể cao đến 25-30 mét. Những cây tìm thấy trong vùng chỉ cao
khoảng 3-4 mét, rất nhiều quả, có khi mọc chung với DN hoặc trồng trong
vườn xung quanh nhà.
Cây có rễ hô hấp hình đầu gối, có rễ chống ở gần gốc.
Lá to dài 10-20 cm, cuống lá màu đỏ nhạt. Hoa mọc ở nách lá, các lá đài
màu đỏ, trụ mầm hình thuôn nhọn hai đầu. Trụ mầm khi chín không có vòng
cổ, có thể nhận biêt1 nhờ sự đổi màu từ màu lục sang nâu lục.