CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một hệ sinh thái, trong đó côn trùng đóng vai trò hết sức quan trọng
trong lưới thức ăn. Bên cạnh những loài côn trùng gây hại, còn có các loài côn
trùng có lợi mà con người cần sử dụng trong đời sống của mình. Đặc biệt,
trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều diện tích rừng trồng thuần loài, đều
tuổi rộng lớn vì mục đích kinh tế và việc sử dụng thuốc hóa học một cách
thường xuyên, thì vai trò duy trì cân bằng sinh thái của côn trùng thông qua
đấu tranh sinh tồn càng trở nên quan trọng. Thành phần côn trùng thiên địch
rất phong phú, chúng hiện diện khắp mọi nơi, gần như nơi nào có côn trùng
gây hại là đều có sự hiện diện của các loài côn trùng thiên địch (Nguyễn Thị
Thu Cúc, 2009).
Trên trái đất có khoảng 1 triệu loài côn trùng, trong số đó chỉ có 500 loài
chuyên phá hoại lúa màu và cây ăn quả. Nhưng cũng có rất nhiều loài côn
trùng có ích cho con người. Chúng tiêu diệt các loại côn trùng có hại, bảo vệ
nông sản. Chúng được gọi là các loài thiên địch có sẵn trong tự nhiên. Nghĩa là
các kẻ thù của sâu hại, nhờ chúng, cây trồng được bảo vệ. Trung Quốc đã
thống kê được 700 loài thiên địch, trong đó có 200 loài thường gặp. Các loài
côn trùng có ích tiêu diệt sâu hại bằng hai cách: bắt mồi và ký sinh. Côn trùng
có tính bắt mồi như bọ rùa, chuồn cỏ, bọ ngựa có thể ăn trứng, sâu non của
nhiều loài sâu có hại. Một con bọ rùa chấm có thể ăn trên 130 con rệp muội
mỗi ngày. Các loài ong kén, ong mắt đỏ thuộc loại ong ký sinh. Ong mắt đỏ
đẻ trứng vào trứng sâu hại, ong kén đẻ trứng vào cơ thể sâu non và các loại
ngài, bướm, ong non sau khi nở ra sẽ ăn luôn trứng và sâu hại
1
.
1
http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/C%C3%B4ntr%C3%B9ngc
%C3%B3%C3%ADchhayc%C3%B3h%E1%BA%A1i.aspx
1
côn trùng Cánh cứng (Coleoptera) của Huỳnh Thị Ngọc Diệp (2008) tại VQG
Bạch Mã đã thống kê được 238 loài, trong đó 173 loài đã xác định được tên
khoa học thuộc 148 giống, 25 họ, trong đó có 20 loài thuộc họ Bọ rùa. Tuy
nhiên, các công bố về thành phần loài côn trùng thuộc họ Bọ rùa và họ Bọ
ngựa ở đây mới được lồng ghép trong các nghiên cứu chung về côn trùng.
Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu đa dạng loài của họ Bọ
rùa (Coccinellidae) và họ Bọ ngựa (Mantidae) làm cơ sở đề xuất giải pháp
phòng trừ sâu hại cây trồng lâm nghiệp bằng biện pháp sinh học tại một
số khu rừng trồng ở Thừa Thiên Huế” được thực hiện với mục đích cung
cấp thông tin về đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài côn
trùng thuộc họ Bọ rùa (Coccinellidae) và họ Bọ ngựa (Mantidae) phục vụ cho
công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên côn trùng tại Vườn quốc gia Bạch Mã
nói riêng và làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng chúng phục vụ cho công
tác phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói
chung.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm về côn trùng học
Danh từ côn trùng học - Entomologie xuất phát từ hai chữ hy lạp
là Entomos và Logos có nghĩa là côn trùng và khoa học. Côn trùng học là một
môn khoa học nghiên cứu về côn trùng. Lúc đầu khi nghiên cứu về côn trùng,
người ta nghiên cứu tất cả các loài động vật thuộc ngành chân đốt
(arthropoda), nhưng đến giữa thế kỷ 19 côn trùng học chỉ còn nghiên cứu một
lớp trong 9 lớp của ngành chân đốt, đó là lớp côn trùng (insecta)
2
Hầu hết các kết quả nghiên cứu về côn trùng cho thấy: côn trùng là lớp
phong phú nhất trong giới động vật, có một cuộc sống khá phức tạp, đa số côn
trùng có khả năng bay. Có thể phân chia một cách đặc trưng thành ba phần:
đầu, ngực và bụng
Linnaeus, nhà phân loại sinh vật học vĩ đại, có công rất lớn trong phát
triển BPSH ở thế kỷ 18. Đề xuất được viết đầu tiên về sử dụng côn trùng bắt
mồi trừ sâu hại ở Châu Âu được Linnaeus đưa ra năm 1752. Ông đã viết: “Mỗi
loài côn trùng đều có loài bắt mồi riêng, những loài này luôn đồng hành và tiêu
diệt nó”
5
Năm 1855 Fitch đã đề nghị “Biện pháp thiết thực nhất để trừ muỗi nan hại
lúa mì là nhập nội thiên địch của nó từ Châu Âu về Hoa Kỳ”, nhưng đề nghị
này không được chấp nhận. Walsh - nhà côn trùng học ở bang Illinois đã tích
cực ủng hộ đề nghị của Fitch và đã viết báo yêu cầu cho nhập nội ký sinh của
muỗi nan hại lúa mì (Coppel et al., 1977; Doutt, 1964; Huffaker et al., 1976;
Van Driesche et al., 1996).
Vào năm 1870, Riley đã di chuyển ký sinh của loài bọ cánh cứng hại
mận Conotrachelus nenuphar từ Kirkwood đến nơi khác ở bang Missouri.
Năm 1873, Riley từ Hoa Kỳ đã gửi sang Pháp loài nhện nhỏ bắt mồi
Tyroglyphus phylloxerae Riley để hợp tác với các nhà khoa học pháp trừ diệt
rệp rễ nho Phylloxera vitifoliae (Fitch). Loài nhện nhỏ này tạo lập được quần
thể ở Pháp, nhưng không hạn chế được số lượng rệp rễ nho P. Vitifoliae
(Coppel et al., 1977; Doutt, 1964; Huffaker et al., 1976; Van Driesche et al.,
1996).
Năm 1874, Pasteur đã đưa ý kiến để trừ rệp rễ nho Phylloxera vitifoliae
(Fitch) hãy thử sử dụng nguyên sinh động vật gây bệnh ở ong mật hoặc tìm
một loài nấm côn trùng nào đó. Theo Steinhaus (1956), Le Conte từ năm 1874
đã bàn luận việc sản xuất và từng nguồn vật gây bệnh để làm lây lan bệnh cho
côn trùng. Đây là một đề xuất đầu tiên về sử dụng vi sinh vật gây bệnh để trừ
sâu hại có cơ sở chắc chắn và cụ thể (dẫn theo P.V. Lầm, 1995).
Vào mùa thu năm 1878, Metschnikov đã nghiên cứu bọ hung hại lúa mì
Anisoplia austriaca và đã quan sát được một bệnh nấm của sâu hại này. Ông
đặt tên cho nấm này là Entomophthora anisopliae (nay là Metarhizium
anisopliae). Năm 1879, Metschnikov tiến hành nghiên cứu lây nhiễm nấm
7
loài ký sinh, nhưng chỉ có 6 loài là thuần hóa được và cho hiệu quả cục bộ trừ
sâu đục thân ngô (Coppel et al., 1977).
Ong mắt đỏ Trichogramma được bắt đầu nhân nuôi sử dụng từ năm 1910-
1911 ở nước Nga và Trung Á. Sau đó rất nhiều nước tiến hành nghiên cứu sử
dụng ong mắt đỏ. Sau năm 1928, chỉ khi Flanders tìm đsược qui trình nhân
nuôi ngài mạch quanh năm thì việc nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại
mới được đẩy mạnh. Tại Liên Xô cũ, việc nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ
được đẩy mạnh từ năm 1934 (Schepetilnikova, 1974 - dẫn theo P.V. Lầm,
1995). Do ảnh hưởng của Metschnikov, các nhà nghiên cứu ở châu âu đã tiến
hành thử nghiệm nấm Beauveria để trừ sâu róm Porthetria monacha, sùng
Melolontha và một số nấm thuộc họ Entomophthoraceae để trừ ấu trùng một
số loài thuộc bộ hai cánh Diptera và bộ cánh thẳng Orthoptera (P.V. Lầm,
1995).
Từ năm 1911 đến 1914, D’herelle đã nghiên cứu vi khuẩn Coccobacillus
acridiorum để trừ châu chấu Schistocera paranensis (Simmonds et al., 1976;
Weiser, 1966). Năm 1911, Berliner ở Thuringia (một tỉnh của Đức) phân lập
được vi khuẩn từ sâu non loài Ephestia kuehniella chết bệnh và mô tả đặt tên là
Bacillus thuringiensis. Các thử nghiệm vi khuẩn này để trừ sâu hại được bắt
đầu từ sâu đục thân ngô ở Hungari (Husz, 1928). Theo Jacobs (1951) Và Krieg
(1961), sau đó vi khuẩn này được thử nghiệm với sâu hồng đục quả bông, sâu
xanh bướm trắng hại cải và nhiều loài sâu hại khác ở châu âu. Chế phẩm
thương mại đầu tiên từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis là “sporeine” được sản
xuất ở Pháp trước năm 1938 (dẫn theo P.V. Lầm, 1995).
Đã phát hiện ấu trùng bọ hung nhật bản Popillia japonica bị bệnh vi
khuẩn từ năm 1921. Năm 1940, Dutky mô tả, đặt tên vi khuẩn gây bệnh cho ấu
trùng bọ hung nhật bản là Bacillus popilliae và B. lentimorbus. Vi khuẩn này
8
được sản xuất thành chế phẩm để trừ bọ hung Nhật Bản ở Hoa Kỳ từ năm 1940
(Kandybin, 1989; Simmonds et al., 1976; Steinhaus, 1964).
Trichogramma japonicum, T. chilonis và Trichogrammatoidea sp. Được nhân
nuôi để thả trừ sâu hại. Đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ để trừ một số sâu hại
như sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis), sâu đục thân lúa bướm hai chấm (S.
incertulas), sâu đo xanh (A. flava), sâu xanh (H. armigera), sâu đục thân ngô
(O. furnacalis), sâu đục thân mía (Ch. infuscatellus, Ch. sacchariphagus), sâu
to (P. xylostella). Kết quả cho thấy trứng sâu hại ở nơi thả ong mắt đỏ bị ký
sinh đạt tỷ lệ 35-94% tùy thuộc vào loài sâu hại và điều kiện thả ong mắt đỏ.
* Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học từ vi khuẩn Bacillus
thuringiensis để trừ sâu hại:
Vi khuẩn Bacillus thuringiensis (BT) là loài vi khuẩn gây bệnh cho côn
trùng quan trọng nhất. Trên thế giới, BT đã được nghiên cứu sử dụng rộng rãi
nhất để trừ nhiều loài sâu hại. Ở nước ta, việc nghiên cứu sử dụng BT được
tiến hành theo 2 hướng: nhập nội chế phẩm BT của nước ngoài và nghiên cứu
sản xuất BT ở trong nước. Từ năm 1971-1974, Viện BVTV tiến hành đầu tiên
việc đánh giá hiệu lực của chế phẩm BT nhập nội nhu Entobacterin, Biotrol,
Bacillus Serotype 1, Thuricide, Thuringin 150m đối với sâu to P. xylostella, P.
guttata, C. medinalis, O. furnacalis, M. testulalis, M. separata, S. litura. Về
sau, các chế phẩm sinh học từ BT nhập nội vào chủ yếu để phòng chống sâu to.
Một số chế phẩm có hiệu lực rất cao đối với sâu to như Entobacterin, Biotrol,
Xentari, Mvp, Aztron trong năm 1977-1978, tại tp. Hồ Chí Minh đã nghiên
cứu sản xuất chế phẩm sinh học từ BT gọi là bacin-78, nhưng sau đó không
thấy chế phẩm này đưa ra áp dụng trong sản xuất. Từ cuối thập kỷ 80 đầu thập
10
kỷ 90, một số cơ quan nghiên cứu khoa học bắt đầu sản xuất chế phẩm sinh
học từ BT. Trên cơ sở các chủng BT của Việt Nam đã phát triển được chế
phẩm BT
1
, BT
2
, BT
nghiệm đạt tương ứng 36,5- 4,5 và 71,0-73,7% ở ngày thứ 10 sau xử lý. Thí
nghiệm đồng ruộng trong năm 1994-1995 tại Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy các
11
chế phẩm nấm này có hiệu quả từ châu chấu đạt 39,9-66,2 và 60,1-72,0%
tương ứng ở ngày thứ 13 và 20 (sau phun). Ngoài ra các chế phẩm từ nấm
Metarhizium còn được thử nghiệm trừ châu chấu H. tonkinensis hại mía ở Tây
Ninh năm 1998. Sau 15 ngày xử lý, hiệu quả của chế phẩm nấm với châu chấu
non (70,1-76,5%) cao hơn so với hiệu quả đối với châu chấu trưởng thành
(25,7-32,6%), (25,7-32,6%).
* Nghiên cứu sử dụng vi rút côn trùng để trừ sâu hại:
Ở nước ta, các nghiên cứu sử dụng virút côn trùng để trừ sâu hại mới
được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1980. Các nghiên cứu này chỉ tập
trung vào nhóm NPV. Nghiên cứu sử dụng virút côn trùng trong phòng chống
sâu hại gồm 2 mảng công việc riêng biệt là: nghiên cứu nhân nuôi hàng loạt
sâu vật chủ bằng môi truờng thức ăn và nghiên cứu phát triển, sử dụng chế
phẩm sinh học từ NPV. Từ năm 1988 viện bảo vệ thực vật bắt đầu nghiên cứu
môi truờng thức ăn tổng hợp để nuôi sâu non các loài côn trùng cánh vảy, như
sâu cắn gié M. separata, sâu xanh H. armigera, sâu khoang S. litura, sâu keo
da láng S. exigua , sâu đục thân ngô O. furnacalis, sâu to P. xylostella và sâu
xanh bướm trắng P. rapae. Viện BVTV đã chế được 10 môi trường thức ăn từ
nguyên liệu phế thải có sẵn ở trong nước để nuôi sâu xanh, sâu khoang và sâu
keo da láng. Các môi truờng này được cục sở hữu công nghiệp nhà nước cấp
bằng sáng chế. Từ 1989-1990, trung tâm nghiên cứu cây bông Nha Hố đã nuôi
sâu xanh thành công bằng môi trường thức ăn nhập nội từ Ấn độ, Thái Lan.
Sau đó, trung tâm nghiên cứu cây bông đã cải tiến những môi trường này cho
phù hợp với Việt Nam. Cho đến nay, việc nghiên cứu môi trường thức ăn
thành công nhất chỉ là đối với sâu xanh, sâu khoang. Có thể nuôi hai loài sâu
này trong điều kiện thủ công ở phòng thí nghiệm với lượng lớn để phục vụ sản
xuất chế phẩm NPV, Viện BVTV và trung tâm nghiên cứu cây bông Nha Hố đã
xây dựng được quy trình sản xuất chế phẩm NPV của sâu xanh, sâu khoang,
Svenson và Whiting (2004) đã nâng một số phân họ Mantidae lên thành
họ, khi ấy bộ Bọ ngựa bao gồm 15 họ. Bộ bọ ngựa có trên 2300 loài đã công
bố trên thế giới, thuộc 434 giống. Bọ ngựa sống ở các sinh cảnh rất khác nhau,
từ trong rừng rậm tới trên sa mạc; chúng cũng có hình thái rất đa dạng: màu
sắc giả vỏ cây, giả hoa, hình dạng cơ thể có thể giải kiến hoặc giả que củi, giả
lá tươi, lá khô, cánh có thể tiêu giảm…Là côn trùng bắt mồi, ăn thịt nhiều
nhóm côn trùng khác nên bọ ngựa đóng vai trò quan trọng trong điều hòa số
lượng quần thể vật mồi. Trong Đông y, kén trứng bọ ngựa là một vị thuốc gọi
là tang phiêu tiêu, có công dụng bổ thận, giữ tính khí, giữ mồ hôi.
2.3.2. Những nghiên cứu liên quan tới họ bọ rùa trên thế giới
Năm 1888, Koebele (người Đức) làm việc ở California được cử sang
Australia để thu thập một loài ruồi Cryptochaetưm iceryae ký sinh trên rệp sáp
Icerya purchase Mask Trong khi thu thập ruồi ký sinh, Koebele đã phát hiện
thấy bọ rùa Rodolia cardinalis ăn thịt rệp sáp I. purchasi. Ông đã thu luôn loài
bọ rùa này và gửi về Caliornia. 129 cá thể bọ rùa R. cardinalis được gửi về
California từ tháng 11/1888 đến tháng 01/1889. Số bọ rùa này được nhân nuôi
trong phòng, đến tháng 06/1998 có hơn 10.000 cá thể con cháu của chúng.
Tháng 02-03/1889, Koebele đã gửi bổ sung 2 đợt được 385 cá thể bọ rùa. Số
bọ rùa trên được thả ra hàng trăm vườn cam ở California. Tại các vuờn cam
quýt thả bọ rùa sau vài tháng rệp sáp I. purchasi đã giảm hẳn. Đến năm sau,
loài rệp sáp này không còn là sâu hại nguy hiểm nữa. Nạn dịch rệp sáp I.
purchasi hại cam quýt ở California được giải quyết một cách căn bản.
Chương trình chống rệp sáp I. purchasi hại cam quýt ở California thực
hiện với chi phí quá rẻ, chua tới 1 500 USD (Doutt, 1964; Debach, 1974). Các
nước khác bị rệp sáp I. purchasi gây hại nặng đã đề nghị nhập nội bọ rùa R.
14
cardinalis từ California. Thực tế cho thấy ở đâu nhập nội bọ rùa R. cardinalis
cũng đều cho kết quả phòng chống rệp sáp I. purchasi như ở California. Thành
công của chương trình sử dụng bọ rùa R. cardinalis để trừ rệp sáp I. purchasi
trở thành nổi tiếng thế giới. Việc nhập nội bọ rùa R. cardinalis từ Australia vào
Quốc, chúng được sử dụng trong phòng trừ sinh học đối với rệp bông Aphis
gossypii (Glover), rếp đào Myzus persicae (Sulzer) và một số loài khác thuộc
bộ Cánh giống Homoptera (Yao và Tao, 1972; Deng et al., 1978; Tao, 1990).
2.4. Những nghiên cứu liên quan tới họ bọ ngựa và họ bọ rùa ở Việt Nam
2.4.1. Những nghiên cứu liên quan tới họ bọ ngựa ở Việt Nam
Những nghiên cứu về bọ ngựa ở nước ta chưa nhiều. Viện Bảo vệ thực vật
(1976) cho biết 4 loài bọ ngựa bắt gặp ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có một
loài chỉ có ở vùng Cổ Bắc; trong danh sách côn trùng ở vườn quốc gia Cát
Tiên đã ghi nhận 5 loài, mặc dù có sai chút ít về danh pháp; trong danh sách
côn trùng ở vườn quốc gia Bạch Mã ghi nhận 4 loài, trong đó có 2 loài không
có khả năng bắt gặp ở vùng Đông Phương; trong Sách Đỏ Việt Nam (2000) có
dẫn một loài là Mantis religiosa. Có 30 loài đã được các tác giả nước ngoài đề
cập đến khi nghiên cứu mẫu vật Việt Nam lưu giữ tại các bảo tàng trên thế
giới. Tổng cộng có 32 loài bọ ngựa đã được ghi nhận ở Việt Nam cho tới thời
điểm này. Bài này công bố kết quả nghiên cứu của tác giả từ các cuộc điều tra
trong các năm gần đây. Công trình được hổ trợ kinh phí của đề tài nghiên cứu
cơ bản trong khoa học tự nhiên, mã số 106.12.15.09 do NAFOSTED tài trợ.
16
2.4.2. Những nghiên cứu liên quan tới họ bọ rùa ở Việt Nam
Năm 1979, công trình nghiên cứu đầu tiên của tác giả Hoàng Đức Nhuận
về loài côn trùng có ích, ông đã xuất bản 2 cuốn sách nghiên cứu về loài bọ rùa
Việt Nam.
Ớ Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về bọ rùa, điển hình như đề tài
nghiên cứu thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm
hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata
Fabr. tại Sóc Sơn Hà Nội và các vùng phụ cận. Đây là một nghiên cứu nhằm
tìm hiểu khả năng tiêu diệt rệp của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata.
Xác định quy luật phát sinh cũng như sự phân bố loài theo cây hoặc nhóm cây
trồng theo mùa vụ hoặc vùng lãnh thổ địa lý, nghiên cứu đặc điểm hình thái,
sinh học, sinh thái cơ bản của bọ rùa 18 chấm nhằm đề xuất hướng bảo vệ, sử
bọ rùa hoặc họ bọ ngựa chứ chưa có các đề tài nghiên cứu tổng quát tất cả các
họ thật chi tiết về sự đa dạng sinh học cũng như vai trò của chúng trong nền
kinh tế cũng như môi trường.
Do đó, đề tài nghiên cứu đa dạng loài của họ Bọ rùa (Coccinellidae) và
họ Bọ ngựa (Mantidae) tại Vườn quốc gia Bạch Mã làm cơ sở đề xuất giải
pháp phòng trừ sâu hại cây rừng bằng biện pháp sinh học là một đề tài có ý
nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thêm nguồn thông tin khoa học cũng như
góp phần vào việc bảo vệ môi trường, phát triễn kinh tế thông qua những lợi
ích mang lại từ những loài côn trùng nghiên cứu này.
18
CHƯƠNG 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Cung cấp thông tin về đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của các
loài côn trùng thuộc họ Bọ rùa (Coccinellidae) và họ Bọ ngựa (Mantidae) phục
vụ cho công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên côn trùng tại Vườn quốc gia
Bạch Mã nói riêng và làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng chúng phục vụ
cho công tác phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế nói chung.
* Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được đa dạng về thành phần loài côn trùng thuộc họ Bọ rùa
(Coccinellidae) và họ Bọ ngựa (Mantidae) tại Vườn quốc gia Bạch Mã và một
số khu rừng trồng ở Thừa Thiên Huế;
- Lựa chọn được các loài chủ yếu của hai họ côn trùng này tại Vườn quốc
gia Bạch Mã và một số khu rừng trồng ở Thừa Thiên Huế có khả năng nhân
nuôi phục vụ công tác phòng trừ sâu hại rừng trồng;
- Đánh giá được khả năng tiêu diệt sâu hại của các loài côn trùng có ích
được lựa chọn;
20
- Thu lượm các kiến thức bản địa từ người dân quanh khu vực vườn quốc
gia Bạch mã về các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
b. Thu thập số liệu sơ cấp
* Thu thập thông tin liên quan đến các loài nghiên cứu trước khi khảo sát
thực địa
Tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý vườn quốc gia Bạch Mã về các nội
dung:
+ Sự phân bố và số lượng, thời gian bắt gặp,mùa sinh sản của các loài
thuộc hai họ bọ rùa và bọ ngựa;
+ Đặc điểm sinh học, sinh thái, khả năng thích nghi và những ích lợi
mà chúng đem lại trong công tác phòng trừ sâu bệnh ;
+ Tại vườn quốc gia Bạch Mã đã sử dụng chúng vào công việc phòng trừ
sâu bệnh hai chưa? Nếu có thì đã làm như thế nào?hiểu quả ra sao? Từ đó tìm
ra những loài chiếm ưu thế và được ưa chuộng trong công tác phòng trừ sâu
bệnh hại ở đây.
* Các phương pháp khảo sát thực địa:
Xây dựng kế hoạch khảo sát bao gồm:
+ Địa điểm khảo sát: Trên các sườn núi, dọc bờ suối, cây to, cây bụi
trong khu vực vườn quốc gia Bạch Mã.
+ Thời gian khảo sát : cái này bọn e chưa biết nơi cô ơi.
- Tiến hành khảo sát:
+ Lựa chọn khu vực và lập tuyến điều tra.
Sử dụng các phương pháp:
+ Tìm kiếm theo thời gian:
+ Định hướng khu vực tìm kiếm: Căn cứ vào kết quả phỏng vấn và khu
21
phân bố sinh thái của từng loài, lập các tuyến điều tra cụ thể trong khu vực
thuộc vườn quốc gia Bạch Mã.
+ Nơi tìm kiếm trên từng khu vực: dưới đất, trên gốc cây, thân cây, thảm
theo Quyết định số 01/QĐ-TTg, ngày 02/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Quyết định này, VQG Bạch Mã thuộc địa bàn 12 xã của ba huyện Phú
Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên Huế) và Đông Giang (Quảng Nam). Trong đó
vùng mở rộng VQG Bạch Mã nằm trên địa bàn hai tỉnh Thừa Thiên Huế và
Quảng Nam thuộc địa bàn 5 xã gồm các xã Thượng Lộ, Thượng Long, Thượng
Nhật (Nam Đông); Ating, Sông Côn (Đông Giang - Quảng Nam).
Tọa độ địa lý:
- Từ 15
0
59’28’’ đến 16
0
16’02’’ vĩ độ Bắc;
- Từ 107
0
37’22’’ đến 107
0
54’58’’ kinh độ Đông
Ranh giới:
- Phía Bắc giáp Công ty lâm nghiệp Phú Lộc;
- Phía Nam giáp huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam;
- Phía Đông giáp huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng;
- Phía Tây giáp thị trấn Khe Tre.
23
Vườn Quốc Gia Bạch Mã có tổng diện tích sau khi mở rộng là 37.487 ha
được chia thành vùng lõi và vùng đệm (58.676 ha).
+ Diện tích
VQG Bạch Mã mở rộng gồm 42 tiểu khu rừng với tổng diện tích tự
nhiên là 37.487 ha (34.380 ha thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và 3.107ha thuộc
tỉnh Quảng Nam), trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là
12.064,8ha, phân khu phục hồi sinh thái là 20.234ha và phân khu dịch vụ hành
Bạch Mã - Hải Vân giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam. Sự phân tách như
vậy đã tạo nên hai vùng khí hậu khác nhau giữa Bắc và Nam đèo Hải Vân, kéo
theo sự phân bố khác nhau của nhiều loài động thực vật.
24
Hai luồng ảnh hưởng là đồng bằng - núi và Nam - Bắc là vùng đa sinh
cảnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng sinh học. Thêm vào
đó, với các ảnh hưởng của khí hậu và đa dạng về sinh cảnh đã tạo cho VQG
Bạch Mã có nhiều loài đặc hữu quan trọng, làm cho vùng này có được một giá
trị lớn về mặt di sản và là một điểm nóng của ĐDSH.
Khí hậu Bạch Mã thuộc kiểu khí hậu gió mùa, hàng năm chịu ảnh hưởng
của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam nên có mùa đông hơi lạnh; mùa mưa bắt
đầu từ tháng 9 đến tháng 2, với lượng mưa trung bình là 3.000mm; mùa khô
kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, với lượng mưa trung bình đạt 1.500mm, thời
kỳ khô hạn chỉ khoảng từ 0,1-1,0 tháng (Huỳnh Văn Kéo, 2001).
Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực là 24,5
0
C; ở đai cao trên
900m nhiệt độ bình quân biến động về mùa hè từ 18- 23
0
C.
Lượng mưa cao cùng với hệ thống sông suối dày đặc, trong đó có các
nhánh đầu nguồn của sông Hương, sông Truồi đã làm cho VQG Bạch Mã trở
thành một bể dự trữ nước khổng lồ cung cấp nước cho các xã vùng đệm cũng
như thành phố Huế.
Sự thuận lợi của khí hậu và đa dạng trong địa hình đã tạo điều kiện cho
các loài sinh vật phát triển thuận lợi quanh năm. Đây là cơ sở tạo nên sự đa
dạng và phong phú của tài nguyên sinh vật Bạch Mã.
+ Đa dạng sinh học
* Đa dạng sinh học chung:
Hệ động, thực vật ở Bạch Mã rất đa dạng và phong phú. Trong một cuộc