nghiên cứu hiện trạng phân bố, khả năng sinh trưởng và tái sinh của trà hoa vàng làm cơ cở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KHƢƠNG NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, KHẢ
NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ TÁI SINH CỦA TRÀ
HOA VÀNG LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC

1. TS. VŨ THỊ QUẾ ANH
2. ThS. NGÔ THỊ MINH DUYÊN
Thái Nguyên - Năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chƣa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tác giả nhận
đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học và các
thầy, cô giáo Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ Trung t âm
công nghệ sinh học lâm nghiệp và các bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp này tác giả
xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ có hiệu quả đó. Trƣớc hết, tác giả xin bày
tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Vũ Thị Quế Anh (Ngƣời hƣớng dẫn 1); ThS.
Ngô Thị Minh Duyên (Ngƣời hƣớng dẫn 2), đã trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình giúp
đỡ, truyền đạt những kiến thức và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong
suốt thời gian học tập cũng nhƣ thời gian thực hiện luận văn. Xin chân thành
cảm ơn Khoa đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt thời
gian làm luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên, nơi tác giả đang công
tác, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Trung tâm Công nghệ sinh học lâm nghiệp, Ban quản lý
Vƣờn Quốc gia Ba vì Hà Nội, Vƣờn quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc, Lâm trƣờng
Ba Chẽ Quảng Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả điều tra thu
thập số liệu ngoại nghiệp. Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp,
bạn bè và ngƣời thân đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản
luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
đƣợc những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để
luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin trân thành cảm ơn!
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16
3.2. Đối tƣợng và giới hạn nghiên cứu
16
3.3. Nội dung nghiên cứu
16
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
16
3.4.1. Phƣơng pháp kế thừa số liệu.
16
3.4.2. Điều tra Ô tiêu chuẩn.
17
3.4.3. Điều tra đất
18
3.4.4. Đánh giá khả năng nhân giống
19
CHƢƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
20
4.1. Đặc điểm và hiện trạng phân bố Trà hoa vàng tại các khu vực nghiên cứu
20
4.1.1. Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
20
4.1.2. Trà hoa vàng khu vực Ba Chẽ, Quảng Ninh
25
4.1.3. Trà hoa vàng khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
4.2. Sinh trƣởng và tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng

KẾT LỤÂN – KIẾN NGHỊ
46
5.1. Kết luận
46
5.2. Kiến nghị
47
Tài liệu tham khảo
48
Phụ lục
50
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT, BẢNG BIỂU
OTC
Ô tiêu chuẩn
ODB
Ô dạng bản
D1.3
Đƣờng kính ngang ngực
Hvn
Chiều cao vút ngọn
Dt
Đƣờng kính tán
Hdc
Chiều cao dƣới cành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
Htb
Chiều cao trung bình
CP
Che phủ

Bảng 4.12
Thành phần thảm tƣơi khu vực Tam Đảo, V ĩnh Phúc
Bảng 4.13
Sinh trƣởng của Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
Bảng 4.14
Tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng khu vực Ba Vì, Hà Nội
Bảng 4.15
Sinh trƣởng của Trà hoa vàng khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.16
Tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.17
Sinh trƣởng của Trà hoa vàng khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.18
Tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.19
Kết quả phân tích đất khu vực Ba vì, Hà Nội
Bảng 4.20
Kết quả phân tích đất khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.21
Kết quả phân tích đất khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.22
Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Ba vì, Hà Nội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
Bảng 4.23
Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Ba Chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.24
Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Tam đảo, Vĩnh Phúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trà hoa vàng thuộc chi Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè (Theaceae).
Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng nhƣ gỗ làm đồ gia dụng bền chắc,
lá hoa làm đồ uống, làm dƣợc liệu và làm cây cảnh. Ngoài ra, có thể trồng dƣới
tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn, nuôi dƣỡng nguồn
nƣớc[1]. Trà hoa vàng là loài cây quý, đƣợc phát hiện ở Trung Quốc vào những
năm 60 của thế kỷ XX nhƣng đã đƣợc phát triển nhanh chóng nhờ những đặc
tính vốn có của nó. Trung Quốc đã lai giống thành công giữa Trà hoa vàng và
Trà hoa đỏ, làm lá nhỏ đi nhƣng vẫn giữ đƣợc màu hoa vàng tuyệt đẹp. Trà hoa
vàng đã đƣợc gây trồng và chế biến thành đồ uống bổ dƣỡng cao cấp có tác dụng
phòng và chữa bệnh tốt. Ngoài việc sử dụng Trà hoa vàng nhƣ một loài cây cảnh
quan, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dƣỡng trong lá, hoa còn có tác
dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đƣờng, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bƣớu,
tăng cƣờng hệ miễn dịch chƣa đƣợc khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống [8].
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng đƣợc phát hiện ở nhiều nơi những năm 90 của
thế kỷ XX và ở một số vùng phía bắc trong những năm vừa qua. Trà hoa vàng là
cây bụi, ƣa bóng, có thể đƣa chúng vào đối tƣợng trồng dƣới tán rừng phòng hộ.
Hiện nay, môi trƣờng sống của Trà hoa vàng đang bị đe dọa nghiêm trọng do
việc chặt phá rừng bừa bãi, nếu không có kế hoạch bảo vệ và đầu tƣ hợp lý thì
chúng ta sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý hiếm này [2].
Việc nghiên cứu thực trạng phân bố, khả năng sinh trƣởng, tái sinh trong
tự nhiên, tái sinh nhân tạo (nhân giống bằng hom) Trà hoa vàng là rất quan trọng
và cần thiết góp phần bảo vệ phát triển loài cây này một cách hiệu quả và tiến tới
khai thác lợi dụng sản phẩm quý từ rừng cho con ngƣời trên cơ sở đảm bảo sử

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Trà hoa vàng là chi thực vật có nhiều chủng loại phong phú, có nhiều tác
dụng, theo thống kê trên thế giới có khoảng trên 300 loài và hàng chục biến
chủng khác nhau [9].
Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng đƣợc phát hiện ở
Quảng Tây, Trung Quốc và đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ đó nó
đƣợc các nƣớc rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt.
Trà hoa vàng ƣa khí hậu nóng ẩm, thƣờng mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ
suối có bóng râm, thoát nƣớc tốt. Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy mọc
hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh - Quảng Tây -
Trung Quốc. Đƣợc đƣa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp I của Trung Quốc.
Trong lá của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lƣợng nhƣ
Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn),
Vanadium …. Các hoạt chất trong lá, hoa củaTrà hoa vàng có tác dụng hạ huyết
áp, giảm tiểu đƣờng, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bƣớu, tăng cƣờng hệ
miễn dịch và kéo dài tuổi thọ. Germanium có hoạt tính sinh lý rất cao, có thể
phát huy, tăng cƣờng năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo cung cấp dƣỡng
khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất. Germanium hữu cơ làm tăng sức đề
kháng, chống u bƣớu, hạn chế tế bào u bƣớu phát triển, tăng khả năng miễn dịch,
có tác dụng phòng và chống ung thƣ. Selenium có tác dụng chống oxy hoá, có
thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng cao năng lực tự bảo vệ, do đó
kéo dài tuổi thọ. Vanadium có thể xúc tiến cơ năng tạo máu, giảm cholesterol
trong huyết tƣơng. Nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ Trà hoa vàng giúp giảm mỡ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
máu rõ rệt hơn alpha-Napthothiourea, thuốc đã đƣợc thế giới công nhận về công
dụng giúp giảm mỡ máu [8].
Các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trƣởng của

ven khe suối cạn [7].
Mặc dù đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhƣng đế n nay công tác
bảo tồn chƣa đƣợc chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu nhƣ còn bỏ ngỏ. Không
chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài Trà
hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp. Trƣớc mắt, chủ yếu là bảo tồn
tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà Lạt, vƣờn
Quốc gia Tam Đảo… Trong tƣơng lai, để bảo tồn và quản lý bền vững nguồn
gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn.
Trà hoa vàng là cây thân gỗ nhỏ, thƣờng xanh, cao khoảng 2-5m, cành
thƣa, vỏ cây màu vàng xám nhạt. Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn. Hàng năm
cứ đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng. Tháng 11 bắt
đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau. Hoa mọc ở nách lá mới mọc riêng
lẻ. Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con ngƣời cảm giác nửa
trong suốt. Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hóa đa dạng và kiều diễm [2].
Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dƣợc rất cao. Lá có thể pha uống, làm
thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thƣơng, lở loét. Hoa chữa tiêu chảy ra máu, cũng có
thể dùng làm màu thực phẩm. Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình và hàng mỹ
nghệ. Hạt có thể để ép lấy dầu.
Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thƣờng mọc dƣới tán các cây khác
trong rừng tự nhiên. Do đó trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng dƣới cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
các đai rừng phòng hộ nuôi dƣỡng nguồn nƣớc, chống xói mòn. Cây có nhiều lá,
dễ phân giải, có tác dụng giữ nƣớc và cải tạo đất tốt.
Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ
trung bình đến lớn, có đƣờng kính 4 - 8cm. Do có hoa đẹp, nhiều loài nở hoa vào
dịp Tết âm lịch nên ngƣời chơi cây cảnh đã sƣu tầm các cây Trà hoa vàng dã
sinh về trồng làm cảnh ở sân vƣờn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan đƣợc quan tâm
đến, còn các giá trị về sinh, dƣợc học chƣa đƣợc quan tâm và khai thác [6].

tài khoa học này cũng mới chỉ dừng lại ở mức "khiêm tốn" là xác định đƣợc một
số nhóm chất của 5/20 loại trà hoa vàng bằng phƣơng pháp sắc ký lớp mỏng.
Gần đây đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và nhân
giống một số loài Trà hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” đã đƣợc thực hiện
cho hai loài C. tonkinensis và C. euphlebia. Đề tài đã tìm hiểu điều kiện sống của
2 loài trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định biện pháp kĩ
thuật gây trồng nó sau này. Việc tìm thấy loài trà hoa vàng Ba vì (Camellia
tonkinensis) là thành công do trƣớc đây năm 1995 Rosmann đã đi tìm nhƣng
chƣa thấy và tƣởng loài này đã mất. Đề tài đã giâm hom cho 2 loài này đạt tỉ lệ
ra rễ và sống 50 – 80.6%. Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi lƣợng trong lá
trà hoa vàng Ba Vì và Sơn động tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng [4].
Trên báo Lâm Đồng điện tử số ra ngày 6/8/2008 của tác giả Sơn Tùng
(2008) có tiêu đề “Camellia - Siêu trà bị lãng quên” cho biết các công dụng về
giá trị dƣợc học của Trà hoa vàng và mà cũng chỉ ra việc khai thác đúng mức tài
nguyên này ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
CHƢƠNG 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Vƣờn Quốc gia Ba vì, Hà Nội.
2.1.1. Vị trí địa lý.
Khu vực nghiên cứu tại Ba vì, Hà Nội có tọa độ 21,10 Vĩ độ Bắc 105,43
Kinh độ Đông. Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với
vùng bán sơn địa, vùng này trông nhƣ một dải núi nổi lên giữa đồng bằng chỉ
cách hợp lƣu sông Đà và Sông Hồng 20Km về phía Nam.
Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính. Dải dông thứ nhất chạy theo
hƣớng Đông - Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm
dài 9km. Dải dông thứ 2 chạy theo hƣớng Tây - Bắc - Đông - Nam từ Yên Sơn

C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,1
0
C.
Lƣợng mƣa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung
nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thƣờng khô
hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô. Mùa
đông có gió Bắc với tần suất >40%. Mùa Hạ có gió Đông Nam với tấn suất 25%
và hƣớng Tây Nam. Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lý tƣởng và khu du
lịch giàu tiềm năng nhƣng chƣa đƣợc khai thác (xem biểu 2.1).
Biểu 2.1: Điều kiện sinh khí hậu khu vực Ba vì, Hà Nội
STT
Nội dung
Ký hiệu
Đơn vị
Kết quả
1
Lƣợng mƣa bình quân
Rtb
mm
2.166,0
2
Nhiệt độ trung bình
Ttb
độ
23,40
3
Độ ẩm tƣơng đối của không khí
r
%
83,00

10
Tổng số giờ nắng trong năm
Giờ nắng
Giờ
1.558,2
11
Chỉ số xói mòn của mƣa 631
(Trạm quan trắc khí tượng Ba Vì, Hà Nội, Ngày 5 tháng 12 năm 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thƣợng nguồn núi
Ba Vì và núi Viên Nam. Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hƣớng Bắc,
Đông Bắc và đều phụ lƣu của sông Hồng. Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn
và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lƣu của sông Đà.
Các suối này thƣờng gây lũ và mùa mƣa. Về mùa khô các suối nhỏ thƣờng cạn
kiệt.
2.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội vùng đệm
Vƣờn Quốc gia Ba Vì nằm trong phạm vi hành chính của 16 xã thuộc 5
huyện là Ba Vì có 7 xã: Ba Vì, Ba Trại, Tản Lĩnh, Khánh Thƣợng, Minh Quang,
Vân Hòa, Yên Bài; huyện Thạch Thất có 3 xã là Tiến Xuân, Yên Trung, Yên
Bình; huyện Quốc Oai có 1 xã Đông Xuân; Huyện Lƣơng Sơn có 1 xã Lam
Sơn,; huyện Kỳ Sơn có 4 xã là Yên Quang, Phú Minh, Phúc Tiến và Dân Hòa.
Dân tộc và dân số: Trên địa bàn 16 xã có 5 dân tộc sinh sống: Mƣờng,
Kinh, Dao, Thái và Cao Lan. Dân số có 89.928 ngƣời. Dân tộc Mƣờng chiếm
65/%, Kinh chiếm 33%, Dao 1%, Thái, Cao Lan 1%.
Lao động và việc làm: Tổng số lao động trong vùng chiếm 55% dân số

300-500m so với mực nƣớc biển. Độ dốc các dải đồi phần lớn từ 20 - 250. Chủ
yếu là đất dốc nên Ba Chẽ trồng rừng là chính và từ trƣớc đến nay ngƣời dân Ba
Chẽ cũng chỉ sống chủ yếu bằng nghề rừng. Đồng thời với địa hình dốc thoải ở
một số khu vực thuộc các xã Lƣơng Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn
là điều kiện tốt để phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
Địa hình Ba Chẽ chia cắt bởi các dãy núi và các sông suối tạo thành những
thung lũng nhỏ hẹp vì thế đất canh tác bị hạn chế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
20
Về thổ nhƣỡng tại Ba chẽ, Quảng Ninh có thành phần đất thịt nhẹ đến thịt
trung bình, độ sâu tầng đất 80 cm, đất tầng mặt tƣơng đối xốp, có màu nâu xám,
tỉ lệ đá lẫn 5 – 10%, đất ẩm và chuyển lớp rõ, đất chua.
2.2.2. Khí hậu thủy văn.
Ba Chẽ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi nên nóng ẩm
mƣa nhiều, có nhiệt độ trung bình năm 21,9
0
, nhiệt độ trung bình tháng nóng
nhất (tháng 7) là 27,41
0
C, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là 14,4
0
C.
Lƣợng mƣa trung bình năm là 1835mm, lƣợng mƣa lớn hơn lƣợng bốc hơi. Số
giờ nắng cả năm là 1662 giờ. Biên độ nhiệt độ không khí trung bình (7,08 độ),
lƣợng bốc hơi yếu (938,53 mm), ít sƣơng muối, rất nhiều mây (7,37 phần mƣời
bầu trời), tốc độ gió trung bình (2,00 m/giây), không có nhiệt độ tối thấp nguy
hiểm. (xem biểu 2.2).
Biểu 2.2: Điều kiện sinh khí hậu khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh.
Tại địa điểm có tọa độ 21,30 Vĩ độ Bắc 107,18 Kinh độ Đông

6
Chỉ số khô hạn của Thái Văn Chừng
S

4.0.0
7
Số ngày mƣa
SNM
Ngày
144
8
Độ ẩm tối thấp của không khí
rmin
%
65,48
9
Nhiệt độ tối cao
Tmax
độ
37,85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
21
10
Tổng số giờ nắng trong năm
Giờ nắng
Giờ
1.662,0
11
Chỉ số xói mòn của mƣa

những nan quạt và giảm dần độ cao, rồi chuyển thành các đồi gò trung du và
Đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình núi Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sƣờn rất
dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần nhƣ vuông góc với dông chính.
Núi Tam Đảo chạy dài theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam gồm trên 20
đỉnh núi đƣợc nối với nhau bằng đƣờng dông sắc, nhọn. Nó nhƣ một bức bình
phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng. Ba đỉnh núi nổi tiếng ở
Tam Đảo là Thiên Nhị, Thạch Bàn và Phù Nghĩa, chiều ngang của khối núi rộng
từ 10 đến 15km, sƣờn dốc và chia cắt mạnh, độ dốc bình quân từ 10 đến 35 độ,
nhiều nơi trên 35 độ.
Về thổ nhƣỡng tại Tam đảo, Vĩnh Phúc có thành phần đất thịt nhẹ đến thịt
trung bình, độ sâu tầng đất 40 cm, đất tầng mặt tƣơng đối xốp, có màu nâu hoặc
xám đen tỉ lệ đá lẫn 10 – 30%, đất ẩm và chuyển lớp rõ.
2.3.2. Khí hậu, thủy văn.
Vƣờn quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm, nhiệt đới. Với dãy
núi cao, chạy dài, tạo ra 2 sƣờn đông và tây rõ rệt, lƣợng mƣa hàng năm khác
nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố
quan trọng trong việc tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mƣa mùa từ độ cao
700 ( 800m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mƣa mùa, cũng nhƣ một số khu
vực có nhiệt độ, lƣợng mƣa rất khác nhau của Tam Đảo.
Vƣờn quốc gia Tam đảo, Vĩnh Phúc có nhiệt độ trung bình năm 20,1
0
,
nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) là 25,5
0
C, trung bình tháng lạnh
nhất (tháng giêng) là 12,3
0
C. Lƣợng mƣa trung bình năm là 2594mm, lƣợng mƣa
lớn hơn lƣợng bốc hơi. Số giờ nắng cả năm là 1270,5 giờ. Biên độ nhiệt độ
không khí trung bình (5,00 độ), lƣợng bốc hơi yếu (561,50 mm), không có sƣơng

độ
7.336,5
5
Hệ số thủy nhiệt Xelianhinop
K

3,54
6
Chỉ số khô hạn của Thái Văn Chừng
S

0.0.0
7
Số ngày mƣa
SNM
Ngày
194
8
Độ ẩm tối thấp của không khí
rmin
%
74,00
9
Nhiệt độ tối cao
Tmax
độ
33,10
10
Tổng số giờ nắng trong năm
Giờ nắng

Phúc, Quảng Ninh.
3.3. Nội dung nghiên cứu.
Để đạt đƣợc các mục tiêu nêu trên, đề tài nghiên cứu các nội dung sau:
- Điều tra nghiên cứu, đánh giá hiện trạng phân bố và sinh trƣởng.
- Nghiên cứu đặc điểm trạng thái rừng có Trà hoa vàng phân bố.
- Đánh giá tình hình sinh trƣởng, tái sinh của Trà hoa vàng tại khu vực.
- Đánh giá khả năng nhân giống bằng phƣơng pháp giâm hom.
- Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển cho khu vực nghiên cứu.
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.4.1. Phƣơng pháp kế thừa số liệu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
25
Đề tài kế thừa số liệu về kết quả nghiên cứu, phân tích cụ thể nhƣ sau:
- Kết quả phân tích đất của Phòng phân tích đất và môi trƣờng, Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp.
- Điều kiện khí hậu, thủy văn khu vực nghiên cứu của Trạm quan trắc khí
tƣợng, Viện sinh thái rừng và môi trƣờng.
- Cùng tham gia và kế thừa kết quả nhân giống vô tính bằng phƣơng pháp
giâm hom 3 loài cây Trà hoa vàng: Tam Đảo (C. tamdaoensis), Ba Vì (C.
tonkinensis) và Ba Chẽ (C. euphlebia) của Trung tâm công nghệ sinh học lâm
nghiệp - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện tại Trƣờng Đại học
Lâm nghiệp Xuân Mai từ tháng 9/2010 đến tháng 1/2011.
3.4.2. Điều tra Ô tiêu chuẩn.
Sử dụng phƣơng pháp điều tra ô tiêu chuẩn điển hình, thu thập những
thông tin về đặc điểm của hệ sinh thái rừng. Tại mỗi điểm nghiên cứu tiến hành
lập 3 ô tiêu chuẩn. Ô tiêu chuẩn điển hình đƣợc lựa chọn tại những khu vực
tƣơng đối đại diện cho những mức độ tốt xấu khác nhau của điều kiện lập địa.
Diện tích ô tiêu chuẩn đƣợc xác định là 1.000 m
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status