Nghiên cứu đa dạng loài của bộ cá Nóc - Tetraodontiformes ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU
Việt Nam có tiềm năng lớn về nguồn lợi thủy sản. Theo công bố của
FAO (2001), Việt Nam đứng thứ 20 trong những quốc gia hàng đầu trên Thế
giới về khai thác hải sản. Năm 1993, khai thác hải sản của Việt Nam đứng
hàng thứ nhất Đông Nam Á (đạt sản lượng 825.000 tấn) [3].
Thừa Thiên Huế nằm trong dải đất miền Trung với bờ biển dài 126km,
chạy dọc suốt chiều dài của tỉnh. Dọc theo 68km bờ biển còn có hệ đầm phá
với diện tích hơn 22.000ha, trong đó Tam Giang - Cầu Hai lớn nhất Đông
Nam Á. Đầm phá là vùng đa sinh cảnh, chứa trong mình đa dạng về thành
phần loài cũng như số lượng cá thể. Với những thế mạnh đó, khai thác thủy
sản của Thừa Thiên Huế đã góp phần không nhỏ vào sản lượng hải sản chung
cả nước và góp phần đáng kể trong sự phát triển kinh tế và nâng cao mức sống
của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh nguồn lợi hải sản to lớn mà biển đã và
đang mang lại cho con người thì cũng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn, đã từng gây
nhiều tai họa cho con người, một phần của những tai họa đó là các sinh vật
mang độc tố. Điển hình trong thời gian gần đây đã xẩy ra nhiều vụ ngộ độc do
ăn các hải sản có chứa độc tố, trong đó chủ yếu là số vụ ngộ độc cá nóc. Đây
là một vấn đề thời sự bức thiết không chỉ xẩy ra ở Thừa Thiên Huế mà gặp ở
tất cả các tỉnh ven biển nước ta, đã được đề cập nhiều trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Xuất hiện tình trạng đó là do ý thức và sự hiểu biết về cá
nóc của một bộ phận lớn ngư dân và người tiêu thụ vẫn còn hạn chế. Thậm
chí, nhiều người còn chưa biết cá nóc như thế nào, loài nào có độc hay không
độc, độc tố có từ đâu?. Trong khi đó, độc tố của cá nóc biến động rất phức tạp
theo thời gian, bộ phận cơ thể và tùy từng cá thể của từng loài.
Trong bộ cá Nóc (Tetraodontiformes), còn có nhiều loài không chứa độc
tố và thịt của chúng có giá trị dinh dưỡng cao. Mặt khác, một số loài cá nóc
khác tuy có độc nhưng có thể sử dụng được nếu chế biến đúng quy trình kỹ
thuật, và đây là một nguồn lợi thủy sản lớn. Thực tế, sản lượng cá nóc khai thác


gần xa để các công trình nghiên cứu tiếp theo đạt được kết quả tốt hơn./.


3

Chƣơng 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỘ CÁ NÓC
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI BỘ CÁ NÓC
Những tài liệu về phân loại và hệ thống cá ở trong và ngoài nước tương
đối nhiều, nhưng chưa có một chuyên khảo nào viết riêng về cá nóc. Trong
phạm vi nội dung của đề tài, chúng tôi giới thiệu một số nét chính về tình hình
nghiên cứu cá nóc ở trên Thế giới và Việt Nam.
1.1.1. Trên Thế giới
Năm 1950, C. Suvatti nghiên cứu “Khu hệ động vật của Thái Lan”
(Fauna of Thailand) đã giới thiệu trong bộ cá Nóc có 22 loài

[54]. Ở

Philippin vào năm 1953, Herre A. W. đã công bố “Danh mục những loài cá ở
Philippine” (Check list of Philippine Fishes), trong đó ông giới thiệu 76 loài
cá nóc thuộc 10 họ [39].
Ở Trung Quốc có nhiều tác giả nghiên cứu về cá nhưng đầy đủ nhất có
lẽ là cuốn “Ngư loại phân loại học” do Vương Dĩ Khang biên soạn vào năm
1958 (Nguyễn Bá Mão, dịch năm 1963) đã đưa ra những khóa phân loại và
mô tả 2 lớp gồm 70 bộ, 239 họ, 679 giống và 1800 loài cá phân bố ở các thủy
vực nước ngọt ven biển và biển Trung Quốc. Trong đó, tác giả phân loại bộ cá
Nóc thành 4 phân bộ với 7 họ và 64 loài [7]. Vào năm 1962, Briggs C. và
Beaufort L. F. đã giới thiệu ở quần đảo Indonesia có 53 loài cá nóc thuộc 4 họ
[29]. Matsubara K. (1963) đã xuất bản cuốn “Hình thái và hệ thống cá” (Fish
Morphology and Hierachy) và cho biết trong hệ thống cá hiện đại có 75 loài

Tetraodontidae trong công trình “Những loài cá của lưu vực sông Mekong ở
Campuchia: Hướng dẫn nhận dạng thực địa những loài cá của FAO với mục
đích nghư nghiệp” [52]. Năm 2000, Matsuura K., Sumadhiharga O. K. và
Tsukamoto K. đã giới thiệu chi tiết 11 loài cá nóc thuộc 6 họ (Triacanthidae,
Balistidae, Monacanthidae, Ostraciidae, Tetraodontidae và Diodontidae), sống


5

ở thảm cỏ biển thuộc đảo Lombok, Indonesia” [43]. Cũng ở Indonesia,
Kimura S. và Matsuura K. (2003) đã mô tả được 29 loài cá nóc thuộc 5 họ
trong công trình “Các loài cá ở Bitung, Mũi phía Bắc của Sulawesi,
Indonesia” (Fishes of Bitung, Northern Tip of Sulawesi, Indonesia) [44]. Năm
2005, cũng hai tác giả trên đã mô tả 7 loài cá nóc thuộc 3 họ ở đảo Libong,
Thái Lan [45].
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về cá,
nhưng chủ yếu khảo sát về thành phần loài và đưa ra danh mục cá nói chung,
trong đó có bộ cá Nóc.
Năm 1934, Chevey P. khi kiểm định các loài cá của G. Tirant thu thập
đã thống kê được 25 loài cá nóc (4 loài cá Nóc hòm, 3 loài cá Nóc nhím và 18
loài cá Nóc) ở Nam Bộ và Campuchia [55], [56]. Năm 1963, Bessednov L. N.
sau chương trình khảo sát vịnh Bắc Bộ (1959 - 1960) đã công bố danh lục
gồm 748 loài cá ở vịnh Bắc Bộ, trong đó có 26 loài cá nóc [1]. Đến năm 1971,
trong Nội san nghiên cứu biển Hải Phòng, tổ phân loại Phòng cá biển đã công
bố 961 loài cá ở vịnh Bắc Bộ, nâng số loài cá nóc lên 35 loài (7 loài cá Nóc
hòm, 5 loài cá Nóc nhím và 23 loài cá Nóc) [26]. Cùng trong thời gian đó, tại
miền Nam Việt Nam, Orsi J. J. (1974) đã công bố danh lục cá ở Việt Nam bao
gồm 1.458 loài cá biển và nước ngọt. Trong đó có 36 loài cá nóc: 6 loài cá
Nóc hòm (Ostraciidae), 25 loài cá Nóc (Tetraodontidae), 1 loài cá Nóc bụng

(Tetraodontidae) [25]. Cùng thời gian này, Nguyễn Văn Hảo (2005) cho xuất
bản cuốn sách “Cá nước ngọt Việt Nam”, trong đó tác giả đã mô tả chi tiết 18
loài cá nóc thuộc 2 họ (Triacanthidae và Tetraodontidae) thường xuất hiện ở
vùng nước nội địa ven bờ Việt Nam. Trong những loài cá nóc này, có nhiều
loài có nguồn gốc nước mặn nhưng rộng muối nên có thể phân bố được ở trong
vùng cửa sông, thậm chí có thể đi sâu vào các con sông - nơi có độ muối rất
thấp [6].


7

1.1.3. Ở miền Trung và Thừa Thiên Huế
Ở miền Trung có nhiều công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái và
thành phần các loài cá ở các sông, đầm phá. Trong các danh lục thành phần
loài cá đã được công bố đều có các loài cá nóc với số lượng loài khác nhau.
Năm 2000, Võ Văn Phú và Trần Hồng Đỉnh nghiên cứu “Thành phần các loài
cá đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế”, đã xác định được 151 loài cá nằm
trong 88 giống, thuộc 50 họ của 12 bộ khác nhau. Trong đó, có 6 loài cá nóc
thuộc 3 họ Balistidae, Ostraciidae và Tetraodontidae [12]. Cùng trong năm
này, Võ Văn Phú và Nguyễn Trường Khoa công bố có 83 loài cá, thuộc 39 họ
và 12 bộ phân bố ở sông Thạch Hãn của tỉnh Quảng Trị. Trong thành phần
loài cá này có 1 loài cá nóc Tetrodon ocellatus L. thuộc họ Tetraodontidae
[13]. Năm 2001, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Hợp, Nguyễn Mộng và Nguyễn
Đắc Tạo xác định được 6 loài cá nóc thuộc 3 họ ở hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai [14].
Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003), cho biết ở
đầm Ô Loan của tỉnh Phú Yên có 4 loài cá nóc, thuộc 2 họ Tetraodontidae và
Triacanthidae. Các tác giả đã xếp những loài cá nóc trên vào nhóm cá hẹp
muối cao, chúng chỉ phân bố trong đầm vào mùa khô, mùa mưa chỉ thấy xuất
hiện ở cửa biển [17]. Cũng trong năm 2003, Võ Văn Phú, Trương Thị Thu Hà
và Hoàng Thị Thuý Liễu đã xác định được 169 loài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh

Phân ngành có sọ (Craniota) hay có xương sống (Vertebrata)
Lớp cá xương (Osteichthyes)
Phân lớp cá vây tia (Actinopterygii)
Trên bộ dạng cá vược (Percomorpha)
Bộ cá nóc (Tetraodontiformes)


9

1.3. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỘ CÁ NÓC
Trong bộ này chủ yếu những loài cá sống ở vùng biển và ven biển nhiệt
đới. Đặc điểm chung là thân ngắn, vây nhỏ, xương hàm và xương gian hàm
gắn liền với nhau thành mỏ cứng, thích nghi với việc cắn dập vỏ thân mềm và
giáp xác. Răng có hình dùi tròn, dạng răng cưa hoặc gắn liền với bản răng
dạng răng chó. Lỗ mang nhỏ. Thân phủ một lớp vẩy đã bị xương hóa. Xương
hình bản, gai nhỏ hoặc trần. Vây lưng 1 - 2 chiếc. Vây bụng nằm ở ngực hoặc
kề ngực hoặc tiêu biến. Xương mé sau không phân chạc và nối liền với xương
cánh đai. Các loài cá thuộc bộ này không có xương mũi, xương dưới khoang
mắt, xương đỉnh và xương sườn. Cá có bong bóng hoặc không. Túi khí có
hoặc không [6], [7], [9].
Trên Thế giới, bộ cá Nóc có 4 phân bộ, 11 họ, phổ biến là những loài
sống ở tầng đáy, trừ loài cá Mặt trăng (Mola mola) sống trôi nổi ngoài khơi.
Đa số sống ở vùng nước ven bờ, nhiều loài phân bố ở nước mặn, chỉ có một
số rất ít loài ở nước ngọt, độ dài trung bình từ 30 đến 40cm. Lớn nhất là cá
Mặt trăng và cá Mặt trăng đuôi nhọn với chiều dài cơ thể tối đa hơn 3m [40],
[50].
Giữa các phân bộ thuộc bộ cá Nóc có những đặc điểm rất khác nhau,
thể hiện như sau: Phân bộ cá Nóc gai (Balistoidei): có hình dạng thân tương
đối dẹt hai bên, chiều cao lớn hơn chiều rộng. Bắp đuôi nhỏ dài. Mình có vẩy
nhỏ hoặc tương đối lớn, rất xù xì. Miệng rất bé. Hàm có răng chóp hoặc răng

bộ này chỉ có một họ, phân bố rất rộng ở các vùng biển nhiệt đới [7].
1. 4. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ ĐỘC TỐ CÁ NÓC
Sự phát hiện cá nóc và sự ngộ độc cá nóc đã được biết đến từ thời cổ
xưa, cách đây 2500 năm. Theo lưu truyền, vào thời đại này ở Ả Rập đã có
một Tiểu vương chết vì ăn cá nóc chứa độc. Ở Trung Quốc, những nghiên cứu
về nguồn gốc và bệnh, đánh giá độc tính ở gan và buồng trứng của cá cũng


11

được tiến hành trong những năm 581 - 617 trước Công nguyên. Ở Châu Âu,
mãi đến thế kỷ XVII, độc tố của cá nóc mới được biết đến [9].
Có thể xem những nhà khoa học Nhật Bản là người đặt nền tảng khoa học
đầu tiên cho việc nghiên cứu chiết xuất, tinh chế độc tố cá nóc. Tetrodotoxin
(TTX) được đặt tên từ năm 1894 bởi ông Tahara, sau nhiều lần thay đổi tên, đến
năm 1964 các nhà khoa học Mỹ - Nhật đã thống nhất tên tetrodotoxin và công
thức là C11H17O8N3.1/2H2O cho độc tố chiết từ cá nóc [46].
Độc tố TTX là một chất độc thần kinh mạnh, gây tử vong cao, không
tan trong nước và dung môi hữu cơ như benzen, cồn...nhưng tan trong môi
trường axit, không bị phá hủy khi nấu chín, ngâm muối, phơi khô dưới ánh
nắng mặt trời hoặc sấy khô ở nhiệt độ cao. Chất độc TTX của cá nóc mạnh
gấp 1.250 lần cyanua kali. Một bộ gan cá nóc có chứa độc tố mạnh đến mức
có thể giết chết 33 người [27], [59].
Về nguồn gốc của độc tố TTX trong cá nóc, đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy có nguồn gốc ngoại sinh. Vi khuẩn biển chính là nguồn
sinh TTX. Vi khuẩn có chứa TTX làm nhiễm độc tế bào chất của tế bào gan
một số loài cá nóc sống trong môi trường tự nhiên, nhưng không làm tổn
thương tế bào vật chủ [9], [60].
Độc tố TTX trong cá nóc thể hiện tính biến động theo mùa, biến động
theo cá thể rất rõ rệt. Cùng một loài cá nóc nhưng độc tính có thể thay đổi từ

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Thành phần loài cá thuộc bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) ở đầm phá và
vùng biển, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô và vùng biển ven bờ
Thừa Thiên Huế (hình 2.1).

Hình 2.1. Sơ đồ vùng, điểm thu thập mẫu nghiên cứu.


14

- Ở khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và Lăng Cô, chúng tôi tiến
hành thu mẫu ở 4 điểm (L1 - L4):
* Điểm L1: Vùng nước thuộc xã Quảng Phước.
* Điểm L2: Vùng nước thuộc thị trấn Thuận An.
* Điểm L3: Vùng nước thuộc xã Lộc Điền.
* Điểm L4: Vùng nước thuộc thị trấn Lăng Cô.
- Ở biển ven bờ, chúng tôi thu mẫu ở 4 vùng nước (S1 - S4):
* Vùng S1: Quảng Ngạn.
* Vùng S2: Thuận An.
* Vùng S3: Vinh Thanh.
* Vùng S4: Lộc Vĩnh.
Chúng tôi chọn những điểm, vùng trên để thu mẫu là do ở đây có nhiều
ngư dân tham gia khai thác thủy sản và có bến, cảng cá để ngư dân neo đậu
tàu thuyền, buôn bán hải sản đánh được. Đồng thời, thuận tiện cho chúng tôi
khi tiến hành đánh bắt trực tiếp cùng ngư dân.

Ngoài ra, để thu mẫu được đầy đủ hơn, chúng tôi còn gửi các bình
(thẩu) có pha sẵn hoá chất định hình để nhờ các hộ ngư dân khai thác hoặc thu
mua cá thu thập thường xuyên trong thời gian nghiên cứu. Sau đó, chúng tôi
thu góp mẫu cá tại ngư dân mỗi tháng 1 lần.


Xử lý mẫu vật sơ bộ:
Mẫu vật được xử lý ngay khi đang còn tươi. Định hình ngay trong dung

dịch formol 9%, rồi bảo quản trong dung dịch formol 4%, đối với cá lớn tiêm
formol nguyên chất vào cơ và ruột, có kèm theo Eteket, ghi rõ tên địa phương,
ngày tháng năm và địa điểm thu mẫu. Phân loại sơ bộ các nhóm cá theo tên
địa phương, theo họ, nhóm loài.


Thu thập tài liệu:
Điều tra nhân dân về tình hình khai thác, sử dụng cá nóc và các vấn đề

khác liên quan bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural
Appraisal - RRA).


16

Song song với quá trình thu thập và xử lý mẫu vật ngoài thực địa,
chúng tôi tiến hành thu thập các tài liệu về môi trường và sinh thái, đồng thời
tập hợp các tài liệu liên quan đến nội dung của dề tài.
2.4.2. Trong phòng thí nghiệm
- Đo, đếm các chỉ tiêu hình thái và cân trọng lượng (g) cơ thể cá [22].
Các chỉ tiêu chủ yếu sau đây được quan sát kỹ:

xương và các tia vây phân nhánh kí hiệu bằng chữ số Ả Rập cách nhau bởi
dấu phẩy (,).
- Mỗi cá thể của mỗi nhóm loài đều được lập "Phiếu hình thái cá"
riêng, phiếu này hội tụ đủ các số đo, đếm và tỉ lệ của từng bộ phận hình thái
cơ thể theo mẫu quy định.
PHIẾU HÌNH THÁI CÁ
Họ…………………………….Loài ………………………………...
Số hiệu……….Ngày lấy mẫu……………Nơi lấy mẫu……………..
D

Vẩy đường bên

Răng hàm trên

A

Vẩy dọc thân

Răng hàm dưới

P

Vẩy ngang thân

Đốt sống thân

C

Vẩy trước D


Các đặc trưng khác

Khoảng cách mắt (OO)
Người lập phiếu: ...............................................


18

- Trên cơ sở phiếu hình thái cá, dựa vào các khoá phân loại để định
loài. Việc giám định tên khoa học của các loài cá, chúng tôi dựa vào các tài
liệu của các tác giả: Vương Dĩ Khang (1958), Chu Y. T. (1962, 1963), Shen
S. C. (1993), Nguyễn Khắc Hường (1992), Nguyễn Hữu Phụng (1999), Myers
R. F. (1991), Allen G. R. và Steene R. C. (1990), Matsuda H., Maoka K.,
Araga C., Uyeno T. và Yoshino T. (1984), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005),
Gloerlfelt-Tarp T. và Kailola P. J. (1984), Matsuura K., Sumadhiharga O. K.
and Tsukamoto K. (2000), v.v...
- Trình tự các phân bộ, họ, giống và loài được sắp xếp theo hệ thống
phân loại đầy đủ nhất của hai giáo sư người Nga: Rass T. S. và Lindberg G.
U. (1971) và chuẩn hóa tên của giống, loài theo FAO (1998).
- Lập khóa phân loại theo dạng khóa hình thái lưỡng phân.
2.4.3. Đánh giá mức độ gần gũi về thành phần loài
Để đánh giá mức độ gần gũi về thành phần loài của bộ cá Nóc ở vùng
ven biển Thừa Thiên Huế với một số vùng biển khác, chúng tôi sử dụng công
thức của Sorencen (1948):
Công thức:
Trong đó:

S

2C

của đầm phá là 1,5m, nơi sâu nhất khoảng 10m ở vùng Tân Mỹ - gần cửa
Thuận An [8], [16], [24].
Phía Nam của tỉnh có đầm Lăng Cô ( hay còn gọi là đầm Lập An hoặc
vụng An Cư), có tọa độ địa lý vào khoảng 108002‟ - 108005‟ kinh Đông và
16012‟ - 16015‟ vĩ Bắc. Nó có dạng như túi nước ăn sâu vào trong đất liền với
diện tích khoảng 1.600ha. Đầm trao đổi nước với biển qua cửa Lăng Cô. Đầm
này không có sông lớn đổ nước vào mà chỉ nhận nước từ các khe suối nhỏ ở
phía Tây và Tây Nam.


20

3.1.2. Đặc điểm khí hậu
3.1.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những điều kiện sinh thái quan trọng cần thiết
đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Sự phân bố của nhiệt độ phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, đặc biệt phụ thuộc vào vị trí địa lý, địa hình và thời gian.
Biến trình nhiệt độ không khí trong năm thuộc vùng nhiệt đới gió mùa.
Đó là biến trình đơn gồm một cực đại vào mùa Hè và một cực tiểu vào mùa
Đông. Cực tiểu xuất hiện vào tháng I, với nhiệt độ trung bình tháng khoảng
200C ở vùng đồng bằng và dưới 180C ở vùng núi từ 500m trở lên. Cực đại xảy
ra vào tháng VI hoặc tháng VII, với nhiệt độ trung bình tháng trên 29 0C ở
vùng đồng bằng ven biển và khoảng 250C ở vùng núi cao trên 500m [24].
Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng mùa Đông lớn hơn giữa
các tháng mùa Hè. Từ tháng III đến tháng IV nhiệt độ tăng nhanh nhất, trong
khi đó tháng XI đến tháng XII nhiệt độ lại giảm nhanh nhất. Mức tăng của
nhiệt độ tương đương với mức giảm của nhiệt độ và đạt cực đại vào thời kì
chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam và ngược lại. Tuy
nhiên, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng cũng không vượt quá 30C [4].
3.1.2.2. Nắng

này để dịch chuyển theo hướng Tây. Mặc dù gió có những thay đổi hướng,
chúng vẫn có tên gọi chung là gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc kéo dài
từ tháng IX đến tháng II năm sau mang theo nhiều không khí lạnh và mưa ở
phía Bắc tràn về, làm giảm nhiệt độ của không khí và nước. Tốc độ gió của
vùng đồng bằng không lớn, bình quân 1,5m/s, tháng XII có gió mạnh nhất đạt
chỉ số trung bình trong tháng (ở Huế) là 3,1m/s. Trong cơ chế gió mùa Đông,
ngay trong những tháng giữa mùa thỉnh thoảng cũng xuất hiện những hướng
gió trái mùa như gió Nam hoặc gió Tây Nam với tần xuất nhỏ. Xen kẽ vào hai
đợt gió mùa Đông Bắc là những ngày gió Đông hoặc Đông Nam [16], [24].


22

* Gió mùa Hè:
Mùa Hè ở Thừa Thiên Huế thịnh hành gió Tây Nam. Gió Tây Nam vốn
là luồng không khí có hàm lượng ẩm cao đem lại nhiều mưa ở Tây Trường
Sơn. Khi luồng gió vượt qua dãy núi Trường Sơn đã mất tính chất ban đầu
của nó và trở thành luồng gió khô, nóng tràn vào trong tỉnh, làm độ ẩm không
khí giảm thấp. Trong các năm của thập kỷ 90, các tháng mùa Đông (từ tháng
X đến tháng I năm sau) là không có gió mùa khô nóng. Còn lại tháng nào
cũng gặp loại gió này. Tốc độ gió mạnh chủ yếu tập trung vào ba tháng IV, V
và tháng VI. Bình quân đạt 1,5m/s, lớn nhất là 19m/s [16], [24].
Ngoài luồng gió Tây Nam, trong mùa Hè còn có những luồng gió khác
thổi xen kẽ mà tần số của chúng cũng đáng kể. Chẳng hạn như gió mùa Đông
hoặc Đông Nam. Chính những luồng gió xen kẽ này thổi từ biển Đông vào
mà làm khí hậu trở nên mát mẻ sau những đợt gió mùa Tây Nam khô nóng
khác [16].
Bão: Theo dõi sự hoạt động của bão ở khu vực Thái Bình Dương và biển
Đông cho thấy bình quân hàng năm ở Việt Nam có hơn 10 cơn bão. Hướng di
chuyển của nó trên biển Đông thường là theo hướng Tây - Tây Bắc. Tiến vào

thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa và mùa ít mưa [24].
Ở Thừa Thiên Huế không có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa mưa và
mùa khô, mà chỉ có mùa mưa nhiều và mùa mưa ít. Mùa mưa là thời kì có
lượng mưa tháng trên 100mm với tần suất 75%. Điều đó có nghĩa là ngoài chỉ
tiêu định lượng (100mm) còn quy định tính ổn định của lượng mưa (tần suất
xuất hiện => 75%). Mặt khác, Thừa Thiên Huế tồn tại 2 vùng có chế độ mưa
khác nhau: Vùng núi Nam Đông, A Lưới và vùng đồng bằng ven biển. Ở
vùng đồng bằng ven biển mùa mưa bắt đầu từ tháng IX, kết thúc vào tháng I
năm sau, kéo dài khoảng 5 tháng. Mùa ít mưa kéo dài từ tháng II đến tháng
VIII. Ở vùng núi và gò đồi mùa mưa bắt đầu từ tháng VI hoặc tháng VII, kết


24

thúc vào tháng I năm sau, kéo dài 7 hoặc 8 tháng. Mùa ít mưa kéo dài từ
tháng II đến tháng V hoặc tháng VI [24].
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có lượng mưa nhiều nhất
nước ta. Lượng mưa trung bình hàng năm trong toàn tỉnh đều trên 2700mm,
có nơi trên 4000mm như Bạch Mã, Thừa Lưu. Do sự tác động của địa hình và
hoàn lưu khí quyển, nên hình thành hai trung tâm mưa lớn:
- Trung tâm mưa lớn thứ nhất là khu vực Bạch Mã, Thừa Lưu, Nam
Đông, Phú Lộc với lượng mưa năm ở đây dao động trong khoảng 3400 4000mm, có năm trên 5000mm. Đặc biệt năm 1980 ở Bạch Mã là 8664mm.
- Trung tâm mưa lớn thứ hai chịu ảnh hưởng của dãy Trường Sơn nằm
trong huyện A Lưới, Phong Điền có lượng mưa hàng năm trên 3400mm, năm
mưa nhiều nhất cũng vượt 5000mm, như tại A Lưới năm 1990 đo được là
5086mm, 1996: 6304mm, 1999: 5909mm [24].
Vùng ít mưa nhất là vùng đồng bằng phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên
Huế, lượng mưa ở đây dao động trong khoảng 2700 - 2800mm/năm. Tuy
nhiên, những năm mưa nhiều có thể lên trên 3500mm như năm 1987, 1981 và
năm 1998. Riêng năm 1999 ở Huế đo được 5641mm, Phú Ốc (Hương Trà) là

thủy triều thuộc loại bán nhật không đều, hầu hết số ngày trong tháng là bán
nhật triều với độ lớn trung bình 0,6 - 1,2m và giảm dần về phía Nam. Vùng
ven bờ lân cận cửa Thuận An thuộc chế độ bán nhật triều đều, nơi đây có dao
động thủy triều nhỏ nhất so với toàn vùng ven bờ nước ta. Biên độ dao động
ngày của mực nước tại trạm Thuận An chỉ khoảng 35 - 50cm. Xa dần vùng
cửa Thuận An về Nam biên độ dao động triều đều tăng dần. Ở khu vực cửa
Tư Hiền biên độ triều lớn hơn, đạt 55 - 100cm. Khu vực phía Nam Thừa
Thiên Huế, thủy triều chuyển sang bán nhật triều không đều với 20 - 25 ngày
bán nhật triều/tháng và biên độ dao động kỳ nước cường 80cm. Tại khu vực
Chân Mây biên độ trung bình là 70cm, cực đại 145cm và cực tiểu 20cm [24].


Trích đoạn PHÂN BỐ CỦA CÁ THEO KHÔNG GIAN BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ NÓC THEO THỜI GIAN QUAN HỆ GIỮA THÀNH PHẦN LOÀI CỦA BỘ CÁ NÓC Ở VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ VỚI MỘT SỐ VÙNG BIỂN TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI 6.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ NÓC TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁ NÓC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status