1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, KHẢ
NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TÁI SINH CỦA TRÀ
HOA VÀNG LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Thái Nguyên - Năm 2011
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, KHẢ
NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TÁI SINH CỦA TRÀ
HOA VÀNG LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Lâm học.
Mã số: 60 62 60
thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ Trung t âm
công nghệ sinh học lâm nghiệp và các bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp này tác giả
xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ có hiệu quả đó. Trước hết, tác giả xin bày
tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Vũ Thị Quế Anh (Người hướng dẫn 1); ThS.
Ngô Thị Minh Duyên (Người hướng dẫn 2), đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp
đỡ, truyền đạt những kiến thức và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong
suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực hiện luận văn. Xin chân thành
cảm ơn Khoa đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt thời
gian làm luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên, nơi tác giả đang công
tác, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Trung tâm Công nghệ sinh học lâm nghiệp, Ban quản lý
Vườn Quốc gia Ba vì Hà Nội, Vườn quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc, Lâm trường
Ba Chẽ Quảng Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả điều tra thu
thập số liệu ngoại nghiệp. Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp,
bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản
luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để
luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân thành cảm ơn!
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
5
MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
8
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Vườn Quốc gia Ba vì, Hà Nội
8
2.2. Khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
11
2.3. Vườn Quốc gia Tam đảo, Vĩnh Phúc
13
CHƯƠNG 3
16
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu của đề tài
16
3.2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
16
4.1. Đặc điểm và hiện trạng phân bố Trà hoa vàng tại các khu vực nghiên cứu
20
4.1.1. Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
20
4.1.2. Trà hoa vàng khu vực Ba Chẽ, Quảng Ninh
25
4.1.3. Trà hoa vàng khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
28
6
4.2. Sinh trưởng và tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng
32
4.2.1. Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
32
4.2.2. Trà hoa vàng khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
34
4.4.3. Trà hoa vàng khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
44
4.5. Giải pháp bảo tồn và phát triển Trà hoa vàng
44
4.5.1. Giải pháp kỹ thuật
44
4.5.2. Giải pháp quản lý
45
CHƯƠNG 5
46
KẾT LỤÂN – KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
46
5.2. Kiến nghị
47
Chiều cao dưới cành
7
Htb
Chiều cao trung bình
CP
Che phủ
Doo
Đường kính gốc
Biểu 2.1
Điều kiện sinh khí hậu khu vực Ba vì, Hà Nội
Biểu 2.2
Điều kiện sinh khí hậu khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Biểu 2.3
Điều kiện sinh khí hậu khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Thành phần thảm tươi khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.9
Điều tra ô tiêu chuẩn 6 cây tại khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.10
Đặc điểm của tầng cây cao khu vực Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.11
Thành phần cây bụi khu vực Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Bảng 4.12
Thành phần thảm tươi khu vực Tam Đảo, V ĩnh Phúc
Bảng 4.13
Sinh trưởng của Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
Bảng 4.14
Tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng khu vực Ba Vì, Hà Nội
Bảng 4.15
Sinh trưởng của Trà hoa vàng khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.23
Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Ba Chẽ, Quảng Ninh
Bảng 4.24
Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Tam đảo, Vĩnh Phúc
DANH MỤC ĐÔ THỊ VÀ HÌNH ẢNH
Đồ thị 4.1
Phân bố N/DOO của Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
Đồ thị 4.2
Phân bố N/DOO của Trà hoa vàng khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
Đồ thị 4.3
Phân bố N/DOO của Trà hoa vàng khu vực Tam đảo, Vĩnh Phúc
Hình 4.1
Hoa và lá Trà hoa vàng khu vực Ba vì, Hà Nội
Hình 4.2
Trạng thái rừng có Trà hoa vàng Ba vì phân bố
quan, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác
dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu,
tăng cường hệ miễn dịch chưa được khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống [8].
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng được phát hiện ở nhiều nơi những năm 90 của
thế kỷ XX và ở một số vùng phía bắc trong những năm vừa qua. Trà hoa vàng là
cây bụi, ưa bóng, có thể đưa chúng vào đối tượng trồng dưới tán rừng phòng hộ.
Hiện nay, môi trường sống của Trà hoa vàng đang bị đe dọa nghiêm trọng do
việc chặt phá rừng bừa bãi, nếu không có kế hoạch bảo vệ và đầu tư hợp lý thì
chúng ta sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý hiếm này [2].
Việc nghiên cứu thực trạng phân bố, khả năng sinh trưởng, tái sinh trong
tự nhiên, tái sinh nhân tạo (nhân giống bằng hom) Trà hoa vàng là rất quan trọng
và cần thiết góp phần bảo vệ phát triển loài cây này một cách hiệu quả và tiến tới
khai thác lợi dụng sản phẩm quý từ rừng cho con người trên cơ sở đảm bảo sử
10
dụng bền vững và ổn định hệ sinh thái rừng. Góp phần nâng cao đời sống của
người dân địa phương.
Với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc bảo
tồn những loài cây có nguy cơ bị suy thoái và bảo vệ môi trường thiên nhiên,
được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn
của TS. Vũ Thị Quế Anh – Giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên,
Ths Ngô Thị Minh Duyên - Trung tâm nghiên cứu sinh học Lâm nghiệp - Viện
Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài: ”Nghiên cứu
hiện trạng phân bố, khả năng sinh trưởng và tái sinh của Trà hoa vàng làm
cơ cở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển” .
11
dụng giúp giảm mỡ máu [8].
Các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của
các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là
thành công trong điều trị ung thư. Giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol
trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2%...
Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng
lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược hiện
nay. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một
công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Trà hoa vàng "có những công
dụng y học vô giá" [7].
Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng (trên
20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm sắc thể,
đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng [9].
Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc) đã chế biến
thành công trà túi lọc từ Trà hoa vàng, tinh trà và dịch Trà hoa vàng thành loại
nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm
Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/ chai. Đây là hướng sử dụng Trà hoa
vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người [7].
Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Trà hoa còn có
khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác dụng bảo
vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí [8]. Một công viên Trà hoa vàng đã
được xây dựng tại Nam Ninh - Trung Quốc để phục vụ người dân thăm quan và
là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu.
13
1.2. Trong nước
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền
núi phía Bắc nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng
dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa vàng dã
sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được quan tâm
đến, còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và khai thác [6].
Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta
năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Trà hoa vàng không
đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau. Những năm
90 của thế kỷ XX, Trà hoa vàng mới được quan tâm điều tra nghiên cứu về hình
thái, phân loại Trà hoa vàng [6].
Đỗ Đình Tiến (2000) đã nghiên cứu về nhân giống bằng hom cũng được
thực hiện cho loài C. petelotii; C. tonkinensis và C. euphlebia đạt tỷ lệ ra rễ từ
70% - 86% [3]. Theo thống kê hiện nay có khoảng 196 loài trà, chia làm 4 á chi
và nhiều chủng, biến chủng. Việt Nam có khoảng 26 loài trà, chủ yếu ở miền
Bắc. Trong những năm gần đây nhiều người nhà nghiên cứu nước ngoài (Úc,
Pháp, Anh, Nhật...) đã tới Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc biệt
là Trà hoa vàng. Trà hoa phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và có mùa
đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên nhiều loại
đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH từ 4,5 - 5,5 là thích hợp
nhất. Trà hoa đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào trồng với diện tích lớn. Một số
loài không có nhị (bạch trà) nên không có quả. Vì vậy phương pháp nhân giống
chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô),
trong đó cách giâm hom là đơn giản và có tỷ lệ cây sống cao [2].
15
Nghiên cứu về nhân mã hóa rARN 5,8s ở loài Trà hoa vàng C. petelotii
của vườn quốc gia Tam Đảo được thực hiện bởi Nguyễn Thị Nga và cộng sự
(2003) với mục đích xác định chính xác phân loại loài này với loài C. chrysantha
của Trung Quốc. Kết quả cũng chỉ dừng ở việc tách chiết được ADN tổng số và
đã nhân được đoạn gen mã hoá rARN 5,8S ở loài Trà C. petelotii với cặp mồi
cách hợp lưu sông Đà và Sông Hồng 20Km về phía Nam.
Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính. Dải dông thứ nhất chạy theo
hướng Đông - Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm
dài 9km. Dải dông thứ 2 chạy theo hướng Tây - Bắc - Đông - Nam từ Yên Sơn
qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11km, sau đó dảy này chạy tiếp sang Viên
nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình).
Ba Vì là một vùng núi có độ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ cuống sông
Đà, dốc hơn so với sườn Tây bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là
250, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là
350, và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong Vườn là không thuận lợi.
Khu vực nghiên cứu tại Ba vì, Hà Nội đất có thành phần cơ giới nhẹ (từ
thịt nhẹ đến trung bình). Tầng A màu xám đen, tương đối nhiều mùn, đất chuyển
lớp rõ, tỉ lệ đá lẫn 5-15%. Đất có độ pH 5 - 6,9.
2.1.2. Khí hậu thủy văn.
Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió
mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa
đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C. Ở vùng
thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới 420C. Ở độ cao
17
400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn
160C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C.
Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung
nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô
hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô. Mùa
đông có gió Bắc với tần suất >40%. Mùa Hạ có gió Đông Nam với tấn suất 25%
và hướng Tây Nam. Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lý tưởng và khu du
lịch giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác (xem biểu 2.1).
3
Độ ẩm tương đối của không khí
r
%
83,00
4
Tổng tích nhiệt
TTN
độ
8.541,0
5
Hệ số thủy nhiệt Xelianhinop
K
2,54
6
Tmax
độ
39,60
10
Tổng số giờ nắng trong năm
Giờ nắng
Giờ
1.558,2
11
Chỉ số xói mòn của mưa
631
(Trạm quan trắc khí tượng Ba Vì, Hà Nội, Ngày 5 tháng 12 năm 2010
18
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi
Ba Vì và núi Viên Nam. Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc,
không nhỏ cho quá trình hội nhập và phát triển.
2.2. Khu vực Ba chẽ, Quảng Ninh
2.2.1. Vị trí địa lý.
Huyện Ba Chẽ cách thành phố Hạ Long 95 km đi theo đường Quốc lộ
18A từ Hạ Long đi Móng Cái. Ba Chẽ có tọa độ địa lý 20o7'40'' đến 21o23'15''
Vĩ độ Bắc 107o58'5'' đến 107o22'00'' độ Kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Đình
Lập, tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, phía Đông
giáp huyện Tiên Yên, phía Tây giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Ba Chẽ có mạng lưới giao thông không thuận lợi. Vì thế có thể ví Ba Chẽ
như một ngõ cụt, không có sự giao lưu với bên ngoài. Đây cũng là một điểm hạn
chế lớn của Ba Chẽ, làm cho sản xuất chậm phát triển.
Ba Chẽ thuộc địa hình đồi núi cao nằm trong cánh cung Bình Liêu - Đông
Triều, các dãy núi chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Ba Chẽ có địa hình dốc bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất tạo thành các
thung lũng hẹp và các con suối, sông lớn nhỏ. Độ cao trung bình của Ba Chẽ từ
300-500m so với mực nước biển. Độ dốc các dải đồi phần lớn từ 20 - 250. Chủ
yếu là đất dốc nên Ba Chẽ trồng rừng là chính và từ trước đến nay người dân Ba
Chẽ cũng chỉ sống chủ yếu bằng nghề rừng. Đồng thời với địa hình dốc thoải ở
một số khu vực thuộc các xã Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn
là điều kiện tốt để phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
Địa hình Ba Chẽ chia cắt bởi các dãy núi và các sông suối tạo thành những
thung lũng nhỏ hẹp vì thế đất canh tác bị hạn chế.
20
Về thổ nhưỡng tại Ba chẽ, Quảng Ninh có thành phần đất thịt nhẹ đến thịt
trung bình, độ sâu tầng đất 80 cm, đất tầng mặt tương đối xốp, có màu nâu xám,
tỉ lệ đá lẫn 5 – 10%, đất ẩm và chuyển lớp rõ, đất chua.
2.2.2. Khí hậu thủy văn.
2
Nhiệt độ trung bình
Ttb
độ
21,90
3
Độ ẩm tương đối của không khí
r
%
83,00
4
Tổng tích nhiệt
TTN
độ
7.993,5
rmin
%
65,48
9
Nhiệt độ tối cao
Tmax
độ
37,85
21
10
Tổng số giờ nắng trong năm
11
Chỉ số xói mòn của mưa
Giờ nắng
Giờ
Tam Đảo là một khối núi thuộc phần cuối của dãy núi cánh cung thượng
nguồn sông chảy, phần đuôi hầu như chụm lại ở Tam Đảo phía Bắc xèo ra như
những nan quạt và giảm dần độ cao, rồi chuyển thành các đồi gò trung du và
Đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình núi Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất
dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính.
Núi Tam Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam gồm trên 20
đỉnh núi được nối với nhau bằng đường dông sắc, nhọn. Nó như một bức bình
phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng. Ba đỉnh núi nổi tiếng ở
Tam Đảo là Thiên Nhị, Thạch Bàn và Phù Nghĩa, chiều ngang của khối núi rộng
từ 10 đến 15km, sườn dốc và chia cắt mạnh, độ dốc bình quân từ 10 đến 35 độ,
nhiều nơi trên 35 độ.
Về thổ nhưỡng tại Tam đảo, Vĩnh Phúc có thành phần đất thịt nhẹ đến thịt
trung bình, độ sâu tầng đất 40 cm, đất tầng mặt tương đối xốp, có màu nâu hoặc
xám đen tỉ lệ đá lẫn 10 – 30%, đất ẩm và chuyển lớp rõ.
2.3.2. Khí hậu, thủy văn.
Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm, nhiệt đới. Với dãy
núi cao, chạy dài, tạo ra 2 sườn đông và tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác
nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố
quan trọng trong việc tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao
700 ( 800m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa, cũng như một số khu
vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo.
Vườn quốc gia Tam đảo, Vĩnh Phúc có nhiệt độ trung bình năm 20,10 ,
nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) là 25,50C, trung bình tháng lạnh
nhất (tháng giêng) là 12,30C. Lượng mưa trung bình năm là 2594mm, lượng mưa
lớn hơn lượng bốc hơi. Số giờ nắng cả năm là 1270,5 giờ. Biên độ nhiệt độ
không khí trung bình (5,00 độ), lượng bốc hơi yếu (561,50 mm), không có sương
23
độ
20,10
3
Độ ẩm tương đối của không khí
r
%
87,00
4
Tổng tích nhiệt
TTN
độ
7.336,5
5
Hệ số thủy nhiệt Xelianhinop
K
9
Nhiệt độ tối cao
Tmax
độ
33,10
10
Tổng số giờ nắng trong năm
Giờ nắng
Giờ
1.270,5
11
Chỉ số xói mòn của mưa
763
(Trạm quan trắc khí tượng Tam Đảo, Vĩnh Phúc, Ngày 5 tháng 12 năm 2010)
Do trong vùng có lượng mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít, đó là
nguyên nhân làm cho các dòng chảy từ trên xuống có nước quanh năm, chế độ
thuỷ văn được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt, lũ lớn thường xảy ra
25
Đề tài kế thừa số liệu về kết quả nghiên cứu, phân tích cụ thể như sau:
- Kết quả phân tích đất của Phòng phân tích đất và môi trường, Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp.
- Điều kiện khí hậu, thủy văn khu vực nghiên cứu của Trạm quan trắc khí
tượng, Viện sinh thái rừng và môi trường.
- Cùng tham gia và kế thừa kết quả nhân giống vô tính bằng phương pháp
giâm hom 3 loài cây Trà hoa vàng: Tam Đảo (C. tamdaoensis), Ba Vì (C.
tonkinensis) và Ba Chẽ (C. euphlebia) của Trung tâm công nghệ sinh học lâm
nghiệp - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện tại Trường Đại học
Lâm nghiệp Xuân Mai từ tháng 9/2010 đến tháng 1/2011.
3.4.2. Điều tra Ô tiêu chuẩn.
Sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn điển hình, thu thập những
thông tin về đặc điểm của hệ sinh thái rừng. Tại mỗi điểm nghiên cứu tiến hành
lập 3 ô tiêu chuẩn. Ô tiêu chuẩn điển hình được lựa chọn tại những khu vực
tương đối đại diện cho những mức độ tốt xấu khác nhau của điều kiện lập địa.
Diện tích ô tiêu chuẩn được xác định là 1.000 m2 với chiều dài hai cạnh tương
ứng là 40m và 25m, đây là diện tích thường được áp dụng trong điều tra rừng tự
nhiên và rừng tái sinh. Kết quả ghi vào biểu mô tả tình hình chung của ô tiêu
chuẩn ( xem phụ biểu 01).
Do Trà hoa vàng phân bố không đều trong khu vực với số lượng cá thể
còn lại rất ít, ô tiêu chuẩn được lập ở những trạng thái rừng đại diện cho toàn bộ
khu vực, nơi có độ tàn che trung bình và đặc biệt ở đó có xuất hiện Trà hoa vàng.
Trong mỗi ô tiêu chuẩn các chỉ tiêu được điều tra như sau:
- Xác định độ tàn che của tầng cây cao theo hai phương pháp cho điểm
theo hình zic zắc trải đều trên toàn bộ diện tích ô tiêu chuẩn hay tính tỷ lệ %.