Header Page 1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
TĂNG THỊ THU
ĐA DẠNG SINH HỌC BỘ PHÙ DU (EPHEMEROPTERA)
Ở Á ĐAI 300-600M TẠI VƢỜN QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI, 2016
Footer Page 1
Header Page 2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS.Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ
giảng dạy tổ Động vật, Khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội
2, đã tận tình hƣớng dẫn và đƣa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời gian
tôi thực hiện đề tài này.
Đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ
nhiệm Khoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học Sƣ
Phạm Hà Nội 2, những ngƣời đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận
Header Page 4
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du trên thế giới ........................................ 3
1.2. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Việt Nam ......................................... 7
1.3. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào
Cai ............................................................................................................... 11
1.4. Một số đặc điểm tự nhiên của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào
Cai ............................................................................................................... 12
141
t
142
a h nh .......................................................................................... 13
1.4.3.
a ch t và th nh
144
3.3. Phân bố của bộ Phù du theo mùa .......................................................... 34
3.4. Phân bố bộ Phù du theo tính chất của thủy vực .................................... 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 45
1. Kêt luận .................................................................................................... 45
2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 47
PHỤ LỤC
Footer Page 5
Header Page 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2. Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm thu mẫu thuộc Vƣờn quốc
gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai .......................................................................... 17
Bảng 2.3. Quan hệ giữa giá trị chỉ số Shannon- Weiner (H’) và mức độ đa
dạng ................................................................................................................. 23
Bảng 3.1 Tổng hợp số lƣợng các bậc phân loại của bộ Phù du tại Vƣờn quốc
gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. ......................................................................... 24
Bảng 3.2. Loài ƣu thế, chỉ số DI và H’ ở mùa khô tại khu vực nghiên cứu ... 31
Bảng 3.3. Loài ƣu thế, chỉ số DI và H’ ở mùa mƣa tại khu vực nghiên cứu .. 32
Bảng 3.4. Số lƣợng các taxon thuộc các bậc phân loại của bộ Phù du ở mùa
khô và mùa mƣa tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai ...................... 35
Bảng 3.5. Thành phần loài bộ Phù du nƣớc tại khu vực nghiên cứu ............. 37
Bảng 3.6. Số lƣợng loài và số lƣợng cá thể bộ Phù du ở nơi nƣớc chảy và
nƣớc đứng ở mùa khô trên đơn vị diện tích 0,25 m2....................................... 42
Bảng 3.7. Số lƣợng loài và số lƣợng cá thể bộ Phù du ở nơi nƣớc chảy và
nƣớc đứng ở mùa mƣa trên đơn vị diện tích 0,25 m2 ..................................... 43
ấu trùng của Phù du sống hoàn toàn trong nƣớc, khi phát triển đầy đủ chúng
chuyển lên mặt nƣớc và vũ hóa bƣớc vào giai đoạn trƣởng thành. Thời gian
sống của giai đoạn trƣởng thành ngắn hơn giai đoạn ấu trùng rất nhiều, có loài
chỉ tồn tại 1- 2 giờ sau khi vũ hóa. Con đực sẽ chết sau khi giao phối, còn con
cái chết sau khi đẻ trứng và giai đoạn trƣởng thành chủ yếu làm nhiệm vụ sinh
sản.
Thức ăn chủ yếu của ấu trùng Phù du là các chất mùn bã hữu cơ trong
thuỷ vực hoặc các loài thực vật thuỷ sinh đặc biệt là các loài tảo. Cũng có một
số loài Phù du ăn thịt tuy nhiên tỷ lệ các loài ăn thịt là không cao. Mặt khác
chúng lại là nguồn thức ăn của cá và nhiều nhóm động vật có xƣơng sống ở
nƣớc. Chính vì vậy, Phù du giữ một vị trí quan trọng trong hệ sinh thái. Bên
cạnh đó, do có đời sống chuyển từ nƣớc lên cạn và vòng đời ngắn nên chúng
đƣợc sử dụng là một đối tƣợng lý tƣởng trong các nghiên cứu về sinh học tiến
Footer Page 8
1
Header Page 9
hoá. Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây đã khẳng định Phù du là những sinh
vật rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trƣờng nƣớc nên chúng đang đƣợc
sử dụng làm sinh vật chỉ thị chất lƣợng môi trƣờng nƣớc. Với những ý nghĩa
thực tiễn nhƣ vậy nên Phù du đang đƣợc quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam.
Vƣờn quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam là
một trong những nơi có địa hình đa dạng và phức tạp với hệ thống khe, suối
đa dạng, đặc biệt là mạng lƣới các suối phân bố theo các đai cao và địa hình
khác nhau tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các loài thuộc bộ Phù
du. Á đai 300-600m là đai khí hậu nội chí tuyến gió mùa khô đến ẩm chân
sinh, Bao gồm những côn trùng tƣơng đối nguyên thuỷ. Hoá thạch đầu tiên
của bộ Ephemeroptera đƣợc tìm thấy ở kỷ Cacbon và kỷ Pecma thuộc đại Cổ
sinh cách đây ít nhất 250 triệu năm (Edmund, 1982; Dudgeon,1999) [21], [23]
Nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm
thấy ở Châu
u và xếp chúng vào một nhóm, ông đặt tên gọi là Ephemera.
Có thể xem đây là công trình đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu về
Phù du. [25].
Vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892) đã công bố hàng
loạt các công trình nghiên cứu Phù du của mình, đặc biệt là công trình “A
monograph on the Ephemeridae” đƣợc công bố năm 1871. Công trình đã cung
cấp những kiến thức cơ bản vềPhù du . Nghiên cứu đã mô tả các đặc điểm về
mặt hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trƣởng thành, những kiến thức này
rất hữu ích cho việc xây dựng khóa định loại đến các họ và giống của bộ Phù
du (Dẫn theo Nguyen, 2003) [32]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển
hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920,1924,1925,1932-1933) và
Navas (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự
(1935)(Dẫn theo Nguyen,2003)[32]. Edmunds (1963) đã xây dựng hệ thống
phân loại đến họ thuộc bộ Phù du trên toàn thế giới. Ông đã đƣa ra một bức
tranh tổng thể về khóa phân loại bậc cao cũng nhƣ nguồn gốc phát sinh của
Phù du[22]. Sau này, do sự phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nghiên cứu
về Phù du cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nên hệ thống phân loại của ông càng
ngày càng bị hạn chế. McCafferty et al.(1979), [26], đã bổ sung những dẫn
Footer Page 10
3
quả nghiên cứu chỉ dừng lại trên đối tƣợng thu đƣợc ở giai đoạn trƣởng thành.
Footer Page 11
4
Header Page 12
Cũng trong thời gian này, Ulmer (1932, 1933)cũng tiến hành nghiên cứu khu
hệ Phù du ở Trung Quốc. Ông đã thực hiện những nghiên cứu của mình trên
đối tƣợng ở giai đoạn ấu trùng của các loài Phù du, điều này đã bổ sung thêm
về thành phần loài của khu hệ Phù du ở Trung Quốc. Trên nền tảng đó, hàng
loạt các công trình nghiên cứu về Phù du ở Trung Quốc đƣợc thực hiện bởi
Wu (1986, 1987), You (1982, 1987), Zhang (1995), Zhou (1995)... (Dẫn theo
Nguyen,2003)[32].
Ulmer (1939), đã mô tả một số lƣợng lớn các loài Phù du ở đảo Sudan
(Indonesia), tài liệu này rất cần thiết cho việc nghiên cứu khu hệ Phù du ở
vùng Đông Nam Á. Tiếp sau đó, Gose (1985) đã tiến hành xây dựng khóa
định loại ấu trùng Phù du ở Nhật Bản. Trong những thập niên 90 của thế kỷ
XX, Bae và cộng sự (1994), Bae & Yoon (1997) đã xây dựng danh lục Phù du
ở Hàn Quốc ( Dẫn theo Nguyen, 2003) [32].
Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống
thuộc 18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffrty, 1991; McCaffrty &
Wang, 1997, 2000; Dudgeon, 1999) (Dẫn theo Nguyen,2003)[32]. Cho đến
nay, những nghiên cứu liên quan đến phân loại và hệ thống học về Phù du khá
tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng khoá phân loại chi tiết tới loài kể cả giai
đoạn ấu trùng và trƣởng thành. Hiện nay, hƣớng nghiên cứu của các quốc gia
này tập trung vào các vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồn các loài cũng nhƣ
các nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn của Phù du.
trong các thủy vực, trong khi các họ Oligoneuridae, Potamanthidae,
Polymitarcyidae và Prosopistomatidae lại có số lƣợng loài rất nhỏ, chẳng hạn
nhƣ họ Prosopistomatidae cho đến nay trên toàn thế giới chỉ có một giống
Prosopistoma với 3 loài (Dudgeon, 1999)[21]. Với dẫn liệu này, một lần nữa
khẳng định vai trò của điều kiện tự nhiên cũng nhƣ tính chất lí hóa của thủy
vực sống đối với sự phân bố của Phù du. Về khía cạnh ứng dụng, các nghiên
cứu ứng dụng của Phù du hiện nay tập trung vào việc dùng Phù du làm sinh
vật chỉ thị môi trƣờng. Quan tâm đến vấn đề này, có các công trình nghiên
cứu của Landa và Soldan (1991), Bufagni (1997). Khi nghiên cứu khía cạnh
này, các tác giả cho rằng việc sử dụng Phù du làm sinh vật chỉ thị dễ thực
hiện và có nhiều ƣu điểm. Hai ƣu điểm nổi bật là: thứ nhất có nhiều công
Footer Page 13
6
Header Page 14
trình nghiên cứu phân loại đã đƣợc thực hiện, nên việc định loại tới loài dễ
dàng hơn. Thứ hai là hầu hết các loài Phù du rất nhậy cảm với sự biến đổi của
môi trƣờng nên sự việc sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị sẽ mang lại những
hiệu quả thiết thực (Dẫn theo Nguyen, 2003)[32].
1.2. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ XX, các mô tả về Phù du
cũng đƣợc đề cập và quan tâm nghiên cứu. Mở đầu cho những nghiên cứu về
Phù du ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921), đã mô tả một loài
mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật đƣợc lƣu giữ ở bảo tàng
Pari (mẫu vật thu đƣợc ở miền Bắc Việt Nam). Ông đặt tên loài là Ephemera
duporti, do các loài thuộc giống Ephemera có kích thƣớc lớn, phân bố khá
tỉnh Hòa Bình đã mô tả một giống mới cho khoa học là Vietnamella (họ
Ephemerellidae) với loài chuẩn Vietnamella thani Tshernova. Sau này, giống
Vietnamella tiếp tục đƣợc tìm hiểu và bổ sung bởi Allen (1980), McCafferty
&
Wang
(1997,
2000).
Một
vài
loài
thuộc
họ
Potamanthidae,
Neoephemeridae và Ephemerellidae đƣợc nghiên cứu bởi Bae và McCafferty
(1991, 1998); Aleen (1971). Cũng trong năm 1972, Tshenova công bố thêm
một giống mới là Asiatella (họ Ephemerallidae) với loài chuẩn là Asiatella
fermorata (Dẫn theo Nguyen, 2003)[32].
Braasch và Soldan (1979, 1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới
thuộc họ Heptageniidae thu đƣợc từ một số suối, cho khu hệ Ephemeroptera ở
Việt Nam, trong đó thành lập thêm 2 giống mới là Asionurus và
loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam cũng nhƣ vƣờn quốc
gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là: Platybaetis edmundsi Muller - Liebenau,
1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella albostriata
Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000;
Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes
trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis
cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [12].
Ngoài việc phân loại các loài thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về
sự phân bố của chúng theo độ cao của suối Thác Bạc.
Đặng Mỹ Tâm (2005), khi nghiên cứu về thành phần loài Phù du ở
Vƣờn quốc gia Tam Đảo đã xác định đƣợc 36 loài thuộc 24 giống và 8 họ.
Kết quả này so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Vịnh (2004), thì đã bổ sung
thêm 4 loài là: Serratelle sp, Caenis sp.2, Baetis sp.3, Labiobbaetis sp.2 cho
Vƣờn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh phúc [7].
Footer Page 16
9
Header Page 17
Nguyễn Văn Vịnh (2005), trong dẫn liệu bƣớc đầu về Phù du ở Vƣờn
quốc gia Ba Vì, Hà Tây, đã thu đƣợc 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ.Trong
đó, có một loài mới cho khoa học là Polyplocia orientalis. Trong nghiên cứu
này, tác giả cũng chỉ ra sự phân bố của các loài thuộc bộ Phù du theo tính chất
dòng chảy ( chủ yếu là các loài thuộc họ Heptageniidae và Leptophlebiidae),
7 loài phân bố ở nói nƣớc đứng ( chủ yếu là các loài thuộc họ Baetidae và
Caenidae) và 4 loài bắt gặp nơi nƣớc đứng và nƣớc chảy[16].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2007), trong kết quả bƣớc đầu điều tra
Caenidae với 1 giống và 2 loài. Các họ Teloganodidae, Polymitacrydae,
Neoephemeridae, Isonychiidae và Austremerellidae mỗi họ có 1 giống, 1 loài.
Bên cạnh nghiên cứu đa dạng về loài, các tác giả còn nghiên cứu về phân bố
của Phù du theo tính chất dòng chảy ở khu vực nghiên cứu[18]
So với nhiều bộ Côn trùng nƣớc khác, Phù du ở Việt Nam đã đƣợc
nghiên cứu một cách có hệ thống và khá đầy đủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu
về Phù du ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu đa dạng về loài
và phân loại học dựa vào hình thái ngoài của giai đoạn ấu trùng. Các nghiên
về phân bố của Phù du đã đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣng còn ít và tản mạn,
đặc biệt là các nghiên cứu phân bố của Phù du theo mùa vẫn chƣa đƣợc quan
tâm nghiên cứu nhiều.
1.3. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh
Lào Cai.
Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, là
một trong những nơi có địa hình đa dạng và phức tạp, với nhiều núi cao và hệ
thống suối tự nhiên dày đặc, do vậy rất phù hợp cho sự tồn tại và phát triển
của bộ Ephemeroptera. Ở Việt Nam nói chung và Vƣờn quốc gia Hoàng Liên
nói riêng cho đến nay những nghiên cứu về Ephemeroptera còn rất tản mạn.
Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2005, 2006, 2007), đã công bố một
số dẫn liệu ban đầu về bộ Phù du ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai.
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi điều tra thành phần loài thuộc bộ Phù du
tại suối Mƣờng Hoa thuộc Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai, đã xác
định đƣợc 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ. Trong số 53 loài thu đƣợc có 24
loài vẫn chƣa xác định đƣợc đầy đủ tên khoa học. Các loài này chủ yếu thuộc
họ
Baetidae,
Ephemerellidae,
Nhƣ vậy, các nghiên cứu về Phù du tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên,
tỉnh Lào Cai tập trung chủ yếu vào nghiên cứu về khu hệ và phân loại học, đã
bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng nhƣ xây dựng
các khóa định loại tới loài của tất cả các họ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về
phân bố Phù du theo tính chất dòng chảy,theo mùa vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu
1 cách đầy đủ.
1.4. Một số đặc điểm tự nhiên của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào
Cai
Theo kết quả báo cáo của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên về Dự án Bảo vệ và
phát triển rừng, ổn định dân cƣ tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên giai đoạn
2010- 2015; Báo cáo xác định vùng đệm Vƣờn quôc gia Hoàng Liên, tỉnh
Footer Page 19
12
Header Page 20
Lào Cai[19], [20] và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008)[10].
Điều kiện tự nhiên của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai có những nét
cơ bản sau:
Vƣờn quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, có
vị trí địa lý từ 22009’- 23030’ độ vĩ Bắc và 103000- 103059’ độ Kinh Đông.
Về địa giới hành chính gồm 6 xã: San Sản Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ,
Mƣờng Khoa, Thân Thuộc thuộc huyện Sa Pa và huyện Than Uyên, tỉnh Lào
Cai. Diện tích vƣờn quốc gia là 51.800 ha. Trong đó vùng l i là 29. 845 ha, là
phần cuối cùng của dãy Himalaya chạy dọc sông Hồng theo hƣớng Tây BắcĐông Nam.
Hoàng Liên là một hệ thống các đỉnh núi cao trên 2000 m chạy theo
hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Đặc biệt ở Vƣờn quốc gia có đỉnh núi
85%, tháng mƣa ít nhất trung bình cũng đạt 20 - 30 mm. Tổng bức xạ mặt trời
có chỉ số phổ biến từ 100-135 Kcal/cm2/năm. Nhiệt độ không khí trung bình
năm từ 13 - 21 C, lớn ở sƣờn Tây, nhỏ ở sƣờn Đông. Nhiệt độ cao đạt đỉnh
vào tháng 6 - 7 có chỉ số 16 - 25 C. Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12 và
tháng 1, nhiều năm xuống dƣới 5 C. Vào mùa đông thƣờng có băng giá và
tuyết rơi đôi khi có thể xuống dƣới -3 C. Lƣợng mƣa phân bố không đều giữa
các tháng trong năm, đặc biệt vào các tháng mùa h , lƣợng mƣa tƣơng đối cao.
Mùa mƣa bắt đầu từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 10, trong đó có hai tháng có
lƣợng mƣa lớn nhất là tháng 7 ( 454,3 mm) và tháng 8 ( 453,8 mm). Vào mùa
đông, do nhiệt độ hạ thấp, hạn chế lƣợng bay hơi nƣớc, vì vậy, đây là khoảng
thời gian mƣa ít nhất trong năm, lƣợng mƣa trung bình trong tháng khoảng
50-100 mm, thấp nhất vào tháng 12 (63,6 mm) nhƣng do nhiệt độ thấp nên
thấy rằng khu vực Hoàng Liên không có tháng nào khô. Lƣợng ẩm không khí
ở khu vực Hoàng Liên tƣơng đối cao, trung bình năm khoảng 86%. Tháng có
Footer Page 21
14
Header Page 22
độ ẩm lớn nhất là tháng 9 và tháng 11 với giá trị 90%, tháng có độ ẩm nhỏ
nhất là tháng 4 có giá trị 82 %( Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) .
Ngoài những yếu tố thời tiết chung, Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên còn có
những hiện tƣợng thời tiết đặc biệt nhƣ: sƣơng mù, băng giá, mƣa phùn,
giông, sƣơng muối, tuyết… Trong đó sƣơng mù và mƣa phùn là hai hiện
tƣợng thời tiết phổ biến ở Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên, thƣờng xuất hiện vào
những tháng mùa đông xuân từ tháng 11 đến tháng 3 của năm sau. Giông và
mƣa đá là hai hiện tƣợng thời tiết thƣờng xảy ra vào mùa hạ. Tuyết và sƣơng
Chƣơng 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu đƣợc thực hiện từ tháng 09/2015 đến
tháng 05/2016. Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu đƣợc thực hiện ở hai đợt
điều tra ngoài thực địa. Các điểm điều tra thuộc khu vực Vƣờn quốc gia
Hoàng Liên tỉnh Lào Cai.
Đợt 1 đƣợc tiến hành từ ngày 27/05/2013 đến ngày 31/05/2013 (thuộc
mùa mƣa).
Đợt 2 đƣợc tiến hành từ ngày 24/10/2013 đến ngày 29/10/2013 (thuộc
mùa khô).
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên đƣợc bảo quản và lƣu trữ tại phòng
thí nghiệm Đa dạng sinh học, Bộ môn Động vật không xƣơng sống, Khoa Sinh
hoc, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 9 điểm nghiên cứu thuộc hệ thống suối
chính của Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai và các điểm thu mẫu đƣợc
đánh số thứ tự từ S1 đến S9. Trong quá trình thu mẫu các thông số về sinh
cảnh tại mỗi điểm thu mẫu đều đƣợc ghi đầy đủ (Bảng 2.2).
Footer Page 23
16
Header Page 24
Bảng 2.2. Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm thu mẫu thuộc
Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Suối Nậm Cang
S2
1
(220 13,085’; của suối chủ yếu là đá nhỏ và
1030 01,659’) trung bình, ít đá tảng lớn. Suối ít
mùn bã thực vật. Độ che phủ 0-
(xã Nậm Cang)
5%. Nƣớc suối tƣơng đối trong.
Lòng suối rộng.
532
Hai bên suối là ruộng canh tác của
Suối Nậm Cang (220 14,362’; ngƣời dân. Nền đáy của suối chủ
S3
2
1040 00,457’) yếu là đá nhỏ và trung bình. Nƣớc
chảy tƣơng đối mạnh. Độ che phủ
(xã Nậm Sài)
0-5%.
Suối Nậm Cang
S4
vƣờn cây. Lòng suối rộng. Độ che
phủ 0-2%.
Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ và
417
S6
Suối Lave 1
(220 15,725’; trung bình. Suối bị tác động mạnh
(xã Bản Hồ)
1030 58,067’) của ngƣời dân trong sinh hoạt
hằng ngày. Độ che phủ 0-5%.
Nền đáy chủ yếu là đá tảng cõ
404
S7
Mƣờng Hoa
(xã Bản Hồ)
(220 15,956’; lớn. Ven bờ có nhiều cây bụi nhỏ.
1030 58,048’) Suối bị tác động mạnh của ngƣời
dân trong việc khai thác sỏi, cát.
Độ che phủ thấp 0-2%.
Nền đáy của suối chủ yếu là đá có
18