i
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN NĂM
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG
CỦA MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC
VẬT Ở VƢỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN
TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Nguyễn Văn Năm ii
Số hóa bởi trung tâm học liệu
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp này cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS. Đàm Văn Vinh phó Trưởng khoa Lâm
nghiêp và các thầy giáo, cô giáo Khoa Lâm nghiệp, Phòng quản lý sau đại học
Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ công nhân viên của Vườn
Quốc gia Hoàng Liên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra, nghiên
cứu, thu thập số liệu tại hiện trường và kế thừa các số liệu sẵn có để hoàn thành tốt
luận văn.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận
văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
1.2.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam 13
1.3. Nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật VQG Hoàng Liên 15
1.3.1. Nghiên cứu về thảm thực vật ở VQG Hoàng Liên 15
1.3.2. Nghiên cứu về hệ thực vật ở VQG Hoàng Liên 15
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu 16
1.4.1. Điều kiện tự nhiên VQG Hoàng Liên 16
1.4.1. 1. Vị trí địa lý 16
1.4.1.2. Địa hình, địa mạo: 16
1.4.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng 17
1.4.1.4. Khí hậu 18 iv
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1.4.1.5. Thuỷ văn 19
1.4.1.6. Tài nguyên rừng và phân loại thảm thực vật rừng 20
1.4.1.7. Hiện trạng rừng và sử dụng đất 22
1.4.2. Đặc điểm Kinh tế - Xã hội các xã trong vùng lõi VQG Hoàng Liên 23
1.4.2.1. Dân tộc, dân số và lao động 23
1.4.2.2. Lao động và tập quán 24
1.4.2.3. Văn hoá xã hội 24
1.4.2.4. Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng 25
1.4.2.5. Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 26
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Nội dung nghiên cứu 27
2.1.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 27
2.1.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 27
2.1. 3. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc rừng 27
2.1.4. Đề xuất một số giải pháp để phục vụ cho công tác bảo tồn bền vững tài
3.1.3.2. Phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn (N/Hvn) 59
3.1.4. Quy luật tương quan đường kính 1,3m và chiều cao vút ngọn (H/D) 65
3.2. Đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 69
3.2.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh 69
3.2.2. Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao 71
3.2.3. Mật độ cây tái sinh theo phẩm chất 72
3.2.4. Mật độ cây tái sinh theo nguồn gốc. 74
3.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc thảm thực vật rừng 74
3.3.1. Nhân tố Tự nhiên 74
3.3.1.1. Nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến cấu trúc tầng thứ: 75
3.3.1.2. Nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến cấu trúc chiều cao quần xã thực vật 76
3.3.1.3 Nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự biến đổi thành phần loài thực vật
của quần xã thực vật 77
3.3.2. Nhân tố xã hội 78
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại khu vực
nghiên cứu 80
3.4.1. Chương trình hành động 80
3.4.2. Các giải pháp cụ thể 82
3.4.2.1. Quy hoạch Bảo tồn và phát triển bền vững VQG Hoàng Liên 82
3.4.2.2. Nâng cao nhận thức về tài nguyên thiên nhiên và luật quản lý bảo vệ rừng . 82
3.4.2.3. Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 83 vi
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3.4.2.4. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ 83
3.4.2.5. Làm tốt công tác PCCCR 84
3.4.2.6. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế 85
3.4.2.7. Giải pháp ổn định dân số 86
NL/D1.3
:
Phân bố số loài theo cỡ đường kính
NL/Hvn
:
Phân bố số loài theo cỡ chiều cao
Hvn/D1.3
:
Tương quan giữa chiều cao vút ngọn với đường kính tại 1,3m
OTC
:
Ô tiêu chuẩn
ODB
:
Ô dạng bản
N%
:
Tỷ lệ phần trăm mật độ
G%
:
Tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang
IV%
:
Chỉ số quan trọng loài
TTR
:
Trạng thái rừng
Dbq
:
Đường kính bình quân
viii
Số hóa bởi trung tâm học liệu
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Thống kê diện tích các loại đất, loại rừng VQG Hoàng Liên 22
Bảng 2.1 - Ký hiệu độ nhiều của thực bì theo Drude 30
Bảng 3.1: Tổ thành và mật độ rừng Nghèo. 38
Bảng 3.2: Tổ thành và mật độ rừng Trung bình 39
Bảng 3.3: Tổ thành và mật độ rừng Giàu xã San Sả Hồ 40
Bảng 3.4: Tổ thành và mật độ rừng Pơ mu xã Tả Van 41
Bảng 3.5: Tổ thành và mật độ
rừng lùn xã San Sả Hồ.
43
Bảng 3.6 : Tổ thành và mật độ rừng Vân sam
xã San Sả Hồ.
44
Bảng 3.7: Tổ thành và mật độ rừng Trúc lùn
xã San Sả Hồ. 45
Bảng 3.8: Kết quả tính một số tham số D1.3 ở IA2c 47
Bảng 3.9: Kết quả tính một số tham số D1.3 ở IA2d 49
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibull rừng Nghèo xã San Sả Hồ 54
Hình 3.2: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibullrừng Trung bình xã San Sả Hồ 54
Hình 3.3: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibull rừng giàu xã San Sả Hồ 55
Hình 3.4: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibull
rừng Pơ mu xã Tả Van 55
Hình 3.5: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibull rừng Lùn xã San Sả Hồ 56
Hình 3.7: Phân bố N/D
1.3
theo hàm Weibull rừng Trúc lùn xã San Sả Hồ 57
Hình 3.9: – IA2d 58
Hình 3.10: 59
Hinh 3.11: Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull rừng Nghèo xã San Sả Hồ 61
Hình 3.12 : Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull rừng Tbình xã San Sả Hồ 61
Hình 3.13: Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull rừng giàu xã San Sả Hồ 62
Hình 3.14: Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull rừng Pơ mu xã Tả Van 62
Hình 3.15: Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull rừng Lùn xã San Sả Hồ 63
Hình 3.17: 2c 64
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, đến năm 2010, ở nước ta đã thành lập 164
khu rừng đặc dụng trên toàn quốc với tổng diện tích quy hoạch gần 2,2 triệu ha,
trong đó hơn 1,94 triệu ha là diện tích có rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên, do nhà
nước trực tiếp quản lý. Với mục đích bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên đa dạng sinh
học quan trọng, quý hiếm, đặc hữu, hệ thống rừng đặc dụng đã và đang được nhà
nước đầu tư bảo vệ chặt chẽ và nghiêm ngặt. Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng
của đói nghèo, sinh kế, ưu tiên phát triển kinh tế và thị trường (lâm sản và động vật
hoang dã), rừng đặc dụng thường xuyên phải chịu đựng áp lực bởi hoạt động khai
thác trái phép, phát triển cơ sở hạ tầng (như giao thông, thủy điện, khoáng sản, du
lịch) và chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng. Chất lượng rừng và đa dạng
sinh học thuộc hệ thống rừng đặc dụng trên cả nước đã được cảnh báo đang suy
giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các điểm nóng phá rừng ở nhiều VQG, khu bảo tồn.
Vấn đề đặt ra cho các nhà làm công tác lâm nghiệp là làm thế nào để tìm ra
giải pháp cho công tác quản lý diện tích rừng đặc dụng hiệu quả. Thực tiễn đã
2
Số hóa bởi trung tâm học liệu
chứng minh rằng các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết
thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái
rừng. Do đó nghiên cứu cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các
nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ
thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý bền vững.
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng chủ yếu tập trung vào
đối tượng là rừng trồng, rừng phòng hộ. Các công trình nghiên cứu về cấu trúc và
tái sinh của thảm thực vật trong rừng đặc dụng còn ít. Vì vậy các giải pháp nhằm
bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giá trị đa dạng sinh học ở diện tích rừng đặc dụng
còn thiếu cơ sở khoa học, chưa thực sự hiệu quả.
- Xác định một số đặc điểm cấu trúc rừng trong một số trạng thái thảm thực
vật rừng tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất
các giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên VQG Hoàng Liên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định một số đặc điểm cấu trúc rừng và mô phỏng quy luật phân bố, mối
tương quan giữa các nhân tố điều tra.
- Đánh giá một số nhân tố tác động ảnh hưởng đến cấu trúc rừng và giá trị đa
dạng sinh học.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên VQG
Hoàng Liên.
3. Đối tƣợng và thời gian nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật tầng cây cao VQG Hoàng
Liên theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973). Đề tài chỉ nghiên
cứu tổ thành loài, một số tham số thống kê và chỉ chọn một số nhân tố sinh trưởng
ảnh hưởng đến cấu trúc rừng để nghiên cứu quy luật như: số cây theo cấp đường kính
(N/D
1.3
), số cây theo cấp chiều cao (N/H
vn
), số loài cây theo cấp kính(N
Loài
/D
1.3
), số loài
theo cấp chiều cao (N
Loài
/H
vn
). Nghiên cứu tái sinh rừng tập trung xác định: Tổ thành
cây tái sinh, mật độ cây tái sinh, phân bố theo cấp chiều cao, chất lượng và nguồn gốc
vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung
gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [59].
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít.
Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật
rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt
đới Châu Á đầu tiên trên thế giới). Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt
Nam được chia thành 10 kiểu [56].
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật
rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các
quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil.
Trần Ngũ Phương (1970) [33] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt
Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á
nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.
5
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Thái Văn Trừng (1978) [46] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ
kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và
những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật. Năm 1975,
trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực
vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật
rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm
thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay.
Phan Kế Lộc (1985) [27] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng
đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ,
15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau. Nguyễn Nghĩa Thìn
(1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông.
dạng cấu trúc: cấu trúc hình thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
* Về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D
1.3
)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật kết cấu cơ bản
của lâm phần và đã được nhiều nhà lâm học nghiên cứu từ những năm đầu của thế
kỷ 20. Để nghiên cứu mô tả quy luật này, hầu hết các tác giả đã dùng phương pháp
giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều phân bố xác suất khác
nhau. Phải kể đến các công trình như sau:
Meyer (1952), đã mô tả phân bố N/D
1.3
bằng phương trình toán học có dạng
đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay gọi là hàm Meyer.
Richards P.W (1952) [51] trong cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” cũng đề cập đến
phân bố số cây theo cấp đường kính, Ông coi dạng phân bố là một dạng đặc trưng
của rừng tự nhiên.
Tiếp đó nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của
đường cong phân bố. Bally (1973) sử dụng hàm Weibull, Schiffel (theo Phạm Ngọc
Giao, (1997) [10] biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc
ba. Prođan.M và Patatscase (1964), Bill và Kem k.A (1964) đã tiếp cận phân bố này
bằng phương trình logarit chính thái. Diatchenko Z.N (theo Phạm Ngọc Giao, 1997)
[10] sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần
Thông ôn đới. Đặc biệt, để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm
khác như Loetsch (1973) (theo Phạm Ngọc Giao, (1997) [10] dùng hàm Beta để
nắm phân bố thực nghiệm, J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên
cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm
Weibull mô phỏng phân bố N/D
1.3
. Nhiều tác giả khác dùng hàm Hepesbol, hàm
Poisson, hàm Logarit chuẩn, hàm Pearson.
tượng này khi ông xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác nhau.
Curtis.R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính (D)
và tuổi (A) theo dạng phương trình:
Ad
b
A
b
d
bdLogh
111
321
(1.1)
Krauter.G (1958) và Tiourin.A.V (1932) nghiên cứu tương quan giữa chiều
cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi. Kết quả cho
thấy, khi dãy phân hoá thành các cấp chiều cao, thì mối quan hệ này không cần xét
đến cấp đất hay cấp tuổi. Vì những nhân tố này đã được phản ánh trong kích thước
8
Số hóa bởi trung tâm học liệu
của cây, nghĩa là đường kính và chiều cao trong quan hệ đã bao hàm tác động của
hoàn cảnh và tuổi.
Như vậy, biểu thị sự tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây có
thể sử dụng nhiều dạng phương trình. Việc sử dụng phương trình nào cho thích hợp
nhất cho từng đối tượng thì chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nói chung, để biểu
đường cong chiều cao thì tùy vào đặc điểm loài cây mà sử dụng một dạng phương
trình thích hợp, dạng phương trình thường được sử dụng là dạng phương trình
Số hóa bởi trung tâm học liệu
kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) [61] đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn
đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của
cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau.
Richards P.W (1952) [51] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng
bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong khi thống kê
tái sinh tự nhiên Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chuẩn
đoán” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển
của cây tái sinh. Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á
như Bara (1954), Budowski (1956) có nhận định dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói
chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm
sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh là cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện
pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể.
Van Steenis (1956)[61] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng
nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai đặc
điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện
tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên,
nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ,
cây bụi thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N (1952, 1964) [2] cho rằng,
trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
con, sự nảy mầm và phát triển của cây nảy mầm thì ảnh hưởng là không rõ ràng.
Ngoài ra các tác giả nhận định: Thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của cây tái sinh. Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi
kém phát triển nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh. Đối với rừng nhiệt đới
số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Số
lượng loài cây có giá trị về kinh tế không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan
trọng. Vì vậy khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy đủ tất
cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá chính xác tình
cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C).
Trong những năm gần đây, do có sự hỗ trợ của các phần mềm toán học thống
kê, nên có rất nhiều công trình nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là
các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Phạm Minh Nguyệt (1994) [32] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc
rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ. Cấu trúc thích hợp tức là
mọi tầng cây đều phát triển tốt. Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh
doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp
nhàng. Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho
cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu. Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm
tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu
dài.
Nguyễn Văn Trương (1982) [48] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được
đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn. Ông cho rằng nếu áp dụng
11
Số hóa bởi trung tâm học liệu
chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng
thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng.
Vũ Đình Phương (1987)[34] trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên
ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh
rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của
rừng. Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng,
nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu
trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là
c
12
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Phạm Ngọc Giao (1997) [10] khi nghiên cứu quy luật N/D cho Thông đuôi
ngựa vùng Đông Bắc đã chứng minh tính thiết ứng của hàm Weibull và xây dựng
mô hình cấu trúc đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa.
Lê Sáu (1996)[53] đã dùng phân bố weibull để mô phỏng cho hầu hết các
phân bố thực nghiệm như phân bố N/D
1.3
ở các ô tiêu chuẩn cho kết quả tốt.
* Về phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ Hiển (1974) [19] cho thấy, phân bố
số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường
có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn. Thái Văn Trừng
(1978) [46] trong nghiên cứu của mình đã đưa ra kết quả nghiên cứu cấu trúc của
tầng cây gỗ rừng loại IV.
Bảo Huy (1993) [22], Đào Công Khanh (1996)[24], Lê Sáu (1996)[53], Trần
Cẩm Tú (1999) [50] đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây, các tác
giả đã đi đến nhận xét chung là phân bố N/H có dạng một đỉnh, nhiều đỉnh phụ răng
cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull.
* Nghiên cứu quy luật tƣơng quan giữa chiều cao với đƣờng kính
Đã có rất nhiều tác giả đề cập mối quan hệ tương quan giữa chiều cao vút
ngọn với đường kính ngang ngực, tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau:
Đồng Sỹ Hiền (1974) [19] đã sử dụng phương trình logarit hai chiều hoặc
hàm mũ để mô tả H/D đồng thời cho thấy khả năng sử dụng một phương trình
chung cho cả nhóm loài cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau.
Vũ Đình Phương (1975, 1987) [34] cho rằng có thể lập biểu cấp chiều cao
lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình Parabol bậc 2 mà không cần phân biệt cấp
đất và tuổi.
Phạm Ngọc Giao (1997) [10] sử dụng phương trình logarit một chiều để mô
+ a
1
*d + a
2
*d
2
(1.15)
h = k*d
b
(1.16)
Phương trình được chọn là phương trình được sử dụng đơn giản, hệ số
tương quan cao nhất, sai số nhỏ nhất. Cuối cùng tác giả chọn hàm (1.14) để thể
hiện quan hệ giưa H/D cho các lâm phần Cao su
1.2.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam
Ở nước ta, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên, một số kết quả về nghiên cứu tái sinh
thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trong các báo
cáo khoa học.
Trong thời gian từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều Tra Quy Hoạch rừng đã
điều tra tình tái sinh tự nhiên theo các “Loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở
Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969), và Lạng Sơn (1969), đáng
chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964), bằng
phương pháp đo đếm điển hình. Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái
sinh, Vũ Đình Huề (1969, 1984) [21], đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5
cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là: trên
12000 cây/ha, 8000-12000 cây/ha, 4000-8000 cây/ha, 2000- 4000 cây/ha và dưới
2000 cây/ha. Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa
thể là hết sức cần thiết nhằm đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác.
Nhận xét chung: Nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả
đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp. Cấu
15
Số hóa bởi trung tâm học liệu
trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt. Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc
rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
1.3. Nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật VQG Hoàng Liên
1.3.1. Nghiên cứu về thảm thực vật ở VQG Hoàng Liên
Năm 1996, Trần Đình Lý [29] và cộng sự có công trình nghiên cứu thảm thực
vật và hệ thực vật vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, trong đó, về thảm thực vật, các tác
giả đã mô tả khu vực gồm:
Các quần hệ rừng nguyên sinh ít bị tác động:
Rừng rậm thường xanh cây lá rộng nhiệt đới gió mùa, núi thấp
Rừng rậm thường xanh mưa ẩm nhiệt đới gió mùa trên núi trung bình phát
triển trên đất ferralit vàng có mùn trên núi
Rừng rậm thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim phát triển trên đất
ferralit vàng có mùn trên núi ở độ cao 1800-2200.
Quần hệ rừng á nhiệt đới núi cao (rừng rêu)
Quần hệ các cây lùn đỉnh núi
Thảm thực vật thứ sinh
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [39], Nguyễn Quốc Trị (2007) [44] đã xác định hệ
thống thảm thực vật VQG Hoàng Liên gồm 13 Phân quần hệ, 10 quần hệ, 8 nhóm
quần hệ, 7 Phân lớp quần hệ thuộc 4 lớp quần hệ cùng với thảm nhân tác; về đa
dạng thực vật đã xây dựng thành công bản danh lục thực vật của VQG Hoàng Liên
gồm 2432 loài thuộc 898 chi, 209 họ thuộc 6 nghành.